ĐỌC…”TẦM XUÂN”

BÚT KÝ BÙI DUY TÂM Văn học - nghệ thuật

Bùi Duy Tâm

Giữa những ca cấp cứu thập tử nhất sinh, tôi có những khoảng thời gian trống để thư giãn. Loại truyện ngắn rất thích hợp cho việc này. Tôi để trên bàn, trước mặt tôi, hai tập truyện ngắn “Tầm Xuân” của Đặng Anh Đào và “Cánh Đồng Bất Tận” của Nguyễn Ngọc Tư với ý định đọc cả hai cuốn một lúc để thay đổi không khí.

Tôi đọc Nguyễn Ngọc Tư trước : Hơi văn miền Nam, còn gót rũa chau chuốt hơn Sơn Nam, ý truyện còn già dặn cần nhiều suy tư hơn “Hương Rừng Cà Mau” mặc dầu tác giả chưa đầy ba chục tuổi khi viết tập truyện này. Cũng như ăn một món bổ quá, không ăn nhiều một lúc được, tôi không thể đọc hơn một truyện liền nhau. Phải ngưng lại, bâng khuâng suy nghĩ và để cuốn sách sang một bên.

Cầm cuốn “Tầm Xuân” lên đọc. Rồi cũng bị gián đoạn do các cú điện thoại từ phòng cấp cứu như thường xuyên. Nhưng khi trỡ về văn phòng (lúc đó hoặc đã mệt rồi hoặc do sự chọn lựa của tiềm thức) tôi lại tiếp tục đọc “Tầm Xuân” cho đến trang cuối cùng mà không cần xen kẽ như dự định. Đọc Đặng Anh Đào nhẹ nhàng, tự nhiên và hấp dẫn hơn. Mỗi một truyện ngắn là một chuyện thật, không hư cấu, sây ra trong “đời thường” mà không “thường thường”.

– Một em bé lần đầu tiên thấy một con bê, tưởng là con chó và kêu ầm lên : “Con chó to quá”. Thật là dễ thương !

– Nửa đêm thấy cậu con trai biến mất trên giường, hốt hoảng chạy ra đường tìm thì bắt được cậu ta đang mê mãi bắt ve dưới gốc cây. Lại thêm một ngạc nhiên thích thú !

Tác giả tả người vắn tắt mà rất ấn tượng : “Dì Tân mặc áo tím Huế, búi tóc trễ, cổ đeo kiềng vàng”. Người đọc mường tượng ngay ra được một thiếu phụ miền Trung (áo tím Huế) vừa cổ kính (với chiếc kiềng vàng) vừa gợi cảm (với búi tóc trễ).

– Cậu Vàng lại có mấy cái răng vàng !… Cậu đội mũ phớt, mặc quần áo bà ba bằng lĩnh đen hay đũi trắng. Cậu đâu có bắt đầu bằng việc ốm tương tư, thở dài hay làm thơ tỏ tình vớ vẩn. Cậu bắt đầu bằng việc xin Thầy gả cô gái út cho cậu”. Khó có cảnh nào tả một người đàn ông miền Nam và cái phong thái của dân Nam Kỳ rõ nét hơn thế được.

– Tác giả chắc hẳn là tay thích ăn qùa vặt nên từ đầu đến cuối sách đều nói về các thứ qùa một cách tỉ mỉ mà ngắn gọn : “Đặc sản Nghệ An thì có: Bánh Mướt (giống như bánh cuốn Thanh Trì miền Bắc) Bánh Xèo (bột nếp nặn tròn, to bằng cái bánh trôi, trong có nhân tôm tươi đem rán lên, bánh dính vào nhau kết thành từng vỉ). Thứ Bánh Xèo Nghệ An này khác hẳn Bánh Xào miền Nam, bánh xèo Quảng và bánh Khoái Huế.

Tác giả đã phân loại các thứ kẹo mà gần đây đã gần như biến hẳn : Kẹo kéo, kẹo thuốc bào, kẹo vừng, kẹo bột, kẹo cau… Hạy nghe tác gỉa tả : “Người bán kẹo phải dùng cả mười ngón tay cứ cuốn đi giằng lại như các dì tôi ở quê guồng những cuộn tơ vàng óng. Những sợi thuốc bào thơm mùi đậu xanh”…

Qùa Sầm Sơn thì ít ai còn nhớ : Tác giả nhắc đến “Bánh cuốn nhân tôm làm bằng gạo gĩa tay hơi đỏ, bánh đa phết mật mía (tác giả quên mất bánh đa phết kê vàng) và đặc biệt nhất là “Bánh Rơm” làm bằng khoai lang thái chỉ, tẩm bột sắn, rán thành từng ổ sợi vàng ươm như tổ chim, trên có rắc đường”. Tác giả đã có một nhận xét rất tinh tế : “Gọi là món ăn nhưng thực chất là món ăn tinh thần. Bởi người ta ăn ngon chủ yếu là do kỷ niệm. Những món ăn thuở nhỏ là những thứ ngon nhất còn lại của cả đời người”.

Cùng với các bậc đàn anh : Thạch Lam (Hà Nội 36 phố phường), Nguyễn Tuân (Vang Bóng Một Thời, Phở…), Vũ Bằng (Miếng Ngon Hà Nội), Đặng Anh Đào đã đóng góp không nhỏ vào pho Tự Điển Ẩm Thực của Việt Nam.

Trong hồi ức đã được viết với một bút pháp đơn giản, nhẹ nhàng, hàm ý nhưng không mập mờ nước đôi, vài chữ đã bỏ dấu phẩy, vài dòng đã bỏ dấu chấm, người đọc đã không bao giờ phải nín thở để đọc hết một câu dài lòng thòng, để đọc đến chữ cuối thì quên mất chữ đầu. Nhưng không phải vì vậy mà hơi văn thành đơn điệu buồn tẻ. Tác giả đã chế ra những trạng từ rất lạ tai, rất ấn tượng làm người đọc nghe như thấy bên tai, như nhìn thấy trước mắt: “Đặc biệt là cái món thịt bò khô, anh chàng đi bán rao hàng bằng cách lắp xắp cái kéo, trên thang gỗ bầy đủ nước chấm, ớt, đu đủ xanh. Những sợi đu đủ màu ngọc thạch trắng, giòn, ớt đỏ và lá thơm xanh hợp thành một bức tranh tĩnh vật kiệt tác đối với tuổi học trò”.

– “Một cô dứ dứ ngón tay vào cô đan len : “Chỉ được cái bộ…”.

– “Dì đi đâu cũng có những anh chàng si tình lẵng nhẵng bám theo về đến tận cửa”.

Đôi khi cần thiết, tác giả không nề hà buông lời dữ dội : “Những ngày cuối năm 1972, thời gian bị xé nát thành từng mảnh bởi tiếng rú còi báo động, hoặc tiếng loa “Máy bay địch cách Hà Nội… cây số”. Nhưng thường thường tác giả hay dùng những chữ rất nôm na mộc mạc để điễn tả những suy nghĩ rất sâu sa hàm ý : “Người xưa nói rằng một đời người thoáng bay biến như bóng câu phi qua cửa sổ. Với hai chàng sinh viên, hẳn họ đang nhìn thấy cái đầu ngựa nhô lên, còn, với bác già tám mươi quắc thước ấy, hẳn là chỉ còn hút thấy cái vó sau. Nhưng bác vẫn như đang túm lấy đuôi nó mà hỏi : “Ây da, mày đi đúng lối chưa hả ?”.

– Khi phải viết về các nhân vật chính trị hay văn hoá, đi qua đời mình, tác giả đã nhẩy ra khỏi vòng công thức lề lối, lập trường, chính sách mà tung tăng tự nhiên, nhỏ nhẹ phát biểu ý kiến chân thật của mình, không cố tình bênh vực ai, đả phá ai : “Lúc ấy, Bác (HCM) thường hay đến chơi nhà với anh V (Văn, bí danh của tướng Võ Nguyên Giáp). Sau vài lần, ba tôi nhận xét : “Ông cụ thương và cưng anh V”. Trẻ con rất nhậy cảm với những chuyện đó, tôi cũng thấy như vậy nhưng không suy nghĩ gì thêm. Chỉ sau này khi đã già đi, nhớ lại mối cảm tình riêng ấy của Bác và so sánh với một vài người cán bộ cách mạng già dặn khác mà tôi được tiếp xúc : ở họ, hình như không có những cảm tình đặc biệt. Hoặc họ đã giấu nó đi vì ở họ nó không còn vô tư trong sáng hay họ đã từ bỏ nó vì coi đó là chỗ yếu của con người ? Tôi không rõ, nhưng cái đó làm tôi khó gần họ”.

– Dĩ nhiên, đúng như tên gọi, U em phải trẻ hơn U già. Nhưng không bao giờ có thể là “nàng” như những câu thơ Tố Hữu mà sau này, lớn lên tôi được đọc : “Nàng gửi con về nương xóm cũ”. U cũng không “gục đầu thổn thức trong bàn tay”.

– “Còn nhớ cái lần đầu tiên triển lãm tượng (của Điềm Phùng Thị) ở Tràng Tiền, một đứa cháu của tôi láo lếu bảo : “À, tượng như thế này, cháu làm được hàng đống”.

– “Vào tiết Thanh Minh, tôi mới lên thăm mộ mẹ tận Bất Bạt. Nhìn thấy cái đồi toàn những bia mộ bằng đá, một đứa cháu năm ấy vừa được đi xem triển lãm tượng của Điềm Phùng Thị, nên nó hỏi : “Sao lắm Điềm Phùng Thị thế ?”.

Hồi ức của một người sống trọn một nửa thế kỷ sôi động nhất trong lịch sử, đầy :

Vinh Quang (Điện Biên Phủ dưới đất 1954, Điện Biên Phủ trên không 1972). Và Chết Chóc (hàng triệu sinh mạng vì chiến tranh, hàng chục ngàn sinh mạng vì cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức…), tác giả đã mạnh dạn và công bằng đề cập tới cái đau thương, đáng tiếc hay khôi hài của thời đại, mặc dầu chỉ một thoáng qua, một cách hồn nhiên khách quan hay nhẹ nhàng châm biếm kiểu Lưu Quang Vũ :

– “Tôi xuống chỗ sơ tán dạy học, buổi trưa chỉ ăn hết bát cơm còn xuất “mì nắp hầm” làm bằng bột mì xấu được nước bạn viện trợ để nuôi lợn, thứ đó tôi đành biếu lợn chủ nhà. Buổi trưa, nằm nhớ con, tôi mở cái đài Orion bé tí và nghe thấy công bố con số Mỹ ngụy bị tiêu diệt tính hàng ngày, kể từ đầu cuộc chiến tranh. Tôi tự nghĩ, không hiểu sao bọn nó chết nhiều thế mà vẫn chưa kết thúc chiến tranh !”.

– “Sau này tôi mới gặp lại mự Nho (mợ Nho) lúc ánh mắt nhung đen đã bạc màu cát bụi thời gian. Cậu tôi gặp hoạn nạn trong cải cách ruộng đất, bị tù oan ức, rồi chết sớm, mự Nho gánh hết gánh nặng mẹ gìa con dại”.

– “Chuyện gia đình ông “dinh tê” giữa lúc ông đang làm Chủ tịch Thanh Hoá, tôi đã nghe ba tôi kể lại. Là Bác sĩ (Bác sĩ Lê Kiểu) ông khá giàu nhưng cũng đã cứu mạng cho nhiều người nghèo không lấy tiền. Giữa đêm khuya, một người nông dân mang ơn ông đã tới, nói ông phải đi ngay vì tên ông có trong danh sách “chỉnh đốn tổ chức”. Và thế là cả nhà ông vào thành”.

– “Vào cuối cuộc kháng chiến thứ nhất, những cuộc “cải tạo tư tưởng” diễn ra trong trường. Năm 1953 chúng tôi kéo nhau lên Rú Nghè để kiểm điểm tư tưởng. Tội nặng nhất là Yêu đương lãng mạn. Chúng tôi khóc lóc lên án nhau. Tổ trưởng học tập vung nắm đấm hô : “Lãng mạn là tự sát”. Tất cả hô :”Tự sát ! Tự sát!”.

– “Một ngày tháng ba năm 1953, có tin Stalin mất. Cả trường để tang. Bẩy ngày liền không được ca hát, nhẩy múa. Hồi đấy chúng tôi không có gì giải trí ngoài hát và múa tập thể. Lúc bấy giờ nghe tin sét đánh (Stalin đã chết), chúng tôi đau đớn thật sự, nhưng nhiều lúc tôi cũng phải kìm mình, sợ lỡ quên mất, có gì vui, hoặc buồn cười mà lại phá ra cười thì chết dở, chưa biết sẽ bị kiểm điểm và quy chụp như thế nào !”.

– “Món ăn Quảng Châu hợp gu của người Việt hơn là Bắc Kinh. Ví dụ như món ba ba nấu với linh chi đựng trong ấm gốm để giữ độ nóng, khi rót ra, nước trong, vị ngọt. Cái ấm gốm đã là cả một nghệ thuật. Trong các món tráng miệng, món lê hấp đường phèn nhồi mộc nhĩ trắng cũng là một món thanh, mát và đẹp… Ở Trung Quốc tôi thấy mỗi món ăn đều có một ý nghĩa nào đó… Ngậm một miếng vào mồm là đã ăn cả ý nghĩa. Ôi, xứ sở của văn hoá vậy mà lại định “Đại cách mạng văn hoá” nó đi”.

– Những ngày tôi chở đồ đạc qúa nhiều, đồng nghiệp của tôi ( 1 nhà giáo), một người Việt gốc Hoa, đến chở hộ. Anh cao to, phốp pháp, giấc mơ lớn nhất khi nghỉ chân dọc đường anh thổ lộ với tôi là mỗi buổi sáng được ăn một bát xôi đầy. Anh có một cái tên rất Tầu : Hồng Dân Hoa. Sau này, vào năm 1979, anh khóc lóc mấy ngày vì phải chọn con đường di cư sang Canada. Mấy ngày liền, dân phố, thầy trò đến chia tay. Một năm sau anh gửi về tấm ảnh màu chụp cạnh cái ô tô. Hà Nội bấy giờ chưa có ảnh màu. Tôi nghĩ hẳn bây giờ anh đã “no xôi chán chè”.

Bên cạnh các sự kiện tiêu cực không thể nhắm mắt bỏ qua được của thời đại, Hồi Ức Đặng Anh Đào bầy ra cuốn sách những cảnh đẹp, người đẹp của quê hương Việt Nam :

– “Ngắm chị cu luôn kĩu kịt gánh nặng, thật là một bức tranh quê tuyệt đẹp. Ở chị, hội tụ những nét đẹp truyền thống :mái tóc vấn trần hoặc quấn khăn, đuôi gà dài. Mắt hơi xếch nhưng vẫn to, hình qủa hạnh nhân dưới đường ngài nở nang hình vòng cung. Chị cao, song thắt đáy lưng ong nên dáng đi mềm mại, uyển chuyển, cái váy đen dài rộng lượn sóng theo nhịp bước. Chiều tối, chị ra sông Lam tắm, khi có yếm, khi ngực để trần, vóng dáng đẹp như tạc trên nền trời nước lồng lộng”.

Quê hương nội ngoại (Lương Điền – Quỳnh Lưu – Nghệ An) của tác giả là vùng non nước Hồng Lam (sông Lam núi Hồng). Gia đình nội ngoại của tác giả, nhiều người là các bậc khoa bảng, bỏ quan đi làm cách mạng, bị tù đầy đến chết.

– Cụ Nội, xuất thân cử nhân, từ quan về làng. Các em và các con của Cụ, người theo Cần Vương, người làm cách mạng.

– Cụ Nội Bà, một phụ nữ trung hậu, đảm đang lại có chữ nghĩa, ứng xử như các bậc tu mi nam tử. Cụ Nội Bà là người đã nuôi dạy “khai tâm” cho nhà văn Đặng Thái Mai trong hoàn cảnh xa bố xa mẹ, đã luôn luôn khuyến khích các cháu “tìm phương cứu nước chứ quay về làm gà què ăn quẩn cối xay, cam chịu làm kẻ tôi đòi sao”.

– Ông Nội Đặng Nguyên Cẩn đỗ Phó Bảng, tham gia Phong trào Duy Tân, bạn thân với Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, bị đầy ra Côn Đảo 13 năm về nhà được một năm thì mất.

– Cụ Ngoại là một viên Tri huyện bỏ quan, tham gia Phong Trào Văn Thân chống Pháp, rút lui vào căn cứ địa rồi chết trong vùng núi giáp đất Lào.

– Ông Ngoại, cụ Cử Hồ Phi Thống, một danh nho, tác giả “Nhân Đạo Quyền Hành” là người đã giảng dạy và đem lại cho nhà văn Đặng Thái Mai vốn liếng Hán học từ buổi thiếu thời. Sau này, trở thành bố vợ và con rể, hai người vẫn có mối quan hệ giao lưu trí thức và tâm tư như giữa “người bạn vong niên” tri âm tri kỷ. Qua tác phẩm “Đạm Trai Văn Tập” của cụ, dễ phát hiện những ý tưởng dự báo khá đặc sắc về con người, xã hội và đất nước, như trong thư trả lời con rể Đặng Thái Mai (một lý thuyết gia Mác xít) về triết học phương Tây. Cụ viết :

“Theo những hiểu biết sơ bộ của tôi về triết học Phương Tây thì điều gọi là Phép DuyVật Biện Chứng cũng phù hợp với lẽ biến hoá của tự nhiên. Nhưng điều nó nói chỉ là những lý thuyết hạn hẹp khiên cưỡng, đối với thực tế xã hội chỉ có ý nghĩa cổ súy sự phá hoại, còn đối với sự nghiệp kiến thiết thì chưa thuyết minh rõ ràng. Đó là chỗ khiến tôi chưa thỏa mãn”

Theo Giáo sư Cao Xuân Huy, đó là một nhà nho hiếm hoi của thế hệ đó đã biết đến Toán pháp.

– Cha của tác giả, nhà văn Đặng Thái Mai, một học giả tinh thông Hán học và Tây học, vừa là nhà giáo vừa làm cách mạng, trước theo chủ nghĩa Dân tộc sau chuyển sang chủ nghĩa Mác – Lenin, đã từng lãnh đạo ngành giáo dục và văn học nghệ thuật cả nước cho đến khi qua đời. Lấy việc “Yêu Sự Thật”“Yêu Người” làm tâm niệm. Lấy “Sự Chừng Mực” làm lề lối trong cuộc sống. Giữ thái độ khiêm tốn “Mà trong lẽ phải có người có ta” làm phương châm trong phép ứng xử. Ông được mọi người kính trọng, kể cả những đối nghịch bên kia chiến tuyến.

Trước năm 1945, ông là bạn thân với cha tôi vì hai người đều say mê nghiên cứu Mác Lê. Sau ngày thống nhất đất nước, tôi trở về Hà Nội, đến thăm ông, tôi hỏi : “Bác vẫn còn nghiên cứu Mác Lê chứ ạ ?” Ông lắc đầu cười : “Bây giờ bác chỉ đọc truyện Tầu”. Đầu năm 1979 khi Tào Mạt lại thăm, ông có than phiền về nạn quan liêu trong nước và Tào Mạt viết : “Ít ai biết lời quở mắng của Thầy Đặng lại nẩy mầm thành ba vở chèo “Bài ca giữ nước”.

Trong cuốn Hồi Ức này, tác giả (con gái ông) có viết : “Hai năm trước khi ba tôi mất, mẹ tôi ốm liên miên. Thỉnh thoảng tôi phải tới nhà để trông nom mẹ. Giữa đêm tôi thường bị đánh thức bởi tiếng thở dài vang lên, nặng nề sâu thẳm trong đêm : người bị mất ngủ lại là ba tôi. Tới bây giờ, thỉnh thoảng có đêm chợt tỉnh dậy, tôi lại nhớ đến tiếng thở dài sâu thẳm trong đêm…(của ba tôi)”.

Sau khi ông mất, quyển Hồi Ký Đặng Thái Mai còn dở dang, mới viết đến năm 1945. Mọi người đều than tiếc ông không đủ thời gian vì mọi người đều mong ngóng ông sẽ viết gì từ 1945 đến nay. Tôi cho rằng, một người Thầy muôn thuở vừa “yêu người” vừa “yêu sự thật” thì rất khó viết.

Ba người chị của tác giả đều là các nhà văn học, sử học. Một ông anh rể là Trung tướng Phạm Hồng Cư, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, có cô em gái là nhân vật chính trong bài thơ “Màu Tím Hoa Sim” của Hữu Loan. Một ông anh rể là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Chồng của tác giả là Trung tướng Phạm Hồng Sơn (cháu ruột anh hùng liệt sĩ Phạm Hồng Thái) nổi danh là con hùm xám mặt trận Đông Khê – Thất Khê, chỉ huy trận đánh trong thung lũng Cốc Xá, bắt hai ông quan năm Pháp là Lơ-pa-giơ và Sác-tông. Sau này, trong cuộc “kháng chiến chống Mỹ”, Phạm Hồng Sơn làm phó tư lệnh Mặt trận Nam Lào.

Xuất thân từ một danh gia thế tộc, văn võ toàn tài, tác giả đã có nhiều cơ hội gặp gỡ các nhân vật văn hoá và chính trị của thời đại. Những hồi ức của tác giả là hiện thực, tai nghe mắt thấy, có thể tin cậy được. Tác giả có một lối viết gọn ghẽ, cô đọng, dịu dàng, rất dễ đọc, rất lôi cuốn. Cuốn hồi ức này chỉ là tập 1. Người đọc mong chờ các cuốn tiếp theo. Tác giả còn nhiều tư liệu về gia đình và xã hội để viết ra lắm. Cái tuyệt vời của Đặng Anh Đào là giữa cái ác liệt của chiến tranh, giữa cái lầm than của thời đại, tác giả vẫn luôn tìm ra được cái buồn cười của cuộc đời (trong khi nói chuyện, bà thường hay điểm câu : “Buồn cười nhỉ !”) như trong truyện “Đi Sơ Tán” (trang 276) :

“Lũ học trò tôi dẫn đi sơ tán lại có những vấn đề khác. Lúc đầu, lớp phải học tại các đình, chùa. Đang dạy học, có cụ nông dân quát ở ngoài vọng vào : “Cô giáo ơi, dạy bảo học trò cho khéo nhé ! Học ở nhà chùa mà chửi “bá ngọ sư cụ” thì Phật giận, Phật về Tây Trúc mất thôi”. Qủa là tôi đã nối dáo cho giặc. Tôi đã dạy cho chúng bài thơ của Hồ Xuân Hương :

Đầu sư nào phải gì bà cốt

Bá ngọ con ong bé cái lầm.

Mỗi khi chúng giở trò nghịch ngợm, lại có đứa canh gác ở ngoài. Hễ thầy vừa lai vãng, chúng đã truyền miệng nhau : “Máy bay địch cách Hà Nội 50 cây số… Máy bay địch đã đến gần… Máy bay địch đã bay xa” y như cái loa của xóm.

Hay như trong truyện “Cô Gái Mắt Khô” (trang 111) :

Một phòng bệnh kê tới 4,5 giường. Ngoài cửa phòng, một cô gái ngồi đan, ba cô gái khác đang đứng chầu hẫu quanh co. Cô gái ngồi cúi mặt, tôi chỉ thấy mặt dưới bầu bầu, làn da mịn và trắng, sống mũi thẳng, khoé môi hồng dễ dãi cứ chục dãn ra theo trận cười. Cô đang nhìn xuống lại bị khăn lấp phía trên, tôi không thấy được cái mà trong “sổ tay văn học” các nữ sinh gọi là “cửa sổ tâm hồn”.

Hô hô hô, ha ha ha

Trời ơi, có gì mà vui thế ? Bốn cô gái lại phá lên cười. Lắng nghe những câu đứt quãng, tôi hiểu ra rằng họ đang chế nhau, họ cùng gán cho nhau một ông nằm buồng bên cạnh, gặp ông ở “đúng cái buồng tắm ấy”. Lại cười.

“Úc ! Vợ ông ấy cắt đứt rồi, thì tao thoải mái, đố chúng mày tranh nổi”.

Bà già nằm cạnh giường tôi hằm hằm tức tối… Tuổi già, bệnh tật, vậy mà lại phải nằm cùng phòng với “mấy con nặc nô”. Đột nhiên bà bảo tôi : “Người ta chết rồi mà cũng không tha !”. “Sao cơ ạ ?”. “Thế ra chị chưa biết à ?”. “Ông ta… Mắt mở không được. Mù cả hai con mắt. Vợ vào thăm nói gì không biết. Mới thắt cổ chết đêm hôm qua. Ở chỗ buồng tắm ấy”.

Kinh qúa, làm sao đêm nay tôi còn dám mò ra khu vực nhà tắm nữa ? Tiếng cười vẫn giòn tan. Người ta chỉ cười như vậy khi mười tám tuổi.

Tháng chạp, Hà Nội trời càng mau tối. Chưa kịp nghỉ ngơi, đã nghe tiếng còi rú. Các hộ lý xua bệnh nhân ra hầm. Đó là đêm đầu tiên trong chiến dịch máy bay B 52 trút bom rải thảm xuống Hà Nội với cường độ liên tục và ác liệt nhất. Toàn bộ bầu trời như một cái chảo rang. Một trận đốt pháo hoa khủng khiếp tra tấn cân não kết bằng lửa của các đám cháy, bom trút xuống và tên lửa bắn lên. Giữa một khoảng khắc im lặng tôi lại chợt nghe tiếng cười của bốn cô gái. Họ đứng ngay cạnh. Giọng trong trẻo lạ thường của bốn cô gái đan len : “Mẹ bố cái thằng Mỹ ! Thế này thì tớ mấtgiờ hẹn với anh rồi !”. Các cô lại nhao nhao lên : “Ấy ấy, có thế này thì mày mới đi với anh ấy được chứ ! Em không nghẻo thì làm sao anh đón đi được !”.Bà già đang run lập cập vì tiếng máy bay rú rít, lúc này cơn giận làm bà quên cả run : “Này, này, có gì mà chúng mày vui thế hử ?”. Ba cô kia càng cười. Riêng cô gái đan len xinh đẹp, trong một tia chớp lóe sáng của đạn lửa, lần đầu tiên tôi thấy cô ngước mặt dưới làn vải trắng vẫn che khuất vầng trán, nhìn lên : “Thế chẳng lẽ cháu khóc à ?”.

Lúc ấy tôi mới nhìn thấy đôi mắt cô, đôi mắt như bằng thủy tinh hoặc bằng sứ ở những con búp bê. Bấy giờ tôi mới biết cô bị khô mắt do tai nạn lao động nhà máy. Lần này cô vào viện Mắt tìm cách chữa chạy, nếu không sẽ mù. “Chẳng lẽ cháu khóc à ?”. Ừ, liệu cô có còn nước mắt để khóc không nhỉ, cái cô gái bị bệnh khô mắt ấy ?

Trong cuốn phim nổi tiếng Doctor Zivago có chiếu cảnh trên toa tàu hỏa chổ tù đi lưu đầy,bác sĩ Zivago, một tay ôm con nằm xấp xuống sàn tàu bẩn thỉu đầy phân bò, nhìn qua khe cửa tàu, thấy cánh đồng đầy hoa vàng rung rinh đón gió xuân, rồi nhoẻn một nụ cười rất bình thản, rất yêu đời.

Những cái cười hồn nhiên, trong sáng, đẹp như những nụ tầm xuân rơi rắc khắp đó đây trong suốt cuốn Hồi Ức Đặng Anh Đào.

Bùi Duy Tâm

San Francisco

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *