GIÓ KHƠI

BÚT KÝ BÙI DUY TÂM Phiêu lưu

Kình Ngư dưới đáy biển ấy đoàn Gió Khơi …Ngàn mây tung Cánh Bằng chính đoàn Gió Khơi
Gió khơi là đám người già trẻ, gái cùng trai “… gồm mọi tầng lớp trong xã hội, không phân biệt lớp người cũ hay đợt sống mới, không dung thứ óc địa phương, không khinh kẻ hèn nhưng vẫn trọng người sang, trọng dụng người tài mà vẫn không bỏ kẻ thiếu tài vì họ có nhiều sức, chấp nhận các xu hướng chánh trị khác nhau miễn rằng mọi giải pháp phải đưa đến một Quốc Gia Việt Nam Toàn Vẹn. Độc Lập và Tự Cường” (Nguyệt san Gió Khơi số 4 tháng 10, 1966).

Kình Ngư dưới đáy biển ấy đoàn Gió Khơi …

Ngàn mây tung Cánh Bằng chính đoàn Gió Khơi

BÙI DUY TÂM

* Gió khơi là đám người già trẻ, gái cùng trai “… gồm mọi tầng lớp trong xã hội, không phân biệt lớp người cũ hay đợt sống mới, không dung thứ óc địa phương, không khinh kẻ hèn nhưng vẫn trọng người sang, trọng dụng người tài mà vẫn không bỏ kẻ thiếu tài vì họ có nhiều sức, chấp nhận các xu hướng chánh trị khác nhau miễn rằng mọi giải pháp phải đưa đến một Quốc Gia Việt Nam Toàn Vẹn. Độc Lập và Tự Cường” (Nguyệt san Gió Khơi số 4 tháng 10, 1966).

(Đoàn ca Gió Khơi của Tống Ngọc Hạp)

Kình Ngư và Cánh Bằng Gió Khơi là Cá Côn và Chim Bằng trong Tiêu Diêu Du, thiên đầu tiên quan trọng nhất trong Nam Hoa Kinh, bộ sách độc nhất của Trang Tử. Tiêu Diêu là thong thả tự do vui thích theo Tánh Phận của mình. Sống theo mình là Tự Do, sống theo kẻ khác là Nô Lệ.

Trang Tử nói: “Tại biển bắc có con cá Côn (Kình Ngư) lớn không biết mấy ngàn dặm. Cá nầy hóa ra chim Bằng lớn không biết mấy ngàn dặm. Lúc bay cánh nó xòe ra như mây che cả một phương trời. Theo hơi gió biển (Gió Khơi) chim Bằng bay sang biển Nam. Biển Nam là ao Trời (Việt Nam là Đất Lành chim đậu). Lớp Gió không dầy thì không đủ sức chở nổi đôi cánh lớn của chim Bằng. Nên chim Bằng khi bay phải vượt lên chín tầng mây, nương theo trận Gió Khơi, lưng chịu trời xanh, rộng đường day trở, bay thẳng qua Nam (VN).

Con ve và con chim cưu thấy vậy cười và nói với nhau:” ta thì quyết bay từ cành nọ sang cành kia trên cây du cây phượng chứ bay cao chín tầng mây, xa muôn dặm, sang qua Nam mà làm chi. Ta thích đến mấy cánh đồng gần đây ăn ba miếng no bụng rồi về.

(Viết theo Trang Tử Tinh Hoa của Nguyễn Duy Cần)

Đó là Trăn Trở Suy Tư và Chí Nguyện của một chàng trai vừa tròn 30 tuổi đời từ Hoa Kỳ mới du học trở về nước cuối hè năm 1964 (tôi sinh ngày 08 tháng 9 năm 1934, tuổi Giáp Tuất). Trăn Trở trước việc Hoa Kỳ ào ạt đổ quân đội vũ khí vào miền Nam để ngăn chặn quân đội CS miền Bắc gia tăng xâm nhập miền Nam. Suy Tư về trách nhiệm của người làm văn hóa giáo dục và Chí Nguyện gây dựng một phong trào Thanh Niên Văn Hóa về Nguồn, bám chặt lấy gốc rễ cội nguồn để chấn chỉnh hạ tầng cơ sở cho tinh thần Dân Tộc Việt Nam. Khởi sự là phải gióng lên một hồi trống gây sự chú ý của lớp lãnh đạo, lớp trí thức bằng cách bày ra các môn thể thao cao cấp như thuyền buồm, trượt nước, bắn cá và thám hiểm dưới đáy biển … Thế là các cánh buồm Gió Khơi đã bay lướt trên sông nước Biên Hòa, Thị Nghè và lôi kéo theo tiến sĩ MIT Nguyễn Đức Cường (sau này làm tổng trưởng kinh tế), giáo sư thạc sĩ y khoa Trần Vỹ (nguyên bộ trưởng y tế), kỹ sư Đặng Văn Châu (sau này làm tổng giám đốc thể thao), bác sĩ Nguyễn Tấn Hồng (đương kim tổng trưởng thanh niên), … và như thế Gió Khơi đã bắt đầu: “Ngàn mây tung Cánh Bằng

(hay Cánh Buồm), chính Đoàn Gió Khơi” vào khoảng thời gian đầu 1965.

Tiếng trống thứ hai là đưa thanh niên, sinh viên đi săn cá thám hiểm đáy biển tại các hải đảo. Chuyến đầu tiên nhờ tàu hải quân đưa thanh niên, đa phần là

sinh viên trường cao đẳng nông lâm súc ra Côn Đảo vào cuối năm 1965:

và chuyến thứ hai vào đầu năm 1966:

Gió Khơi (tức là tôi, Bùi Duy Tâm) thuê cả một máy bay của AirVN đưa thanh niên, đa phần là sinh viên y khoa Sàigòn cùng một số giáo sư đại học, bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, kỹ sư, văn nghệ sĩ, nhà báo … ra đảo Bình Ba, Cam Ranh để bắn cá và xem san hô. Thế là: “Kình Ngư dưới đáy biển, ấy là Đoàn Gió Khơi”.

Trước cảnh trời biển giang sơn

gấm vóc, lớp người trí thức của xã hội Việt Nam được dịp gặp nhau bày tỏ tấm lòng yêu nước thương nòi và trao đổi ý kiến kế hoạch phục hưng

tinh thần VN. Thừa thắng xông lên, tôi tung lên mặt báo các thông cáo mở các lớp huấn luyện “Lái thuyền buồm”, “Đi trượt nước”, “Săn bắn dưới biển” cho sinh viên, học sinh “HOÀN TOÀN MIỄN PHÍ”:

Các thanh niên Việt Nam có bao giờ dám mơ tưởng mình có cơ hội chơi thuyền buồm, trượt nước, du ngoạn hải đảo để săn bắn thám hiểm dưới đáy biển

như các ngoại nhân hay các doanh nhân Việt Nam mới giàu nổi (nouveau riche) vì chiến tranh. Ngay tại các nước Âu Mỹ mấy ai có đủ điều kiện chơi các môn thể thao này. Người có dư tiền muốn chơi cũng vất vả đi mua tàu, kéo tàu đến bến, gia nhập club này club nọ, garage chứa tàu, bảo trì tàu, v.v … Thế mà đến với GIÓ KHƠI, mọi người được tiếp đãi niềm nở thân mật, bình đẳng được huấn luyện và chơi các thể thao sang trọng đó vô điều kiện và HOÀN TOÀN MIỄN PHÍ. Tôi tự hỏi có nơi nào trên mặt địa cầu này như vậy không nhỉ ?

Cũng trong thời gian đó, Gió Khơi phát động phong trào DẠY TRẺ EM HÁT các bài ca Tuổi Thơ:

“Tập nhạc con mua mới Má ơi, Giấy trắng tinh dùng viết nhạc vào Học nhạc hay con hát Má nghe

Bé hát hay Mẹ yêu bé nào”

(Tống Ngọc Hạp viết lời và hướng dẫn)

hay

“Lá bay bay trong gió sớm nhẹ nhàng

Lá bay bay trong nắng sớm vội vàng …”

(Vừa hát vừa múa do Tống Cao Đàm hướng dẫn)

cùng các bài ca Học đường (Đến trường, Trường cũ), Quê hương( Quê em miền Bắc, miền Trung, miền Nam), Lịch sử (Bóng cờ lau, Ải Chi Lăng …) và các Anh hùng ca (Anh hùng xưa, Chiến sĩ vô danh, …)

Khởi sự vào những sáng chủ nhật tại sân cỏ viện Pasteur Sài gòn, sau lan dần ra các trường học (Sư phạm Thực hành, Trưng Vương, Gia Long, Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn Bá Tòng, Pétrus Ký,…).

Phong trào “Dạy Hát cho

trẻ em” được hưởng ứng nồng nhiệt ngoài sức tưởng tượng. Các giáo viên, sinh viên đại học tình nguyện xách đàn đến dạy hát. Các nhạc sĩ tên tuổi như Hùng Lân, Lê Thương, Tống Ngọc Hạp đến hướng dẫn gây phấn khởi cho phong trào.

Mỗi trung tâm có hàng trăm thiếu nhi tham dự với đồng phục áo sơ mi nâu (màu dân tộc Việt Nam) và quần ngắn hay váy trắng (màu tinh khiết của tuổi thơ). Các em thuộc đủ mọi thành phần trong xã hội (tôi còn nhớ các con chú Thu, tài xế y tế học đường của vợ tôi, các con chị Phấn, giáo viên tiểu học, các

con GS.khoa trưởng y khoa Vũ Quí Đài và GS. Đỗ Thị Nhuận, con gái GS.phó khoa trưởng Y khoa Vũ Thị Thoa, các con nhà văn Nhật Tiến,các con họa sĩ Minh Đăng Khánh v.v…). Cảm động nhất là nhiều em tàn tật cũng mặc đồng phục Gió Khơi để gia nhập. Mỗi buổi sáng Chủ nhật nhiều vị khách hâm mộ Gió Khơi đến thăm để khuyến khích và biểu

đồng tình như thượng nghị sĩ Phan thị Nguyệt Minh, dân biểu học giả Hồ Hữu Tường, học giả Nguyễn Hiến Lê, nhà văn Doãn Quốc Sĩ, … và gần như các báo Sài gòn đều khen ngợi Gió Khơi hết lời từ Chính Luận, Sống, Trắng Đen đến Con Ong … Tinh thần và chủ trương của Gió Khơi đã gây cảm hướng cho Hùng Lân sáng tác bài “Thiếu Nhi Gió Khơi”.

Viết ra câu hát: “Nhà em, quê em rất yêu rồi. Hồn lên theo Gió thênh thang…” là Hùng Lân đã hiểu và diễn tả cái lối sống Tiêu Diêu của Gió Khơi: Tự do Vui thích về Nguồn gốc nơi Nhà em, Quê em và các chí hướng muốn tạo nên trận Gió Khơi để Cánh Bằng nương theo bay tới ao trời thanh bình thênh thang …

Nhạc sĩ đạo diễn Tống Ngọc Hạp theo đoàn thanh thiếu nhi Gió Khơi ra đảo Bình Ba, Cam Ranh. Giữa cảnh trời mây nước lồng lộng, đã cảm xúc viết lại kinh Nam Hoa của Trang Tử trong câu hát:

“Kình Ngư dưới đáy biển ấy đoàn Gió Khơi Ngàn mây tung Cánh Bằng chính đoàn Gió Khơi”

(Trích từ bài Đoàn ca Gió Khơi)

Nhạc sĩ Phạm Duy trong một buổi sáng mùa thu 1968, hớt hải chạy lại nhà tôi trong viện Pasteur, đưa tôi một mảnh giấy rồi dồn dập nói rằng: “Mình mới làm bài Trả lại tôi tuổi trẻ nhớ đến Gió Khơi nên viết câu này:

Trả lại tôi tuổi trẻ nên thơ

Chúng mình như giấc mơ chưa hề nhòa

……………………………………..

Trả lại tôi tuổi trẻ bao dung

Chúng mình như Gió Khơi nơi mịt mùng …”

Một người chỉ ôm cái Ego to lớn của mình trong tháp ngà như ông Phạm Duy mà lại quan tâm tới Gió Khơi là một ngạc nhiên lớn cho tôi và một đại hân hạnh cho đoàn Gió Khơi.

Để tập cho các thiếu nhi Gió Khơi có tinh thần kỷ luật, quen với nếp sống có tổ chức, mạnh dạn trước công chúng và lòng tự tin, Gió Khơi đem các em đến Quốc gia Âm nhạc Kịch viện để biểu diễn trong Tết Trung Thu, Lễ Giáng Sinh.

Thật là “điếc không sợ súng”, dám mang một lũ trẻ lóc nhóc lên hát trên sân khấu một nhạc viện uy tín nhất nước. chưa hết … công tử Bùi Duy Em Bé Thiện (sinh ngày 12.7.1961) mới vừa tròn 5 tuổi mặc quần soọc cũn cỡn leo lên bục nhạc trưởng cầm càng vung tay bắt

nhịp cho ban đại hợp xướng tí nhau hát các ca khúc Trung Thu hay Giáng Sinh.

Thế mà sự thể lại xảy ra như ông Chu Tử viết trong mục “Ao thả vịt” của nhật báo Sống như dưới đây:

(Ủy viên trong nội các Nguyễn Cao Kỳ là bộ trưởng).

Sau khi thành lập Trung tâm Thể thao Dưới nước bên sông Thị Nghè (đối diện với Cercle Nautique Saigonais CNS của giới trưởng giả và ngoại nhân) với các lớp huấn luyện thuyền buồm, trượt nước và tổ chức các cuộc du ngoạn hải đảo săn bắn thám hiểm dưới biển, tất cả HOÀN TOÀN MIỄN PHÍ. Gió Khơi đã tạo được uy tín, được ngôi vị đặc biệt. Cấp lãnh đạo và giới trí thức quyền uy của chế độ miền Nam không thể coi Gió Khơi như các hội đoàn thể thao khác được và đặc biệt hỗ trợ các phương tiện.

Sau khi phong trào dạy hát cho trẻ em các bài nhạc tuổi thơ, quê hương và anh hùng ca được mọi giới hoan nghênh và báo chí cổ vũ nhất là các buổi trình diễn tại trường Quốc gia Âm nhạc và trên Vô tuyến truyền hình Việt Nam, Gió Khơi phát động phong trào đào tạo mầm non Bóng Bàn tại Trung tâm Bóng bàn Gió Khơi (dặt 10 bàn ping pong tại Sân vận động Cộng Hòa) hoạt động ngày thường từ 3 giờ chiều đến 11 giờ đêm (Chủ nhật, ngày lễ suốt ngày). Gió Khơi cử lão đấu thủ Trần Văn Nhạc, Mai Văn Chất thường trực tới trông coi và các danh thủ như Mai Văn Hòa,Trần Cảnh Đến, Lê Văn Tiết, Lê Văn Inh, Huỳnh Văn Ngọc tới huấn luyện.

Điều kiện duy nhất để tập dượt tại Trung tâm Bóng bàn Gió Khơi là phải mặc đồng phục áo nâu, quần soóc trắng. Chủ ý đồng phục là để san bằng cách biệt giàu nghèo, giữ tinh thần kỷ luật và biểu lộ sự đồng tâm quyết thắng trên bàn bóng nhựa. Bước chân vào phòng tập, ta thấy hoa mắt vì những trái banh nhựa trắng vi vút bay qua bay lại trên mười bàn kê thẳng hàng, trên tường treo các khẩu hiệu “Giao banh hiểm”, “Luôn chủ động “, “Tấn công vũ bão” … nhiều em nhỏ bé phải chồm lên mặt bàn nhảy tới nhảy lui đánh banh rất hung hãn. Dược sĩ Nguyễn Chí Nhiều, nhà mạnh thường quân nổi tiếng trong làng bóng bàn, ôm lấy

tôi sung sướng nói: “Chưa bao giờ tôi thấy không khí tập dượt bóng bàn sôi nổi như ở đây. Anh Tâm ơi, tôi ủng hộ Gió Khơi hết mình”.

Báo chí cổ võ:

Gió Khơi gửi huấn luyện viên bóng bàn đến các trường trong đô thành Sàigòn, hỗ trợ việc trang bị phòng tập và tổ chức các giải bóng bàn để góp phần thể dục học đường và để phát hiện các mầm non danh thủ cho Bóng Bàn Việt Nam, bắt đầu từ trường Hồ Ngọc

Cẩn và trường Pétrus Ký với hy vọng sẽ làm sống lại thời đại Bóng Bàn Việt Nam vàng son của MAI VĂN HÒA đã từng làm danh thủ Nhật Bản khóc sướt mướt khi thua Hòa trong trận chung kết giải vô địch bóng bàn Á Châu trong thập niên 50. Cùng một lúc cặp Mai Văn Hòa, Trần Văn Đức thắng luôn giải vô địch Á Châu đánh đôi.

Cũng trong sáng chủ nhật trên sân cỏ Viện Pasteur Sài Gòn, Gió Khơi mở các lớp hội họa cho trẻ em

Gió Khơi tổ chức các buổi triển lãm tranh Nhi đồng Gió Khơi tại Câu lạc bộ Báo chí trên đường Tự do (góc Lê Lợi, trước mặt Caravell) là phòng triển lãm uy tín nhất Sài Gòn thời bấy giờ:

 Các em mời các bác, các cô, các chú vào xem:

 Quan khách ồ ạt vào xem tranh:

 Các em đọc diễn văn khai mạc:

 Các em cắt băng khánh thành:

 Các em hát, các em múa để chào mừng quan khách:

 Các em giới thiệu tranh vẽ của các em:

 Thầy dạy các em vẽ (họa sĩ Minh Đăng Khánh bên phải, họa sĩ Hồ Nguyễn bên trái ôm hai bó hoa “Biết ơn Thầy” của các em kính dâng) và ân nhân của Gió Khơi (bác sĩ tổng trưởng Nguyễn Tấn Hồng và ông giám đốc Asia Foundation đứng giữa).

 Huynh trưởng Gió Khơi đã dìu dắt các em:

 Thưởng lãm tranh Nhi Đồng Gió Khơi:

Dư luận báo chí Sài Gòn:

TRẺ EM HÁT

TRẺ EM ĐÁNH BÓNG BÀN TRẺ EM VẼ

… bây giờ TRẺ EM CHƠI ĐÀN … MĂNG CẦM

MĂNG CẦM là đàn của con nhà nghèo nhưng tiếng đàn MĂNG CẦM dòn dã thanh tao. Người Việt nghèo nhưng là một dân tộc có nhiều ngàn năm VĂN HIẾN.

Thiếu nhi GIÓ KHƠI khởi sự chỉ vài ba em tập đàn măng cầm với nhạc sĩ kiêm đạo diễn Tống Ngọc Hạp (tác giả đoàn ca Gió Khơi) trên sân Trung Tâm Học Liệu rồi dần dà mười mấy cây đàn trong xóm nghèo nhà anh Hưng, chị Phấn (giáo viên) với sự phụ giúp của Nha sĩ Việt Hương và chú Thu, người lái xe cho nha sĩ.

Ban Măng Cầm thiếu nhi Gió Khơi tăng lên vài ba chục cây đàn tập dượt trên sân cỏ Viện Pasteur rồi trở thành 40 – 50 cây đàn trình diễn trên sân khấu Quốc gia Âm nhạc Sài gòn và trên đài truyền hình VN:

và trở thành tài tử đóng phim: “Trung thu với TRẺ VIỆT” được tặng giải thưởng hạng Nhất phim tài liệu của Trung tâm Điện ảnh Việt Nam.

Liệu các trường học lớn của nhà nước và ngay cả Quốc gia Nhạc viện có bao giờ nghĩ tới và làm được như thế chưa ? Đó là hình ảnh quá trình từ một lớp măng cầm nhỏ bé trong hẻm lao động

đến một đại ban hòa tấu măng cầm trên màn ảnh đài truyền hình Việt Nam và cuối cùng trong một cuốn phim băng nhựa” (tạp chí Thế giới Tự Do tập XVII số 5).

GIÓ KHƠI sinh hoạt thường xuyên vào

ngày Chủ nhật tại sân cỏ Viện Pasteur ngay trung tâm Sài gòn hoàn toàn riêng biệt một mình mỗi cõi, có chà và gác cổng nên rất an toàn. Sau đây là một thời khóa biểu điển hình, phổ biến trên nhật báo DÂN TIẾN:

Bắt đầu là lớp chữ Nho với thầy DS.Dương Đình Hòa và thầy Đào Mộng Nam.

Tập đánh trống ếch với chú Huỳnh văn Hoàn Học hát với chú Lê Hồng Chí và cô Nguyễn Thị Phấn

Tập đi diễn hành như nhi đồng cứu quốc nhưng không phải hô khẩu hiệu.

Học bơi lội tại hồ tắm Nguyễn Bỉnh Khiêm với huấn luyện viên Kiều và Tế.

Nghỉ trưa (bắt buộc) tại hội quán Gió Khơi (bên bờ sông Thị Nghè).

Tham dự chơi thuyền buồm và trượt nước.

Chiều về lớp hội họa tại 127 Đoàn Thị Điểm (hội trường bộ cựu chiến binh).

So với các hội đoàn thanh thiếu nhi khác, đoàn GIÓ KHƠI có những sinh hoạt phong phú, hiện đại và đượm nhiều tinh thần dân tộc Việt Nam.

Theo đúng lề lối hoạt động của một phong trào, Gió Khơi đã phát hành ngay một tờ nguyệt san, chủ bút là Hà Ngọc Thuần lúc bấy giờ đương còn là sinh viên y khoa và bây giờ định cư ở Úc đã từng là chủ tịch hội y sĩ Việt Nam tại Úc và tổng thư ký là Duyên Hà tức dược sĩ Lê Phục Thủy, giảng viên đại học y khoa Sài gòn lúc bấy giờ và bây giờ là giáo sư đại học Califonia tại San Diego UCSD và đã từng làm chủ tịch cộng đồng Việt Nam tại San Diego.

Bìa trước là những cánh buồm Gió Khơi do họa sĩ Duyên Hà vẽ bằng phấn tiên

….Bìa sau là bài “Đoàn ca Gió Khơi” của Tống ngọc Hạp

Sau đây là nội dung bài vở trong số báo đầu tiên này:

Từ đầu đến giờ, tôi viết theo ký ức, hình ảnh và dư luận báo chí bên ngoài. Khi đọc lại mục Sinh Hoạt Gió Khơi do chính anh em Gió Khơi viết ra, tôi mới biết thêm nhiều điều chi tiết hơn, đôi khi không ngờ được và phấn khởi hơn bội phần:

  • Chi tiết hơn về thời gian ngày tháng năm, về danh vị các anh em hưởng ứng, biểu đồng tình đến cộng tác với Gió Khơi.
  • Không ngờ được các sinh hoạt Gió Khơi lại lan rộng ra đến cả sân cỏ viện đại học Sài Gòn, trường y khoa (đường Trần Quý Cáp), hồ tắm sở cứu hỏa Đô Thành, lớp tập thể vận (sân Phan Đình Phùng), xưởng đóng tàu (mượn một nhà kho bộ thanh niên) … ngoài những địa điểm mà tôi đã kể như viện Pasteur, hội trường bộ cựu chiến binh, phòng khánh tiết sân vận động Cộng Hòa, hồ tắm Nguyễn Bỉnh Khiêm, trung tâm huấn luyện Gia Long … và các trường tiểu học (như Sư phạm Thực hành…) trung học (như Hồ

Ngọc Cẩn, Pétrus Ký,…) còn trung tâm học liệu thì coi như Gió Khơi chiếm đóng luôn: trưng dụng các nhân viên (các nhạc sĩ Hùng Lân, Lê Thương, Vĩnh Phan, Tống Ngọc Hạp, họa sĩ Nguyễn Bé tức Hồ Nguyễn) và sử dụng phòng thu thanh, xưởng vẽ, nhà in, …

Các nhân viên của trung tâm học liệu mê Gió Khơi dẹp công việc cơ quan sang một bên để phục vụ Gió Khơi. Ông Lý Chánh Đức, giám đốc trung tâm (anh ruột GS.Lý Chánh Trung) là người tốt bụng nhắm mắt cho tôi thao túng, lại còn nói đùa với tôi: “Sao anh Tâm không bảo thằng Bé vẽ cái bảng Gió Khơi treo thế chỗ cho cái bảng Trung tâm Học liệu”… Có lẽ Gió Khơi đã nghĩ đúng và làm đúng lòng người dân miền Nam lúc bấy giờ

chăng ?

Chẳng thế mà báo Sống của ông Chu Tử muốn: “mời các ông dân biểu tới coi để các ông sáng mắt với bài học trách nhiệm của Búp Bê Gió Khơi”, báo Thao Trường viết: “Tổng cuộc Bóng bàn đã có từ bao nhiêu năm rồi mà vẫn chưa làm được như Hội Gió Khơi hiện nay và báo Chính Luận của BS. Đặng Văn Sung viết: “trong bầu không khí ngột ngạt của chiến tranh, phòng tranh Nhi Đồng Gió Khơi như một luồng gió mát dịu trong lành thổi đến, làm cho ta tin tưởng, quên đi những tranh giành bẩn thỉu giữa con người, nhắc chúng ta tuổi ấu thơ đẹp nhất, cao quý nhất mà không còn nữa…”.

Còn nữa … giáo sư vĩ cầm Phạm Nghệ mở lớp nhạc pháp đặc biệt buổi tối cho các huynh trưởng Gió Khơi và cùng với cô Lương Kiều Miên, giáo sư dương cầm mang các hoạt động Gió Khơi đến trường Quốc gia Nghĩa tử.

Nhà văn Đỗ Tiến Đức, giám đốc Trung tâm Điện Ảnh mở cửa phim trường cho

Gió Khơi chui vào làm phim Trung Thu với đạo diễn Nguyễn Ngọc Liên do ông Giám đốc cử tới giúp Gió Khơi và sau đó lại tặng Gió Khơi giải thưởng hạng nhất phim tài liệu. Và chắc chưa hết đâu

… nói nhiều quá sợ thiên hạ cho là nói khoác nên tôi phải kèm theo hình ảnh cho các hoạt động đa dạng bành trướng khắp nơi của Gió Khơi.

  • Đọc mục Sinh Hoạt trong nguyệt san Gió Khơi, tôi rất phấn khởi thấy anh em Gió Khơi của tôi đã cùng một suy tư phục hưng tinh thần dân tộc Việt Nam, cùng một chí hướng sửa soạn một thế hệ lành mạnh cho tương lai và ý thức được ý nghĩa của các sinh hoạt dù là thể thao hay giáo dục, dù là thanh niên hay văn hóa.

Lớp dạy kỹ thuật lặn và săn bắn dưới biển

Xưởng đóng tàu Lớp cứu thủy nạn

Gió Khơi thành lập các đội bóng bàn, bóng chuyền, bóng rổ, bóng tròn, quần vợt, water Polo (thủy cầu) mà các đấu thủ đa số trong giới sinh viên đại học. Các đội banh Gió Khơi đi giao đấu hữu nghị với các bộ Thanh Niên, bộ Tư lệnh Hải quân, bộ Tư lệnh Không quân và Hội Ký giả nên được bộ Thanh niên cung cấp phương tiện dụng cụ thể thao, Hải quân cấp tàu, Không quân cấp máy

bay đi du ngoạn hải đảo, đi thăm các nẻo đường quê hương và được báo chí thông tin tuyên truyền cho các hoạt động của đoàn.

Giao hữu quần vợt giữa Gió Khơi với bộ Thanh niên và hội Ký giả

Giao hữu bóng truyền giữa Gió Khơi và bộ Tư lệnh Hải quân

Đội túc cầu Gió Khơi với thủ quân Tô Phạm Liệu

Đội thủy cầu water polo Gió Khơi

Giao hữu bóng truyền giữa Gió Khơi và Không quân dưới sự chủ tọa của chủ tịch Gió Khơi (ghế trống) và trung tá Lưu Kim Cương,tư lệnh không đoàn 33.Trong số khán giả ta thấy các phi công Trần Bá Hợi, Nguyễn văn Đính, Nguyễn văn Cử cùng các đoàn viên Gió Khơi, đa số là sinh viên y khoa Sàigòn

Huỳnh Minh Tòng, sinh viên y khoa Sàigòn trong đội bóng truyền Gió Khơi có ông cụ thân sinh làm trưởng phòng trước bạ Sài gòn. Ông cụ rất cảm kính việc làm của Gió Khơi nên mách cho tôi một khu đất bên bờ sông Thị Nghè (cạnh nhà nghỉ các sư huynh

Taberd, đối diện với Cercle Nautique Saigonais) mới bị chính phủ tịch thâu. Ông cụ bày cách cho tôi để xin lại khu đất làm trung tâm thể thao dưới nước cho Gió Khơi. Lúc đó Gió Khơi đã có thanh thế lớn nên tôi lấy được miếng đất quý giá đó và tổ chức lễ tiếp nhận hội quán như bài phóng sự đăng trong nguyệt sạn Gió Khơi:

*Anh Khuê (Asia Foundation) và anh Trần Đỗ Cung (Tổng cục trưởng Tổng cục Tiếp tế) giúp Gió Khơi phương tiện làm cầu tàu (ponton) cho tàu lên xuống và làm hangar nhà chứa tàu buồm, tàu horsbord trượt nước. Cho nên Gió Khơi có thể sinh hoạt đều trong việc huấn luyện các môn thuyền buồm, trượt nước.

Viết đến đây, tôi đã chấm phá sơ qua về các hoạt động thiếu nhi và thể thao của Gió Khơi. Bây giờ tôi lật sang trang về văn hóa.

*Trước hết, tôi muốn nói tới ca đoàn Gió Khơi. Cho đến nay tôi vẫn chưa thấy ca đoàn nào bứt hẳn được ca đoàn Gió Khơi. Sinh hoạt thường xuyên vào chiều chủ nhật tại nhà tôi trong viện Pasteur. Thường lúc tập chừng 3,4 chục, buổi trình diễn đông người hơn chừng 40, 50 ca viên. Anh Khoát là niên trưởng giữ dường mối cho ca đoàn, rất đứng đắn, hát giọng bass rất tốt. Ít thấy ai có giọng bass thiên bẩm như anh Khoát, có thể so sánh với Trần Hiếu (nổi tiếng với bài “ Con vỏi con voi”). Giọng bariton có Đỗ Mạnh Chu, mạnh và ấm lắm. Giọng soprano có Họa Mi (về sau nổi tiếng trong giới ca sĩ tân nhạc) và Mỹ Dung (phu nhân tổng trưởng Nguyễn Đức Cường), Thu Hà (bác sĩ Thanh Nguyệt) là một ca sĩ có hạng, giọng alto và mezzo soprano. Sau cùng

là Đoàn Trọng Thu, một ca trưởng xuất sắc nhất mà tôi biết. Đoàn Trọng Thu điều khiển ban đại hợp xướng Gió Khơi với

kỹ thuật cao và nhiều say mê.

Ca đoàn Gió Khơi không hát tân nhạc, ngoài một vài bài Hải Linh phổ nhạc thơ cổ điển như Chinh phụ ngâm:

“Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt …

lung lay bóng nguyệt Khói Cam Toàn mờ mịt thức mây …

mờ mịt thức mây”. hay thơ mới như thơ Hàn Mặc Tử (Đà Lạt trăng mờ):

“Đây phút linh thiêng đã khởi đầu …”

Buổi trình diễn hợp ca thường mở đầu bằng bài “Lắng nghe” của Hùng Lân: “Về đây về đây mà lắng nghe, tình tang tang tình

Tiếng chim gọi đàn líu lo trên cành, Hò ơi !

Ý thơm lắng trong tim người – Đổi sầu làm vui, Hò ơi ! Không gian chìm ngoài khơi … Hồn tôi có ánh sao rơi Về cho hồn lên theo trăng vấn vương men trời

Thực hay là mơ, ai biết véo von tiếng ca tuyệt vời, Thế gian hóa hư vô rồi … tình tang tang tình

Chỉ còn Nhạc thôi ! Lẳng lặng mà nghe ! Khi Nhạc tới ! Người ơi !

và cả chương trình là một répertoire Dân ca Việt Nam suốt từ Bắc chí Nam:

o Cái cò lặn lội í a bờ sông, gánh gạo í a đưa chồng, tiếng khóc nỉ non

Tang tính tang – Tang tình tình tang.

Nàng về nuôi lấy đàn con, cho anh í a đi trẩy í a nước non a Cao Bằng – Tang tình tang …

Chân đi đá lại í a dùng dằng, nữa nhớ í a Cao Bằng, nửa nhớ í a vợ con – Tang …

Đi thì nhớ vợ i a cùng con, về nhà nhớ củ khoai môn í a trên rừng Tang tính tình – Tình tính tang

o Quả cau nho nhỏ i a cái vỏ vân vân …

Lấy anh từ thuở mười ba, đến năm i à mười tám chứ thiếp đà năm con.

Ra đường thiếp hãy còn son, về nhà i a thiếp đã năm con cùng chàng.

Tang tình ơi hỡi tình tang

o Múc ánh trăng vàng đổ đi.

Hỡi cô, hỡi cô tát nước bên đường, sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.

Hỡi cô tát nước biển đông, trăng đâu còn nữa mà không đi về. Vầng trăng có lúc đầy vơi vơi đầy. Bao giờ trăng sáng về đây. Cùng nhau ta lại gầu giai gầu sóng. Dưới trời vằng vặc sáng trăng

… Cùng nhau ta múc ánh vàng đổ đi, đổ đi, đổ đi …

o Đèn cù:

Khen ai khéo xếp ối a cái đèn cù

Voi giấy í a ngựa giấy ơ tít mù nó mới lại lại vòng quanh ớ ơ.

Bao giờ em bén ới duyên a anh. Đèn kia ôi a sẽ hết ơ chạy quanh ối a cái tít mù, tít mù là khen ai khéo xếp ối a cái đèn cù, đèn cù, đèn cù là đèn cù ới ! ơi đèn, đèn ơi !

o Duyên tình miền Nam:

Tình tình tình, tình tang – Hò là hò hò lơ …

Rồng chầu là chầu xứ Huế a Ngựa tế chứ Đồng Nai

Tình bằng tình ơi ! … Nước sông mà sông trong chạy lộn sông ngoài ôi hỡi tang tình ! Ôi hỡi tình tang.

Tình ơi hỡi tình, thương người xa xứ lạc loại mà tới đây.

Tới đây thì ở lại đây ớ ơ. Bao … giờ bén rễ xanh cây thì hãy về Hò lơ hò là hò lờ. Hò ơi hò, Hò ơi Hò, Hò Lơ !!!

Và còn biết bao lời ca … thật tình tự dân tộc … thật đi vào lòng người Việt Nam, già cũng như trẻ, cũ cũng như mới, Bắc cũng như Nam.

Mỗi lần trình diễn xong trên tivi, điện thoại gọi tới tấp khen ngợi khuyến khích. Nếu ở sân khấu Quốc gia Nhạc viện thì khán thính giả vây quanh chúng tôi: người trẻ tuổi xin bản nhạc xin gia nhập, người lớn tuổi nắm tay chúng tôi nghẹn ngào nói: “Tình người Việt Nam đẹp quá chứ đâu có lố lăng tha hóa như bây giờ ? Các quan chức và các nhà mạnh thường quân hứa hẹn ủng hộ cái này cái nọ. Báo chí phỏng vấn chụp hình tíu tít. Anh em Gió Khơi thấy việc làm của mình hợp với

lòng dân, tuy mất nhiều mồ hôi nước mắt, được chút hương hoa

… cũng vui thôi !

  • Về kịch nghệ, Gió Khơi cũng độc đáo lắm. Diễn viên chỉ là hạng tài tử nhưng diễn xuất có hồn có hào khí. Điều đáng nói là vở kịch “Tiếng trống Hà Hồi” tả tâm trạng của các sĩ phu Việt Nam khi giặc Tàu nhà Thanh ồ ạt xâm chiếm nước ta và đóng chiếm Thăng Long. Vì cái bức xúc của lớp sĩ phu Bắc Hà ngày xưa cũng phần nào như cái bức xúc của thanh niên trí thức miền Nam không vọng ngoại giữa thập niên 60 khi Hoa Kỳ ào ạt đổ quân vào Việt Nam trước sự gia tăng xâm nhập miền Nam của quân đội Miền Bắc. Tác giả vở kịch “Tiếng trống Hà Hồi” là nhà giáo Hoàng Như Mai, viết tại Hà Nội năm 1952. Không biết vở kịch này đã được diễn trước 1954 chưa vì hồi đó tôi chỉ được xem ban kịch Tiền Phong diễn vở Lôi Vũ (Tào Ngu viết, Đặng Thai Mai dịch) tại Nhà hát lớn Hà Nội và sau 1954, kịch “Thành Cát Tư Hãn” của Vũ Khắc Khoan, được tác giả và các kịch sinh Quốc gia Âm nhạc Sài gòn thực hiện trước năm 1975. Kịch “Tiếng

trống Hà Hồi” diễn lần đầu tiên vào dịp Tết năm 1965 trong sân trường y khoa Sài gòn (đường Trần Quí Cáp) do các sinh viên y khoa mà đa số về sau hoạt động trong Gió Khơi.Lần thứ hai ban kịch Gió Khơi diễn tại trường Quốc gia Âm nhạc Sài gòn vào dịp tất niên năm Đinh Mùi 1967 với hầu hết các diễn viên như lần đầu chỉ trừ một vai nữ khác thay Vũ Thị Thục Oanh, giáo sư vĩ cầm Phạm Nghệ thay Tô Phạm Liệu còn thì các vai khác vẫn như lần đầu: Lê Hồng Chí trong vai Khóa Vũ, Nguyễn Mạnh vai Đồ Trần, Nguyễn Thanh Sơn vai Cụ Bát, Nguyễn Ngọc Lưu … thêm Dương Văn Đầy đóng vai lính nhà Thanh.

  • (Dương Văn Đầy hồi đó là sinh viên nằm vùng, sau tháng 4.1975 làm chủ tịch Quận 1 rồi làm giám đốc du lịch thành phố Hồ Chí Minh, giàu nứt đố, đổ vách).Trước lúc mở màn, Nguyễn Ngọc Lưu lên đứng

trước màn nhung giọng sang sảng đọc Hịch Tướng Sĩ của Trần Hưng Đạo, cố tình ám chỉ Nguyễn Cao Kỳ và đồng bọn tướng tá rượu chè, cờ bạc, chọi

gà, chơi bời bê tha: “Làm tướng trong một nước mà lấy chọi gà làm vui, đánh bạc làm sướng, thích rượu ngon, mê tiếng hát mà quên việc quân quốc, những đường công thủ. Phỏng có giặc tràn sang thì cựa gà chọi không đủ đâm được giáp giặc, mẹo đánh bạc không đủ dùng việc quân, rượu ngon không đủ say quân giặc, hát hay không làm điếc tai giặc …”.

  • Khán giả hiểu ý, vỗ tay nhiệt liệt vang dậy thính đường. Tôi đứng một góc dưới sân khấu, hướng dẫn nhạc sĩ Lương Kiều Miên đàn dương cầm đệm cho vở kịch, một tay cầm giấy thuyết minh kịch bản, một tay đánh trống cái như tiếng trống trận Hạ Hồi ngày xưa

… làm vở kịch bội phần sôi nổi như báo chí miêu tả.

Sau đó, Đại tá Lưu Kim Cương, Tư lệnh không đoàn vận tải sân bay Tân Sơn Nhất, mời ban kịch Gió Khơi diễn lại vở

kịch “Tiếng trống Hạ Hồi” tại câu lạc bộ không quân Huỳnh Hữu Bạc, Nguyễn Thanh Sơn, một diễn viên (hiện nay định cư tại San Diego) còn nhớ một chi tiết thú vị là hề Phúc Lai phụ trách kéo màn cho đêm kịch.

Giữa thập niên 70, sinh viên y khoa Minh Đức của tôi lại dựng vở kịch “Tiếng trống Hà Hồi” một lần nữa trong buổi văn nghệ tất niên 1974, sinh viên Lê văn Lâm thủ vai Khóa Vũ (sau này anh ta bị hải tặc cắt cổ

trong chuyến vượt biển tìm tự do). Tôi lại khua môi gióng trống trước các vị bộ trưởng, thứ trưởng, viện trưởng, … Tiếng trống kêu “Quốc Quốc” của tôi chẳng kêu gọi được ai cứu quốc mà ngược lại chỉ thúc giục quí vị Tẩu Quốc lưu vong.

* Gió Khơi còn có thêm một hoạt động đặc biệt nữa là phát triển nghệ thuật sáo tre Việt Nam bằng cách mở các lớp dạy sáo tre miễn phí tại trung tâm sinh hoạt thanh niên đường Hồng Thập Tự (lại bành trướng thêm địa bàn hoạt động). Nhạc sĩ Trần Văn Ân hướng dẫn với một phương pháp và nghệ thuật đặc biệt của miền đồng quê Bắc Việt. Các học viên tập thổi sáo đủ các gam nhạc từ chiếc sáo tí hon đến sáo khổng lồ phải vác lên vai mà thổi.

Thầy Ân và các nghệ nhân miền Bắc di cư đẽo gọt rất công phu những chiếc sáo phát ra các loại âm thanh vừa cao vút như gió hú Tây Nguyên vừa trầm hùng âm u như tiếng thở của núi rừng Việt Bắc.Ban sáo Gió Khơi đã nhiều lần trình diễn trên đài truyền hình Việt Nam và trên sân khấu nhạc viện Sài gòn, để lại nhiều ấn tượng hồn quê Việt Nam cho khán thính giả.

*Thiếu nhi Gió Khơi còn có các đội nhạc cổ truyền:

Đội đàn tứ Đội hòa tấu nhạc cổ truyền

  • Ban Chèo Gió Khơi gồm cụ Nguyễn Văn Năng (trưởng ban), Thu Vân, Ngọc Hòe (nghệ sĩ hát chèo), Xuân Thảo (đàn nguyệt), Ngô Nhật Thanh (đàn bầu, đàn nhị), Ngọc Hòe (trống đế). Đó là những nghệ sĩ hàng đầu về bộ môn hát chèo tại miền Nam lúc bấy giờ.Thêm vào hai nghệ sĩ trẻ đang lên là Huyền Trân và Hùng Tâm, Gió Khơi trình diễn hàng tuần trên đài truyền hình các vở chèo cổ điển như: Lưu Bình Dương Lễ, Thị Mầu lên chùa (trong vở Quan Âm Thị Kính) Trương Viên, Xúy Vân giả dại, Tuần ti đào Huế và các màn hát trống quân.
  • Thỉnh thoảng Gió Khơi giới thiệu với khán thính giả đài truyền hình bộ môn Hát Ca Trù với nghệ sĩ Kim Bảng

và tổ chức tại nhà tôi một buổi hát ả đào được miêu tả trong báo Dân tộc Việt số 2, tháng 7 năm 1991 (Los Angeles, CA).

  • Trong chương trình văn nghệ hàng tháng của Gió Khơi trên tivi, các nghệ sĩ Thu Hà, Mỹ Dung, Hồng vân, Huyền Trân và Hùng Tâm thường xuyên hát Dân ca 3 miền, Quan họ Bắc Ninh và Ca Huế.
  • Nhạc sĩ Hùng Lân nói chuyện về Dân ca, Dân nhạc Việt Nam minh họa bằng giọng ca, tiếng đàn của các nghệ sĩ trong đoàn Gió Khơi. Chương trình mở đầu bằng nhạc hiệu:

(Đây là bút tích nguyên bản của nhạc sĩ Hùng Lân)

  • Vào dịp đầu Xuân đầu thập niên 70, học giả Hồ Hữu Tường đưa tôi về Bình Khê dự lễ hội Quang Trung. Nhân dịp tôi thu thập tài liệu, tìm kiếm các nghệ nhân các điệu Hát Bài Chòi, Hát Bộ Bình Định, Nhạc Võ Tây Sơn và Võ Bình Định.

“Ai về Bình Định mà xem

Đàn bà con gái múa côn đi quyền”

  • Trong thời gian làm khoa trưởng đại học y khoa Huế (1967 – 1972) tôi được xem các buổi Lên Đồng, hát Chầu Văn tại điện Hòn Chén trong lễ Tiên Thiên Thánh Mẫu. Ngoài Bắc trên chiếu chỉ có một cô đồng nhưng có thể lên nhiều giá, thăng xong giá này đổi quần áo lên giá khác.Cung văn người Nam đàn ghi ta cải lương (phím sâu xuống để nhấn) chứ không dùng đàn nguyệt như cung văn người Bắc người Trung. Đặc biệt ở Huế, lên đồng tập thể, 6, 7, 8 cô cùng lên chiếu múa may nhảy nhót như nhảy go go. Từ chợ Đông Ba lên điện Hòn Chén, thuyền ghép lại thành bè mảng, thành sàn nhảy cho các cô đồng xem rất vui mắt. Tôi có thu thập các bài văn chầu định viết thành bài khảo cứu nhưng cuộc chiến lan rộng quá nhanh không kịp hoàn thành dự ước.
  • Biến cố Mậu Thân làm hư hại y phục, nhạc cụ của ban vũ nhạc Đại Nội. Gió Khơi tài trợ cho Mệ Sen (tức công chúa Lương Linh) phục chế lại toàn bộ trang phục dụng cụ cho ban nhạc Đại Nội, cho các điệu múa: Bài Bông, Long Ly Quy Phụng, Long Hổ Hội, Phúc Lộc Thọ và cho các vai tuồng Hát Bộ Huế, tương tự như Hát Bộ Bình Định.

  • Gió Khơi lại tài trợ cho học giả Hoàng Trọng Miên và nghệ sĩ Hoàng Thư (nổi tiếng với điệu ca vũ Trấn Thủ Lưu Đồn) để thực hiện điệu múa Xuân Phả. Buổi trình diễn ra mắt tại rạp Thống Nhất được đặt dưới sự chủ tọa của quốc vụ khanh văn hóa Mai Thọ Truyền. Múa Xuân Phả là một điệu Múa Mặt Nạ xuất phát tự làng Xuân Phả,Thanh Hóa. Các mặt nạ đắp vẽ nên những khuôn mặt điển hình cho các nhân vật nông thôn Việt Nam.

  • Gió Khơi còn bảo trợ cho một ban nhạc khiếm thị (ban nhạc người mù) gồm các nhạc sĩ dương cầm, vĩ cầm, accordéon (phong cầm), kèn sáo, guitar, … tập dượt vào mỗi chiều thứ năm tại nhà tôi trong viện Pasteur Đa số các nghệ sĩ là người công giáo di cư chống cộng hết mình.

Ban nhạc nghệ sĩ mù của Gió Khơi

Một hôm nhạc sĩ Miên Đức Thăng đến chơi trong lúc ban nhạc đang tập dượt. Tôi yêu cầu Miên Đức Thắng hát bài “Viên Đạn Đồng” để ban nhạc phụ đệm. Miên Đức Thắng hát được ½ bài thì anh nhạc sĩ dương cầm đứng dậy hét lên:

“Việt Cộng! Việt Cộng! Bác sĩ Tâm ơi! ”

Miên Đức Thắng là một nhạc sĩ phản chiến, nổi tiếng về bài “ Viên Đạn Đồng”, bị đưa ra tòa. Tôi nhờ luật sư Bùi Chánh Thời cãi cho trắng án nhưng sau này cũng vẫn bị đi tù vài ba năm.

* Chương trình Văn nghệ Gió Khơi

và chương trình Thiếu Nhi Gíó Khơi xuất hiện đều đều trên đài truyền hình Việt Nam hàng tháng được các giới hoan nghênh và thật sự phát động phong trào văn hóa về nguồn phục hưng tinh thần truyền thống dân tộc Việt Nam.

Gió Khơi là một tổ chức quy mô độc nhất tại Việt Nam thường xuyên tổ chức các cuộc du ngoạn hải đảo cho từ 5, 6 chục người (Cam Ranh, Bình Ba) đến vài ba trăm người (đảo Phú Quý) đi tham quan, săn bắn thám hiểm đáy biển, làm công tác xã hội và trình diễn văn nghệ quần chúng cho cư dân trên các hải đảo: Côn Lôn, Bình Ba trong vịnh Cam Ranh, Hòn Yến Hòn Chà Là (Nha Trang), Hòn Thu (Phú Quý, Phan Thiết), và Pulo Dama (Phú Quốc). Sau đây là các sinh hoạt điển hình trong chuyến đi du ngoạn đảo Bình Ba (Vịnh Cam Ranh) được miêu tả trong nguyệt san Gió Khơi số 1, tháng 6, 1966.

Gió Khơi tổ chức thăm Côn Đảo hai lần: lần đầu vào cuối năm 1965 cho các sinh viên cao đẳng nông lâm súc, lần thứ hai vào năm 1969 cho các tay bắn cá và thám hiểm dưới biển. Ngoài việc săn bắn dưới biển, Gió Khơi dẫn đoàn viên thăm các thắng cảnh, nhà tù Côn Đảo(chuồng cọp) và mộ liệt sĩ Nguyễn An Ninh, …

Chuyến du ngoạn Hòn Yến (Nha Trang) thì đa số là sinh viên y khoa Sài Gòn. Phong cảnh trên mặt đảo và dưới đáy biển đẹp tuyệt vời.

Trung tá Nguyễn Huy Ánh, tư lệnh không quân Nha Trang, người bạn thân của Gió Khơi yểm trợ trực thăng đưa đón đoàn viên Gió Khơi từ Nha Trang ra đảo. Bộ trưởng thanh Niên Võ Long Triều cũng ra thăm Gió Khơi.

Chuyến du ngoạn Hòn Chà Là (cách bờ biển Nha Trang 4 giờ tàu hải quân)

có cả gia đình thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ. Tôi dạy ông ta lặn dưới biển.

Thiếu tướng Kỳ dành nhiều thì giờ vào các ván xì phé với bọn cai đội không quân của ông. Bà Kỳ là người rất lịch sự, mang theo các con chung con riêng và lũ gia nhân. Hòn Chà Là rất hoang vu, không có cư dân, bãi biển đẹp tuyệt vời. Lúc về chúng tôi đi trực thăng với gia đình ông Kỳ.

Chuyến du ngoạn Hòn Thu (Phú Quý, Phan Thiết) vào dịp hè 1968 là chuyến đi biển dữ dội nhất. Vài ba trăm người khởi hành từ bến Bạch Đằng, Sài

Gòn gồm các sinh viên y khoa Sài Gòn, y khoa Huế, ca đoàn Gió Khơi, nhạc sĩ Lê Thương, nhà nho Trần Mộng Nam, họa sĩ Trọng Nội, các đoàn viên Gió Khơi đủ mọi thành phần…

Chiếc tàu hải quân 406 nhổ neo buổi chiều đi ngược gió ngược sóng lên phía bắc. Biển động sóng lớn chúng tôi bị nhồi lên nhồi xuống như một trái banh.

Qua một đêm hãi hùng, sáng hôm sau mặt biển lắng dịu … Hòn Thu hiện ra trước mặt với nhà cửa san sát, hàng dừa nghiêng ngả, thuyền bè tấp nập trên bãi cát trắng. Thật là một hòn đảo đầy sinh động. Bữa cơm đầu tiên trên đảo với cá thu tươi tuyệt ngon, xứng với danh hiệu Hòn Thu. Đảo còn di tích miệng núi lửa, phong cảnh ngoạn mục, cư dân trên đảo khỏe mạnh to lớn hơn dân trong đất liền, đàn bò mập mạp.

Ba ngày trên đảo chúng tôi tắm biển, lặn lội săn cá, làm công tác y tế xã hội và trình diễn văn nghệ quần chúng rất hào hứng. Một kỷ niệm khó quên.

Nhưng thơ mộng nhẹ nhàng nhất phải là chuyến đi Phú Quốc bằng máy bay của không đoàn vận tải 33 của trung tá Lưu Kim Cương, người bạn thân của Gió Khơi. Rồi tiếp tục bằng tàu hải quân…..

……Gió Khơi ra quần đảo Pulo Dama. Một vùng biển phẳng lặng bao quanh bởi những đảo nhỏ. Trời, Mây, Nước, Đá xám, Cây xanh, Cát trắng tạo nên một hòa âm thiên nhiên tuyệt vời khó tả. Chúng tôi cắm trại trên một hòn đảo chỉ có một gia đình cặp vợ chồng mới cưới.

Vô địch lặn sâu Âu châu Nguyễn Thành Nhơn và giáo sư thạc sĩ Trần Vỹ, bộ trưởng y tế cũng có mặt trong cuộc du ngoạn này. Anh Nguyễn Thành Nhơn người bạn rất quí đã đưa tôi vào thế giới huyền ảo dưới đáy biển.

Giáo sư Trần Vỹ là người thầy đã đưa tôi đi Mỹ du học và gây dựng y nghiệp cho tôi. Tất cả các cột trụ của Gió Khơi ngay từ thuở ban đầu đều có mặt trong chuyến đi này: họa sĩ Minh Đăng Khánh (phụ trách báo chí) giáo viên Nguyễn Thị Phấn, sinh viên bác sĩ Lê Hồng Chí, sinh viên kỹ sư Huỳnh Văn Hoàn (phụ trách Thiếu nhi), kỹ sư Nguyễn Đức Cường (phụ trách thể thao). Toàn bộ tham mưu Gió Khơi đều sống bên nhau mấy ngày thần tiên trên quần đảo thần kỳ Poulo Dama.

Anh Minh Đăng Khánh phẫn uất với cuộc đổi đời đã chết đầu thập niên

80. Chị Nguyễn Thị Phấn, Huỳnh Văn Hoàn và các thiếu nhi Gió Khơi đã hội ngộ nhiều lần tại Sài Gòn với vợ chồng tôi vào đầu thế kỷ 21.

Chị Phấn mới qua đời năm ngoái (2008). Bộ ba Tướng Sĩ Tượng Bùi Duy Tâm, Nguyễn Đức Cường, Lê Hồng Chí đã đụng đầu cùng một lúc trong dịp báo Thời Luận ra mắt số Xuân vào đầu năm 2008 tại quận Cam, Nam Cali.

Qua các hoạt động đa dạng thật

phong phú hoàn toàn bất vụ lợi trong chiều hướng dân tộc truyền thống và hiện đại, Gió Khơi đã thật sự đi vào lòng người dân miền Nam, đã ảnh hưởng ít nhiều trong tâm tưởng lớp thanh niên trí thức và đã góp phần nào trong việc chuyển hướng một nền văn hóa đáng nhẽ hết sức lai căng, hết sức tha hóa đã dần dần trở về nguồn gốc dân tộc trong vài ba lãnh vực. Vào dịp đầu xuân

Mậu Thân 1968 khi còn ngạt ngào khói súng, chưa im hẳn tiếng bom đạn, bác sĩ Bùi Duy Tâm với ngoài 33 tuổi đời, chủ tịch sáng lập phong trào thanh niên văn hóa Gió Khơi, trong bộ quốc phục xuất hiện trên đài truyền hình VNCH, trang trọng đọc bài diễn văn:

Buổi phát hình nhằm đúng thời gian biến cố Mậu Thân, khói lửa tơi bời thiên hạ hạn chế việc đi lại vào buổi tối trước chương trình văn nghệ Gió Khơi nên buổi nói chuyện của tôi được nhiều người nghe và tán thưởng. Duy chỉ có một người bạn mà tôi rất quý trọng đến gặp tôi, thẳng thắn góp ý là các chương trình đề ra quá to lớn ngoài khả năng của Gió Khơi. Ông nói rất đúng với thực tế, nhưng phàm những thành quả to lớn của nhân loại đều bắt nguồn từ những giấc mơ. Các nhà khoa học, các nhà cách mạng thường là những kẻ mơ mộng. Con chim Bằng không cất cánh lên chín tầng mây sao bay nổi qua đại dương để tới ao trời. Những chương trình phác họa ra trong bài diễn văn của tôi chỉ mới là bước đầu tìm đường trở về gốc rễ rồi theo chiều hướng đó mới có thể phát triển một xã hội theo đúng “cái Ta” để góp thêm một sắc hoa cho khu vườn nhân loại. Nếu các con dân của đất nước không đứng lên hay không cổ vũ thì chờ đợi một Thánh Nhân nào bên Tàu, bên Mỹ hay từ Trời giáng thế cứu ta sao. Vì chúng ta chưa làm nổi việc đó nên đất nước ta còn rối ren điên đảo, bảo thủ hội nhập theo định hướng quái gở phi dân tộc. Khi cây cam muốn làm cây quýt thì bao giờ mới khá được !

Các cống hiến của Gió Khơi cho thanh thiếu nhi cho xã hội hoàn toàn miễn phí. Các hoạt động của Gió Khơi bất vụ lợi. Đoàn viên Gió Khơi cũng như phụ huynh và gia đình không hề phải đóng nguyệt liễm, niên liễm hay một lệ phí nào cả. Gió Khơi không bao giờ kêu gọi quyên góp, không bao giờ bán vé vào cửa cho các buổi trình diễn văn nghệ …

Thế thì phương tiện hoạt động lấy ở đâu và Gió Khơi ông là ai ?

Trước khi trả lời thẳng vào câu hỏi, xin kể lại chuyện một buổi họp về Dự Án thành lập một Viện Trường (bệnh viện và trường đại học) nhân đạo tại Việt Nam. Vấn đề Miễn Phí đến bao nhiêu phần trăm đương bàn đi cãi lại thì một vị Sư Ông dõng dạc phát biểu: 100% – Mọi người hoài nghi cười nói: “Phương tiện đâu mà điều hành?” Nhà sư thản nhiên nói: “Nhà chùa chúng tôi làm bệnh viện Bình Dương này hoàn toàn Miễn Phí mà đã hoạt động hữu hiệu nhiều năm. Đồ trang bị hiện đại còn chất đầy kho mà các vị vừa thấy”. Đoạn Nhà Sư ôn tồn giải

thích: “Nếu người ta thấy công việc ích quốc lợi dân và hoàn toàn bất vụ lợi, xã hội nào cũng không thiếu các tấm lòng, chúng ta sẽ không thiếu phương tiện”. Trong thực tế cuộc đời, không thể miễn phí bất vụ lợi mà lại hữu hiệu hoài hoài được nhưng ít nhất cũng đã được thực hiện ở nhà chùa, nhà thờ và một vài tổ chức thế nhân như Gió Khơi.

Năm 1965, Gió Khơi khởi sự hoạt động. Cuộc du ngoạn hải đảo đầu tiên đi Côn Lôn bằng tàu hải quân. Năm 1966 bác sĩ Nguyễn Tấn Hồng, bộ trưởng thanh niên tài trợ để thuê cả một chuyến máy bay Air VN đưa Gió Khơi ra Nha Trang. Hải quân phối hợp với không quân dùng tàu và trực thăng đưa Gió Khơi ra đảo Bình Ba, Cam Ranh.

Và cứ như thế các cuộc du ngoạn Hòn Yến, Hòn Chà Là, Hòn Thu, Poulo Dama,… đều do phương tiện của hải quân, không quân. Gió Khơi không dựa vào một thế lực nào. Tất cả chỉ do sự “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” giữa các cá nhân mà kết bạn kết bè vui chơi với nhau hỗ trợ lẫn nhau.

Bộ trưởng Nguyễn tấn Hồng đi chơi thuyền buồm với Gió Khơi, hai cô con gái và một cậu con trai tham gia các lớp học vẽ Gió Khơi. Ông đem toàn lực bộ thanh niên giúp Gió Khơi. Đổng lý bộ thanh niên Trần Đỗ Cung sau này làm tổng cuộc trưởng tổng cuộc tiếp tế giúp Gió Khơi xây dựng bến tàu cho các hoạt động thể thao dưới nước.Anh Phạm Gia Cầu (tổng thư ký bộ thanh niên),anh Đỗ Tiến Đức(giám đốc thanh niên) ,anh Nguyễn Thành Nhơn và anh Đặng Vũ Phầu (giám đốc thể thao) sau này các bộ trưởng hay tổng giám đốc kế tiếp là đại tá Hồ Văn Di Hinh, đại tá Hiệp, kỹ sư Võ Long Triều, kỹ sư Đặng Văn Châu đều đi chơi với Gió Khơi và hỗ trợ Gió Khơi hết mình.

Các tổng bộ trưởng GS. Trần Văn Kiện (Tài chính), GS. BS. Trần Ngọc Ninh (văn hóa giáo dục và thanh niên), GS. BS. Nguyễn Văn Thơ (y tế, giáo dục) đều tham dự và cho gia đình tham gia các hoạt động của Gió Khơi.

Tư lệnh không đoàn vận tải Tân Sơn Nhất Lưu Kim Cương, tư lệnh không quân Nha trang Nguyễn Huy Ánh rồi sau này làm tư lệnh không quân Cần Thơ đều là bạn thân với Gió Khơi. Tôi còn nhớ khi dạy Lưu Kim Cương trượt nước, tôi lái tàu horsbord, kéo Lưu Kim Cương đứng lên khỏi mặt nước đi ski được ngay lần đầu tiên. Mọi người khen giỏi, anh ta nói: “Thấy ông Tâm la mắng mấy cậu lên không nổi nên mình sợ quá phải cố ngoi lên cho bằng được”. Đại tá Vũ Thế Quang, người hùng tử thủ Buôn Mê Thuột cũng là học trò trượt nước của tôi. Phi công thần phong Trần Bá Hợi là bạn rất thân với Gió Khơi và tôi cho đến bây giờ. Đề đốc Trần Văn Chơn, tư lệnh hải quân, phó đề đốc Đặng Cao Thăng, tư lệnh phó hải quân và đại tá Nguyễn Văn Ánh, tham mưu trưởng hải quân thường hay cấp tàu đi hải đảo cho Gió Khơi, tham dự các hoạt động của Gió Khơi và là bạn thân của tôi cho đến khi di tản sang Mỹ.

Giám đốc điện ảnh/thông tin Đỗ Tiến Đức, giám đốc đài truyền hình Đào Đức Kỳ cùng phó giám đốc Nguyễn Hiền đều dành nhiều cảm tình và đối xử đặc biệt với Gió Khơi. Asia Foundation qua anh Khuê tài trợ cho nhiều chương trình văn hóa của Gió Khơi.

Mọi người ủng hộ và tham gia Gió Khơi, ngoài lý do các hoạt động của Gió Khơi vui chơi lành mạnh, xây dựng trong đường lối dân tộc và bất vụ lợi còn chính vì bị thuyết phục bởi lòng vững tin vào công cuộc mình đang làm của người đứng mũi chịu sào. Phàm làm việc gì tôi cũng dốc hết Tâm Lực và đem cả Gia Đình tham gia.

Vợ tôi cũng dạy trẻ em đàn hát như các huynh trưởng khác của Gió Khơi, nha sĩ Việt Hương cũng làm công tác xã hội y tế như các y nha dược sĩ khác của Gió Khơi. Bùi Duy Bố Tâm làm đoàn trưởng Gió Khơi thì các con Bùi Duy Việt Hà, Bùi Duy Linh làm đội trưởng Gió Khơi.

Bùi Duy Em Bé Thiện mới 4,5 tuổi đã bắt chước chủ tịch Bùi Duy Bố Tâm hò hét các đoàn viên tí nhau Gió Khơi, đã vung tay cầm càng bắt nhịp cho ban đồng ca thiếu nhi trên sân khấu nhạc viện Sài Gòn (QGAN). Bùi Duy Em Bé Việt Hồng còn phải ẵm trên tay mẹ cũng tham dự Triển Lãm Hội Họa Gió Khơi như một ủng hộ viên.

(Sau này khi tôi làm y khoa Minh Đức, các con tôi Việt Hà, Duy Linh đều đầu quân vào y khoa Minh Đức. Phải chăng việc đó chứng tỏ khoa trưởng sáng lập Bùi Duy Tâm vững tin Minh Đức sẽ sống, sống mạnh để thành một trường đại học y khoa kiểu mẫu cho VN. Vì thế danh sách sinh viên y khoa Minh Đức đã có thêm hai cậu con trai bộ trưởng gíáo dục/y tế, khoa trưởng nha khoa Nguyễn Văn Thơ, hai cô con gái giáo sư viện trưởng Pasteur, quốc vụ khanh Nguyễn Văn Ái, con trai giáo sư thạc sĩ y khoa Đào Đức Hoành, con trai giáo sư phó khoa trưởng nha khoa Lê Trọng Phong, con trai con gái trung tướng Lâm Quang Thơ, chỉ huy trưởng trường Võ Bị Đà Lạt, con trai trung tướng Nguyễn

Văn Quang, cố vấn an ninh của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, con trai nhà văn nhà báo Trương Tử Phòng Phạm Kim Vinh, cháu nhà văn Duyên Anh v.v….)

Trong gần 10 năm hoạt động trong nhiều lãnh vực, tiếp xúc với nhiều thành phần trong xã hội đủ mọi khuynh hướng văn hóa, xã hội và cả chính trị nữa, Gió Khơi chưa bao giờ có nứt rạn trong nội bộ và cũng chưa bao giờ bị dư luận bên ngoài ta thán. Con thuyền Gió Khơi do một tay lái vững chắc đi về một hướng được mọi người đồng ý nên đồng tâm nhất trí vui thích thực hiện hoài bão của mình. Trong đoàn mỗi người một nhiệm vụ như chân tay trong cơ thể: “Huynh Đệ như Thủ Túc”. Đối ngoại, không kỳ thị, không thành kiến kết bạn với mọi người cùng một

chí hướng “Tứ Hải giai Huynh Đệ”.

Viết lại chuyện trên dưới 40 năm qua thật khó chính xác và khách quan. May thay tác giả bài viết này dù trải qua bao cuộc bể dâu đổi đời (tù đày, vượt biên …) nhưng do nhiều cơ may hãn hữu đã thâu lượm lại được các tài liệu cũ (do cơ mưu của mình một phần, do bạn bè thương mến giữ được và gửi lại cho một phần) nên không gì trung thực và khách quan hơn là đem trình bày sau đây những tài liệu nhận định và phẩm bình của dư luận thời bấy giờ đối với phong trào Thanh Niên Văn Hóa Gió Khơi:

Tuy được lớp người trung lưu trí thức hưởng ứng và dư luận báo chí cổ vũ, Gió Khơi với địa bàn hoạt động giới hạn và thời gian ngắn ngủi trước cơn quốc biến 1975, chưa đạt được mục tiêu chính mình đưa ra để cải tạo một xã hội gần 100 năm nô lệ tiếp theo 30 năm chiến tranh tương tàn chi phối bởi những động lực ngoại lai. Gió Khơi và vài tổ chức khác đưa ra chiều hướng về nguồn để thoát khỏi những tai ách ngoại lai chỉ như muối bỏ bể vì không được coi là quốc sách của miền Nam. Miền Bắc có chính sách thanh niên văn hóa rõ ràng rất nghiêm túc nhưng hướng về chiến tranh và tuyên truyền. Thanh niên tất cả lên đường ra mặt trận, việc giáo dục và đồng áng giao lại cho người già và đàn bà con gái. Trong chiến tranh việc giáo dục đã thu ngắn lại hạ thấp trình độ, các bộ môn văn nghệ cổ truyền vẫn được phát triển nhằm phục vụ tuyên truyền. Đến khi hòa bình trở lại, đất nước đã thống nhất. Chương trình giáo dục mất hẳn đi phần cổ điển. Người ta lại đổ xô đi học ngoại ngữ nhất là Anh văn. Lịch sử chính thống khách quan và văn học nghệ thuật toàn quốc(hai miền) Việt Nam không có chỗ đứng xứng đáng trong chương trình giáo dục trung tiểu học. Ba mươi năm chiến tranh chém giết lẫn nhau, 30 năm hòa bình(dất nước thống nhất nhưng lòng người còn phân hóa) lại hối hả vơ vét tiền bạc. Nhà nước xây mở các trường sân khấu,tuồng chèo, ca múa, dân ca quan họ rất nghiêm túc. Những nghệ sĩ tốt nghiệp ra trường chỉ phục vụ cho ngành du lịch: hát cho Tây nghe – chẳng ảnh

hưởng gì đến cái xã hội đảo điên với nền kinh tế thị trường mới hội nhập. Đoàn chèo Hà Nội, mỗi tuần chỉ diễn có một đêm thứ sáu. Cả một rạp hát lớn, tôi đếm được 12, 13 người xem khi ra về mới biết được quá nửa là người trong đoàn không thủ vai gì trong đêm đó nên rỗi hơi ngồi xem cho rạp đỡ trống trải. Tôi đến chỗ hát ca trù thì vừa lúc thầy đàn con hát đứng dậy ra về vì không có khách. Tôi vẫy tay xin bầu đoàn ngồi lại tôi bao cả đêm hát. Tiếng hát ư ử ư, i í ì i, tiếng phách ròn, tiếng tùng cắc của trống chầu cùng âm thanh đùng đục của đàn đáy như nhắc nhở người khách mộ điệu hiếm hoi này rằng: “Văn minh Đông Á trời thu sạch …” Các nước Âu Mỹ, trong mùa đại nhạc kịch opera, mua được cái vé đi xem là phải đặt từ trước hay phải mua cả

mùa. Lúc đi thì ăn mặc chỉnh tề lấy làm hân hạnh được đi dự. Đến St Petersburg hay Moscova mới thấy dân chúng đi xem đại nhạc kịch tấp nập trang trọng và hào hứng như thế nào. Một việc vận quốc phục trong các buổi quốc lễ long trọng cũng không biết để bọn APEC phải ra lệnh mới làm. Ăn mặc lại lôi thôi không đúng cách: áo dài đàn ông mà không sống áo như áo đàn bà, áo dài ta với quần tây đủ màu như phường tuồng.

Trường ca múa dân tộc bắt chước Trung Quốc thời cách mạng văn hóa mang các bước nhảy ballet của Tây phương vào các điệu múa dân tộc. Hát dân ca theo giọng opera đến nỗi khi ca sĩ đoàn ca múa trung ương hát xong một bài quan họ Bắc Ninh thì chủ tịch Hồ Chí Minh cười hỏi: “Chú hát bài gì vậy”.

Từ lúc Gió Khơi mới khởi sự hoạt động vào hậu bán thập niên 60 cho đến nay đã hơn 40 năm gần ½ thế kỷ, quê hương Việt Nam đã thống nhất hòa bình. Nhưng xã hội Việt Nam đã có những thế hệ thanh thiếu nhi lành mạnh chưa ? Đất nước Việt Nam đã độc lập nhưng lãnh thổ, lãnh hải còn được vẹn toàn không? Chính thể Việt Nam có tôn trọng các khuynh hướng đa dạng về xã hội nhân văn, khoa học và nghệ thuật chưa ? Lòng người đã rũ hết tàn tích nô lệ vọng ngoại, đã rửa sạch hận thù chiến tranh, đã hết phân hóa chưa?….. để cái Tâm được Chính cái Ý được Thành, Nhà được yên ổn, Nước được thịnh trị thì Thiên Hạ mới mong được thái bình.

Lục lại trong đống tro tàn của thời gian, tìm được một mảnh giấy vụn viết lên những ƯỚC MƠ của Gió Khơi từ hơn bốn chục năm qua. Đọc lại TÂM TƯ của một tiểu tử, một hàn sinh tuổi vừa qua tuần tam thập… từ ngày xửa ngày xưa mà thấy hình như vẫn còn là mục tiêu tranh đấu của người Việt Nam trong nước và ngoài nước ngay hôm nay nên xin yết ra đây để làm kết luận:

Viết xong 6 giờ 34 phút thứ hai đầu tuần, sáng ngày 27 tháng 7 năm 2009

Gió Khơi BÙI DUY TÂM

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *