KHÓC

Gia đình Bùi Duy Tâm

TỨ THÂN PHỤ MẪU

KHÓC CHA

(BÙI DUY TÂM, người con trai đầu lòng, viết Lời Khóc Cha từ bên kia bờ Thái Bình Dương, khi Cha ngã bệnh nặng, trao phó cho Bùi Duy Tân, người con trai thứ sáu, đọc trong Lễ An Táng nhưng năm rưỡi sau 23/10/1990 Cha mới mất. Anh chị Cả về kịp để Chôn Cha và Khóc Cha.)

Cha kính yêu của chúng con,

Vẫn biết rằng Mây Tản, Tuyết Tan, Hoa Tàn, Nguyệt Khuyết là lẽ tuần hoàn của Trời Đất và việc Tử Sinh cũng là cái vòng Luân Hồi của một kiếp người. Nhưng trong buổi tiễn đưa cha về cõi hư vô, chúng con không tránh được nỗi đau xót đoạn trường của những đứa con mất cha và cũng không ngăn được dòng lệ ứa tự trong tim.

Theo lời Cô Hai kể lại: Hồi còn nhỏ, khi nghe tin bà nội mất, Cha đã nằm vật xuống đất khóc lăn lóc từ ngoài ngõ vào đến trong nhà. Hình ảnh cậu bé Bùi Văn Tĩnh giàu tình cảm, quá quyến luyến với mẹ đã hiện lại trong thời thơ ấu của anh Cả.

Nhìn những tấm ảnh cha chụp bên Pháp trong buổi thanh xuân, chúng con không khỏi bàng hoàng nhìn ra người thanh niên Bùi Văn Tĩnh đó như hiện lại trong tấm ảnh của anh Cả, anh Hai trong thời gian du học nước ngoài.

 

Bức hình cha chụp trong vườn Lục Xâm Bảo (Luxembourg ở Paris) đã thôi thúc anh Cả đến tận nơi đó để chụp một bức hình tương tự. Anh Cả đã được cha cho xem những trang thiết bị y phục phi công mà cha đã mua sắm, nhưng mộng không thành vì thực dân Pháp chẳng muốn đào tạo phi công cho dân thuộc địa.

Rồi cuộc hôn nhân với mẹ con: nào là Lễ Hỏi bị bà ngoại vứt trả về, nào là lễ cưới sang trọng của một chú rể tuấn tú kính trắng gọng vàng bên cạnh một cô dâu xinh đẹp học thức đàn hay.

Những năm tháng hạnh phúc êm đềm trôi qua bên bờ sông Cửa Cấm, trong khuôn viên nhà máy chai Hải Phòng.

Anh Cả, anh Quang và chị Minh ra đời trong sự nâng niu chiều chuộng của cha mẹ như những công tử, tiểu thư con nhà khuê các. Rồi sự mua sắm một chiếc xe nhà kiểu cách với người kéo để đưa mẹ đi chơi và hai anh đi học, lại càng tỏ rõ lòng yêu vợ quí con của cha với nhiều cố gắng và hy sinh đến chừng nào! Cái di truyền đó đã để lại cho tất cả các con trai của cha và còn cho tới thằng cháu Bùi Duy Thiện của ông nội nữa.

Năm 1940, quân đội Nhật đổ bộ vào Hải Phòng. Tiếng giày xăng đá nện gót trên đường bờ sông Cửa Cấm cùng với tiếng hát man rợ của đoàn quân viễn chinh đã mở đầu cho một cuộc chiến tranh tàn khốc và liên tục suốt hơn 30 năm. Tai họa và phân ly cũng bắt đầu với gia đình ta. Sau một tuần lễ mất tích, một buổi sáng kia, cha đã thoi thóp trở về nhà trên một chiếc xe kéo với thân thể nát bầm.

Bọn Phát xít Nhật đã treo ngược cha lên trần nhà, hành hạ suốt một tuần vì cha đã phẫn nộ phản đối lối cư xử hà hiếp của chúng. Trong khi hai anh lớn lên Hà Nội học cho bằng người thì anh Duy Anh, Duy Tuấn và con đã ra đời tại Hải Phòng trong hoàn cảnh gia đình sung túc vì tài kinh doanh của cha.

Mỹ ném bom Hải Phòng rồi Hà Nội, cha đã tản cư gia đình về Thanh Hóa rồi Sầm Sơn. Ở mỗi nơi, mẹ và chúng con đều ngự tại một ngôi biệt thự sang trọng chỉ biết học và chơi:

“ Sầm Sơn vui thú biết bao, Lòng ta khao khát ước ao….”

Trong khi đó, Cha vẫn lăn lưng kiếm sống tại Hà Nội, Hải Phòng trong bom đạn của Mỹ – Nhật và thỉnh thoảng về thăm gia đình bằng xe đạp. Có lần Cha bị cọp rượt trong lúc cong lưng đạp xe qua đèo Đò Lèn ban đêm trên đường từ Hà Nội về Thanh Hóa thăm mẹ và chúng con.

Cách mạng tháng tám năm 1945 đã đưa gia đình ta trở về thủ đô Hà Nội, sống trong cảnh sung túc tại ngôi nhà hai tầng to lớn ở Hàng Bột. Đêm Noel năm đó, gia đình ta đi nhà thờ bằng xe ôtô nhà. Thời đó có xe ô tô nhà là sang lắm, là oai lắm! Có lẽ nhà ta là một trong những gia đình đầu tiên ở Hà Nội có Radio, nên phải vặn to và hướng ra ngoài đường cho đồng bào khu phố nghe nhờ. Mẹ mở một cửa hàng tạp hóa ngay tại nhà và cha điều khiển một xưởng máy bên kia đường gần nhà. Cuộc sống đang vui tươi phấn khởi với nền độc lập mới toanh của đất nước thì thực dân Pháp lại hung hăng trở lại. Gia đình ta tản cư ngay về Kiên Lao (Nam Định). Mẹ và chúng con lại sống một cuộc đời vương giả sau bức tường thành cổ kính với gia đình bác Giáo Anh. Và cũng như mọi lần, cha lại trở về Thủ Đô vật lộn với cuộc sống đầy đe dọa.

Hiệp định sơ bộ làm tình hình lắng dịu phần nào, gia đình ta dọn lên tỉnh Nam Định trong một ngôi biệt thự to lớn trông ra Hồ Bên Đồng (hồ Raquette) (ở chung với chú Minh) rồi sau dọn ra gần đó (ở chung với cô chú Đặng Hồi Xuân) và cuối cùng trở về Hà Nội ở trong một ngôi biệt thự rộng rãi như một trang trại nhìn sang Chùa Láng. Rồi cha say sưa đóng góp công sức vào “ Tuần lễ vàng” đến nỗi mấy năm sau trong lúc tản cư, chúng con còn dùng giấy cổ động cho tuần lễ vàng để đóng vở học.

Tháng 12,1946 cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Gia đình ta theo kháng chiến bỏ Thủ Đô tản cư về miền biển Kiên Hành, quê ngoại của mẹ. Thế

là chúng con bắt đầu một cuộc sống thật êm đềm nơi thôn dã với các thú đánh cờ, thả diều, câu cá, hớt rươi, hum chuột, tắm sông, tát ao, kéo đá, xay lúa, giã gạo và đánh bài thâu đêm trong những tháng đầu xuân.

Người cha kính yêu của chúng con lại hiên ngang với cây kiếm Nhật hăng hái tổ chức trại Ruộng Muối cho các đồng bào tản cư.

Cuộc kháng chiến trở nên trường kỳ thì gia đình ta cũng dần dần khánh kiệt. Cha phải đi làm ăn nơi xa khi thì Đống Năm – Chợ Đại, khi thì Khu Tư

– Thanh Hóa – Lâu lâu lại cưỡi xe đạp mang tiền về cho mẹ con. Một lần cha đưa cho mẹ con một số tiền rất lớn (7.000đ) để đong gạo dự trữ. Nhưng chẳng may dọc đường mẹ con đánh rơi mất. Trong lúc cô đơn bối rối, mẹ con còn bị kẻ gian lừa đảo dụ dỗ mất thêm tiền cho bọn ông Đồng, bà Cốt để mong tìm lại của đã mất, thật là cay đắng!

Một đêm, cha bỗng nhiên từ Khu Tư đạp xe về nhà trong dáng mệt mỏi và lo sợ. Từ đó cha ở luôn với gia đình. Gia đình ta ở Hoành Nha một thời gian vì hai anh lớn học bậc Trung học ở Trà Bắc. Sau trường dọn về Hội Khê Ngoại vì chiến tranh lan tràn. Gia đình ta lại dọn theo trường của hai anh về Hội Khê Ngoại. Việc dọn nhà hồi đó đều bằng thuyền cả. Hai anh lớn học rất giỏi luôn đứng nhất nhì trong trường lớp (bậc Trung Học). Cho nên việc học của hai anh trở thành niềm hy vọng độc nhất của gia đình ta lúc đó rất nghèo. Gia đình ta đã có thêm em Bình An hồi 1946 ở tỉnh Nam Định, nay lại có thêm em Bình Hòa ở Hội Khê Ngoại năm 49. Tuy ở nhà nhưng cha đâu có ngồi yên được. Cha tự làm cho mình thành một bác sĩ chuyên trị bệnh đau mắt hột (đánh mắt và tra thuốc). Dân làng ùa đến chữa mắt và đền công thầy bằng những nải chuối. Thế là cả nhà ăn chuối no nê. Giặc Pháp tràn đến và chiếm gần hết các vùng quê Nam Định. Gia đình ta phải vượt qua sông Cái lúc nửa đêm sang tỉnh Thái Bình và đến ở làng Trình Phổ, cũng ở nơi đó có trường Trung học cho hai anh lớn tiếp tục việc học. Hàng ngày mẹ phải đội thúng quần áo cũ của gia đình cùng với chị Minh ra chợ bán lấy tiền đong gạo. Gia đình ta ở một túp nhà tranh giữa đồng

không nông quạnh. Trời mùa đông gió rét cắt ruột, anh Cả vẫn cắm cúi vào sách vở và lợi dụng việc đổi trường để học nhảy một lớp. Đây là lúc gia đình ta nghèo khổ nhất và cũng là thời điểm mà cha phải quyết định cho gia đình vượt lại con sông Cái trở về Nam Định sống trong làng Hành Thiện là quê nội của mẹ. Cha lại lần mò trở về Hà Nội, gặp được bạn cũ là Bác Chành chủ hiệu ảnh Lumière Photo ở phố hàng Trống. Thế là cha bất đắc dĩ bước vào nghề ảnh và ăn ở luôn tại phòng khách trên gác hiệu ảnh.

Anh Cả đỗ Thủ Khoa kỳ thi Trung học đệ nhất cấp ở Trung Linh, làm vẻ vang cả nhà. Mẹ nở mày nở mặt với họ hàng làng Hành Thiện, một làng nổi tiếng nhiều đại khoa nhất đất Bắc. Cha phấn khởi như vừa gặp cơn gió mát làm khô đi những giọt mồ hôi còn hòa với nước mắt sau những buổi trưa hè ruổi rong kiếm sống. Thế là hai anh lớn được lên Hà Nội tiếp tục học ban Tú Tài và được nhận vào Trường Chu Văn An. Tất cả đều do sự cố gắng hy sinh và công khó vận động của Cha.

Anh Cả học nhảy thêm một lớp nữa và đậu Tú Tài I, năm sau được giải thưởng nhất toàn quốc về toán và đậu luôn Tú Tài II. Anh Hai theo gương Anh Cả cũng nhảy thêm một năm và đậu cả hai cái Tú Tài một năm sau đó. Gia đình ta dọn

từ nhà quê Hành Thiện lên Hà Nội, để các em nhỏ được tiếp tục học tại Thủ Đô.

Anh Cả lại đậu thứ nhì vào trường Đại học Quân Y và sẽ là người bác sĩ đầu tiên trong đám bà con họ hàng cùng cái xã hội Tin Lành nhỏ bé của Nước Việt Nam thời bấy giờ.

Lúc Anh Cả báo tin này, cha sung sướng đến lặng người đi – giọt nước mắt kiêu hãnh lại hòa với giọt mồ hôi kiên nhẫn trên gương mặt đầy nghị lực của một người cha đã suốt đời phải phấn đấu với hai bàn tay trắng. Cha đã đại thành công trong việc tạo dựng sự nghiệp cho Anh Cả tức là cho toàn thể đại gia đình. Điều này đã đúng cho đến tận bây giờ (tức là hơn ba chục năm sau).

Anh Cả đính hôn với Chị Việt Hương, một thiếu nữ vừa đẹp người, đẹp nết lại học giỏi, con nhà gia giáo đạo đức.

Mỗi lần từ ngôi trường sang trọng trở về trong bộ quân phục quan hai nhà thuốc để đưa hết số lương hàng tháng cho Mẹ: Cha Mẹ hãnh diện, các em sung sướng. Öt Thuận ra đời vào tháng 4 năm 1954.

Vài tháng sau, Anh Cả đi Đà Lạt nghỉ hè với nhà trường. Không ai có thể ngờ rằng đó là lần đi xa nhà hơn 20 năm.

Nhà ta lại dọn về một ngôi nhà to lớn trên phố Huế (Đường Đồng Khánh) để cha mở nhà in. Công việc không thuận lợi như cha tưởng.

Nhà ta lại dọn về một biệt thự to lớn đường Lý Thái Tổ – Và sau này cùng với hướng đi của xã hội, gia đình ta lui dần xuống ở dãy nhà phụ thuộc cho đến bây giờ.

Minh lấy chồng – Tân lấy vợ rồi đến An, Hòa cũng yên bề gia thất. Cha mẹ đã gây dựng gia đình cho con cái một cách tốt đẹp trong cái giới hạn của thời cuộc. Cha vẫn ngược xuôi kinh doanh nhưng sinh hoạt kinh tế của xã hội ngày nay không còn phù hợp với lối suy nghĩ tính toán của cha nữa. Những sự buồn phiền về công ăn việc làm đưa đến tình trạng loét dạ dày và xuất huyết trầm trọng đến nỗi phải mổ cắt dạ dày. Trên đường được đưa đến phòng mổ, cha ngước nhìn mẹ nước mắt chảy dòng, chắc cha lo sợ vợ con mình sẽ ra sao nếu chẳng may có mệnh hệ gì. Nhưng mọi việc đều êm đẹp dưới bàn tay Hoa Đà của Danh Y Tôn Thất Tùng. Cha lại khỏe mạnh, lại bon bon xuôi ngược chạy công kia việc nọ. Công việc gì? Trong gia đình cũng chẳng ai biết đích xác.

Mẹ đã về hưu không còn dạy học nữa. Trong suốt 20 năm chiến tranh ác liệt với các cuộc oanh tạc trải thảm, đại gia đình ta đã thoát chết. Người đầu tiên trong gia đình được cái vinh dự khoác chiến y là thằng Öt và nó lên đường vô Nam đúng ngày 30 tháng 4 năm 1975. Đất nước đã thống nhất nhưng lòng người còn rối bời. Mẹ vô Nam trước để đón Anh Cả trong trại cải tạo ra.

Tết năm 1977, Anh Chị Cả ra Hà Nội thăm đại gia đình. Lần đầu tiên, sau 23 năm xa cách, được gặp lại người con trai đầu lòng tại sân bay GIA LÂM, Cha không cầm được đôi dòng lệ đã gần khô cạn của một ông già trên 70 tuổi – nước mắt sung sướng hay nước mắt thương cảm đây? Hai cha con đi thăm Cô Hai ở Hòn Gay – Bãi Cháy – Vịnh Hạ Long. Trong đêm ngủ lại nhà cô, Anh Cả mới biết thêm nhiều điều về Cha: Cha quyến luyến với Bà Nội nhiều chừng nào! Cha ôm ấp một tình yêu tuyệt đối ra sao? Bây giờ mới vỡ nhẽ ra là cái quan

niệm tình yêu lý tưởng ở Anh Cả và ở cháu Thiện là di sản từ cha, từ ông nội. Anh Cả, do đó, đã hiểu mình và hiểu con mình nhiều hơn.

Anh Cả rất xúc động khi về thăm quê ngoại Kiên Hành. Vẫn người xưa (ông bà Ký Căn, ông Hào Đằng) nhưng cảnh cũ nay đã đổi thay: Từ làng ra biển trước kia toàn là ruộng lúa nương dâu mà nay nước biển đã tiến gần tới lũy tre cuối làng. Tính lại từ ngày gia đình ta tản cư về nhà ông bà Ký Căn, sau dọn sang nhà Hào Đằng đến nay đúng 30 năm, vừa đúng 1đại (1 đời). Cuộc đời Dâu Biển đã xảy ra thật ngay nhãn tiền.

Xa nhau hơn hai chục năm, cha con không khỏi bỡ ngỡ khi mới gặp nhau nhưng nay cha đã hiểu con nên Cha đã ưng thuận vào Nam ở với người con trai đầu lòng của mình.

Mỗi buổi sáng, Cha đi bơi thuyền trên sông. Mỗi buổi chiều, Cha đi hồ tắm với cô cháu nội Việt Hồng tại câu lạc bộ thể thao.

Thỉnh thoảng Anh Cả đưa Cha Mẹ đi du ngoạn Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt, Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Thủ Đức, Vũng Tàu….. ở và ăn tại những khách sạn sang trọng.

Có lẽ ba năm 1977, 1978, 1979 là thời gian Anh Cả đã được an ủi và thỏa lòng phần nào trong việc báo hiếu và phụng dưỡng cha mẹ già. Tội nghiệp Anh Cả cả đời luôn giữ đạo “TRUNG HIẾU” làm đầu mà hoàn cảnh trớ trêu đã xô đẩy Anh phải xa quê hương xa Cha Mẹ…

Anh Cả còn nhớ câu chuyện cha đánh rớt Chị Cả trong lúc chở chị từ phòng mạch về nhà. Khi về đến cổng nhà, Cha mới hoảng hốt vì không thấy Chị Cả ngồi sau xe thì Chị Cả cũng vừa về tới, tươi cười trên xích lô bước xuống.

Gần bốn chục năm trước khi còn ở phố Nhà Chung tỉnh Thanh Hóa cũng đã một lần cha đánh rơi Mẹ trên đường ruộng ngoại ô tỉnh Thanh Hóa lúc ban đêm. Khi lết được tới nhà, Mẹ khóc rất nhiều.

Vào năm 1978 – 1979 khi gia đình Anh Cả cần có quyết định quan trọng, Mẹ và các em không có hộ khẩu trong Nam nên Cha lại phải hy sinh đổi kế hoạch. Sự quyết định khó khăn của Cha đã buộc Cha phải cay đắng xa lìa đứa con hiếu thảo, nhưng đã mang lại NO ẤM cho cả nhà nhất là cho gia đình chúng con (Bùi Duy Tân) và tương lai cho thằng Öt.

Trước khi nằm xuống, Cha Mẹ lại lo xong đám cưới cho Anh Năm, một đám cưới sang nhất thủ đô và cũng là đám cưới cuối cùng trong 9 đứa con.

Sau đám cưới anh Tuấn, Cha ngã bệnh.

Một năm sau (tháng 8, 1989) anh Cả về thăm Cha và gia đình sau 10 năm xa cách.

Sau 2 năm nằm liệt giường, Cha qua đời ngày 23/10/1990. Đại Gia Đình ta cùng về Sài Gòn tiễn đưa Cha về nơi cuối cùng.

Cha Mẹ đã tài giỏi và tận tụy cả đời để tạo dựng sự nghiệp cho Anh Cả, Anh Hai và chúng con. Cha lại dũng cảm và khôn khéo giữ được sản nghiệp đó. Mẹ lại thông minh tuyệt vời để phát huy cơ nghiệp đó. Tất cả chúng con và gia đình chúng con suốt đời ghi nhớ công ơn Cha Mẹ “Như núi Thái Sơn”, như “Nước trong nguồn chảy ra”.

Cha ơi! Suốt cả đời, Cha đã làm việc say sưa miệt mài, tận tụy hy sinh cho tương lai của chúng con. Sự nghiệp ngày nay của chín đứa con đã tạo nên bằng những giọt mồ hôi và nước mắt của Cha. Nếu trong chúng con, có đứa nào được người đời kính trọng là đã tiếp thu được cái di truyền khẳng khái khí phách ở nơi Cha.

Những khó khăn của Cha chỉ là những khó khăn của dân tộc, những việc chưa thành công của Cha cũng chỉ là những công việc chưa thành công của đất nước.

Chín đứa con của Cha đã đang và sẽ tiếp tục thực hiện những giấc mơ của Cha cho bản thân, gia đình và quê hương dân tộc. Dòng máu của Cha đang tưới nhuần và nảy lộc từ Bắc chí Nam và cả bên kia bờ Thái Bình Đại Dương. Những tinh túy của Cha đang tiềm tàng và phát triển trong mỗi đứa con, mỗi đứa cháu, mỗi đứa chắt của Cha.

Xương thịt của Cha còn đó. Tinh thần của Cha còn đó.

Cha sống mãi trong hình hài và tâm hồn của mỗi chúng con cùng các cháu, chắt… Cha ơi! Cha….ơi! Cha.

Viết xong 4 giờ sáng, thứ bảy 25 tháng 3 năm 1989

Tức là đêm về sáng ngày cưới của con trai BÙI DUY THIỆN

BùiDuyTâm

KHÓC MẸ

Thưa quý cụ, quý vị và các bạn thân mến, Tôi là Bùi Duy Tâm,

trưởng nam của gia đình họ Bùi Duy.

Người nằm đây là Mẹ tôi,

cụ bà Nguyễn Thị Định, sinh năm 1914, tuổi Dần ,

xuất thân là một bà giáo được phong “Nhà Giáo Dạy Giỏi” và được thưởng “Huân Chương Kháng Chiến”. Mẹ tôi dành cả cuộc đời cho việc giáo dục học sinh và nuôi dạy con, cháu, chắt thành người lương thiện, biết yêu Tổ Quốc và Nhân Loại.

Mẹ tôi sinh hoạt bình thường cho đến khi đột quỵ tối ngày 1 tháng 6 và qua đời sáng hôm sau 2/6/2007 nhằm giờ Tỵ ngày 17 tháng 4 năm Đinh Hợi, thọ 94 tuổi ta.

Quý cụ, quý vị ,quý bạn có lòng yêu mến, nhớ thương tới đây thăm viếng Mẹ tôi lần chót và phúng điếu chia buồn cùng gia đình chúng tôi trong sự mất mát vô cùng to lớn này. Thay mặt toàn thể tang gia, tôi xin thành thực tri ơn cảm tạ quý cụ, quý vị và quý bạn .

Chỉ còn vài giờ nữa thân xác Mẹ tôi sẽ chôn vùi vào lòng đất, tôi xin phép được đôi lời vĩnh biệt Mẹ tôi:

Mẹ ơi! Khi con mới là một bào thai 3 tháng, Mẹ đã đặt cho con một cái tên tuyệt đẹp là Tâm (dù trai hay gái), là Duy Tâm nghĩa là chỉ cần một tấm lòng. Cha đồng ý ngay. Cha Mẹ không cầu cho con được giàu sang phú quý mà chỉ mong cho con:

“Có một tấm lòng là đủ, Làm việc gì cũng chẳng hề sai”

Con mang cái tên Bùi Duy Tâm như một phương châm cho cả đời con.

Ngày lọt lòng Mẹ, con đã không làm Mẹ đau nhiều, chỉ chuyển bụng vài giờ rồi con nhẹ nhàng bước ra, cất tiếng chào đời, không làm Mẹ thương tổn phải cắt may như đa số các bà mẹ sinh con so lần đầu.

Trong thời kỳ măng sữa, mỗi lúc bừng tỉnh dậy, Mẹ đã bên giường âu yếm nhìn con. Con nhận biết mọi sự qua Mẹ, con nhìn đời qua Mẹ.

Nhớn lên đi học, hàng năm đến ngày khai trường, Mẹ mua sắm cho con quần áo mới, sách vở mới, dắt con tới trường, kính cẩn chào thày, vui vẻ gặp bạn .

Trong thời tao loạn kháng chiến chống Pháp, phải dời thành phố tản cư về làng quê, Cha Mẹ nuôi thày dạy trong nhà để anh em chúng con được tiếp tục học. Nghe tin con đỗ Thủ Khoa kỳ thi Trung Học Phổ Thông, Mẹ theo bà con lối xóm ra đầu làng Hành Thiện đón con, nước mắt rưng rưng.

Mẹ luôn tìm cơ hội cho con được gần các anh lớn học giỏi làm gương mẫu: anh Trần Đỗ Trinh, nay là Giáo Sư Viện Trưởng Viện Tim Mạch (hiện có mặt tại đây) đã từng ở trong nhà ta hồi còn đi học trường Bưởi .

Mẹ kết nghĩa chị em với anh Lê Đỗ Nguyên nay là Trung Tướng Phạm Hồng Cư, Cục Phó Chiến Tranh Chính trị QĐNDVN (Hôm nay cũng có mặt nơi đây) để con được làm em kết nghĩa với anh trong tình huynh đệ sói con Hướng Đạo.

Đến tuổi hai mươi, con là một sinh viên trường thuốc, một đối tượng lý tưởng cho đám thiếu nữ Hà Thành. Cha Mẹ để ý trong đám xuân xanh ấy, cô Đỗ Thị Việt Hương, hiền ngoan, hoa khôi Trưng Vương, năm nào cũng ra nhà Hát

Lớn lĩnh phần thưởng cùng với Bùi Duy Tâm. Hai bên Bác Mẹ tán thành, đôi trẻ tuy chưa hề tỏ tình, cũng ngoan ngoãn đặt đâu ngồi đó.

Các em, các con , các cháu ơi! Mẹ chúng ta, Bà các con, Cụ các cháu luôn luôn nhắn nhủ 2 chữ HỌC và HÒA :

  • Phải Học cả đời. Học là chìa khóa mở các cửa:” Đại Học chi Đạo tại…chỉ ư chí Thiện”, phải Học đến chỗ toàn Mỹ toàn Thiện.
  • Phải Hòa với mọi người:”Dĩ Hòa vi Quý” thì mọi việc mới được Hanh Thông.

Các em, các con, các cháu phải luôn nhớ hai chữ Học và Hòa để làm phương châm cho đời mình, để làm vui lòng người dã khuất.

Hồi còn niên thiếu, bài thơ “Mất Mẹ” làm tôi xúc động nên đã thuộc lòng:

“Năm xưa tôi còn học

Mẹ tôi đã qua đời

Lần đầu tiên tôi hiểu

Thân phận trẻ mồ côi

Quanh tôi ai cũng khóc

Yên lặng tôi sầu thôi

Để dòng nước mắt chảy

Là bớt khổ đi rồi

Độ nhỏ tôi không tin

Người thân yêu sẽ mất

Hôm ấy tôi sững sờ

Và nghi ngờ Trời Đất

Hoàng hôn phủ trên mộ

Chuông chùa lạnh rơi rơi

Tôi thấy tôi mất Mẹ

Như mất cả bàu trời”

Có lẽ hồi đó tôi còn nhỏ, Mẹ cho ăn, cho mặc, cho đi học, chăm sóc bảo vệ tôi nên quả thật Mẹ là bàu trời của tôi. Khi lớn lên, phải tự lập, có gia đình riêng, gây sự nghiệp riêng, ràng buộc với nhân quần xã hội thì có vẻ như câu thơ “mất Mẹ như mất cả bàu trời” chỉ còn là cảm xúc của thời thơ ấu xa xưa.

Từ khi mất Mẹ được 5 hôm nay, tôi cảm thấy mất mát quá lớn. Trước kia mỗi lần về thăm quê nhà tôi được thủ thỉ với Mẹ những chuyện trong dĩ vãng, được Mẹ đưa đi thăm những bạn của ngày xưa. Mẹ đã gắn liền tôi với Tổ Quốc, đã giữ tôi trong lòng Dân Tộc. Mẹ là Quê Hương với hàng cau trước thềm, với bóng dừa nghiêng ngả, với “…cầu tre nhỏ, Mẹ về nón lá nghiêng nghiêng”.

Không còn Mẹ nữa, tôi còn được âu yếm ôn lại những kỷ niệm xưa chăng?

Hình ảnh giang sơn gấm vóc liệu có khỏi bị nhu nhòa đi chăng?

Có chuyện gì phấn khởi đắc thắng ngoài nhân thế, tôi đâu còn Mẹ để khoe khoang tự hào.

Các Bác sĩ học trò Thầy Tâm chúc Mẹ cửu tuần đại thọ

Có chuyện gì thất bại sầu đau trong tâm can, con đâu còn Mẹ để kể lể thở than.

Mẹ ơi! Có những chuyện con không thể tâm sự cùng ai, chỉ với Mẹ được thôi vì Mẹ mới thật sự vui với cái vui của con, buồn với cái buồn của con. Mẹ là nơi về nương náu cho tâm hồn con.

Bây giờ “…Tim Mẹ con không có, Khi buồn biết trốn đâu”.

Con mất Mẹ thật rồi…” Con mất cả bầu trời” Mẹ ơi! Mẹ ơi!

Hà Nội ngày 6 tháng 6 năm 2007

Bùi Duy Tâm

 

 

Ba kính yêu của chúng con,

Chiều nay chúng con cùng các người thân yêu đến đây để tiễn Ba về Cõi Thiêng Liêng. Tuy Mệnh Trời chẳng chừa một ai, chỉ là kẻ trước người sau, nhưng cảnh sinh ly tử biệt có bao giờ khỏi sầu bi, nhất là trên sườn đồi lạnh vắng, mưa gió não nùng nơi đất khách quê người như chiều hôm nay.

Cách đây một nửa thế kỷ, người thanh niên Đỗ Đức Trí, mới trong tuổi 20, đã hùng hồn diễn thuyết về phong tục và văn hóa Việt Nam tại hội quán Trí Tri

– làm sửng sốt các bậc trí giả lão thành của đất Thăng Long, nơi ngàn năm văn vật. Chàng thanh niên đẹp trai mảnh khảnh đó đã từng lưu loát mạnh dạn nói về Lời Chúa trên các tòa giảng của các hội thánh Tin Lành làm cho các vị mục sư tiền bối phải ngỡ ngàng mà tâm phục khẩu phục.

Đó là những câu chuyện mà Ba thường kể lại nhiều lần một cách dí dỏm, thích thú và hãnh diện.

Ba ơi! Linh hồn ba còn phảng phất đâu đây chắc sẽ phải mỉm cười hay ngậm cười nhỉ!

Về việc đời: Ba đã là một trong vài vị giáo sư Anh Văn đầu tiên của kinh thành Hà Nội – đã là Bậc Thầy của bao thế hệ trí thức Việt Nam.

Nhờ ở thiên khiếu về ngoại văn và tác phong đạo đức, ba đã giữ những ngôi vị khả kính tại phủ Thủ Hiến Bắc Việt cũng như tại các cơ quan quân sự cao cấp của nước bạn đồng minh Hoa Kỳ trong suốt cuộc chiến tranh ngăn chặn làn sóng Cộng Sản Vô Thần tại Việt Nam.

Về việc Đạo:

Ba đã là một trong những vị có công xây dựng nhà in Thánh Kinh Báo, cơ quan truyền thông đầu tiên của Tin Lành Việt Nam.

Ba đã dùng phần lớn thời gian của cuộc đời mình trong việc soạn dịch Thánh Kinh.

Ba đã rũ bỏ hết lợi danh của thế gian để chính thức thụ phong sứ mạng Mục Sư, mang đạo Trời đi rao truyền khắp nơi mà điển hình nhất là sáng lập nhà Chúa tại Thành phố Cựu Kim Sơn này.

Về việc nhà: Ba đã trung thành tuyệt đối với Má.

Ba đã nuôi dạy các con với lòng hy sinh vô bờ bến – Trong chúng con, mỗi người nên tự hỏi lòng mình rằng: “Nếu không có Ba, liệu các con của Ba có được Sự Nghiệp như ngày hôm nay chăng?”

Các con của Ba đã làm gì để vui lòng Ba hay làm gì để tủi lòng người cha mà suốt đời chỉ cúc cung tận tụy cho tương lai các con và không hề ham thích một thú vui nào trong cuộc đời.

Đúng như lời một nhà thơ đã viết:

Xương tôi, tôi bắc nên cầu

Cho đàn con bước sang lầu Tự Do.

Trong vài giây phút nữa, thân xác ba sẽ vùi sâu trong lòng đất như GỐC RỄ bám xuống để hút nhựa sống lên cho THÂN CÂY, CÀNH CÂY, LÁ CÂY chính là bầy con, bầy cháu, bầy chắt của ba đang tề tựu quanh đây.

Trong “Trũng Bóng Chết” của chiều nay, giữa cơn gió thảm sương sầu Ba sẽ chẳng sợ gì vì “Cây Trượng và Cây Gậy của Chúa đương dẫn dắt Ba”.

Linh hồn của Ba nhất định sẽ Vui Thỏa vì ba đương đi đến “Nơi Đồng Cỏ Xanh Tươi….Mé Nước Bình Tịnh”.

Nguyện cầu cho Ba chóng được Về Trời để linh thiêng phù hộ cho Má và đàn Con Cháu, Chắt của Ba được bình an đi trọn cuộc đời.

Xin tạm biệt Ba kính yêu của chúng con.

Vợ chồng, Ba con, Ông cháu, Cố chắt chúng ta rồi Thân Xác sẽ cùng về trong Lòng Đất nhưng Linh Hồn sẽ gặp nhau trên các từng trời.

Ba ơi! Tạm biệt Ba nhé! Tạm biệt Ba nhé!

Bùi Duy Tâm

San Francisco, chiều thứ Bảy, mồng 7 tháng 5 năm 1988

KHOÙC NHAÏC MAÃU

Viết cùng Trưởng Nam Bùi Duy Linh

Thưa quí vị,

Tôi là Bùi Duy Linh. Mẹ tôi là Đỗ thị Việt Hương, trưởng nữ của Bà Cố Mục Sư Đỗ Đức Trí, nhũ danh Dư Thị Mạnh. Thừa lệnh song thân, tôi lên đây để đọc tiểu sử và điếu văn khóc Bà tôi.

Bà tôi sinh trưởng tại TP Đà Nẵngvào đầu thế kỷ trước. Ông Cố thân sinh của Bà tôi là Cụ Dư Phước Thuận đã từng là vị Niên Trưởng quyền Chủ Tịch Quốc Hội khóa đầu tiên của nền Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam .

Hai cậu em Bà tôi là Tiến sĩ Dư Phước Long, một bộ mặt rất quen thuộc trong cộng đồng người Việt tại San Jose và ông Dư Phước Minh, một nhân sĩ của TP Đà Nẵng được nhiều người biết với danh hiệu “ông Nghĩa Tín”.

Ông bà Long luôn niềm nở giúp đỡ mọi người. Ngày Bố tôi trở về quê hương sau 4 năm du học bên Mỹ, tôi còn nhớ ông Long lái xe hơi đưa Mẹ tôi và 3 chị em tôi ra phi trường đón Bố. Lúc đó chị Hà 7 tuổi, tôi 6 tuổi và em Thiện mới lên 3 lần đầu tiên được gặp Bố tôi. Trong những năm đầu tiên mới vượt biên qua Mỹ, ông bà Minh cùng các cậu đã nhiệt tình giúp đỡ gia đình tôi. Ân nghĩa đó gia đình tôi không bao giờ quên.

Trong các chị em của Bà tôi phải nhắc nhở đến Bà Sáu Dưỡng, người em gái kế bà tôi. Một bà dì tuyệt vời với tình cảm trong sáng như pha lê. Thật là một người phụ nữ Việt Nam hiền thục.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình phúc hậu như vậy nên Bà tôi là một Bà Tiên của chúng tôi. Bà lấy chồng năm 21 tuổi, theo ông tôi ra Hà Nội,

làm dâu con cho một gia đình cổ nho miền Bắc gốc Hà Đông. Bà tôi là 1 người con dâu hiếu thảo với mẹ chồng đến nỗi Bà Cụ Nội còn yêu quí Bà tôi hơn các người con gái khác của cụ. Cụ đã truyền nghề làm son cho Bà tôi.

Ông tôi là 1 trong vài người giáo sư Anh Văn rất hiếm tại Hà Nội trong thập niên 30,40 chuyên dịch Thánh Kinh Tin Lành. Bà tôi, ngoài việc nội trợ gia đình săn sóc chồng con, còn giúp ông tôi sao chép các bản in chữ nhỏ, viết to ra để ông tôi đọc vì ông tôi cận thị rất nặng.

Bà tôi chăm sóc cái ăn cái mặc cho ông tôi từng ly từng tí, từ lúc còn trẻ cho tới khi cuối đời. Không gì ngộ nghĩnh và thơ mộng hơn cái cảnh bà cụ chải đầu cho ông cụ mỗi khi đi đâu. Ông tôi nằm bệnh viện trong suốt 2,3 năm cuối đời. Bà phải đi xe bus ngày ngày đến chăm sóc ông. Nắng mưa vất vả trăm chiều như “con cò lặn lội bờ sông, gánh gạo thăm chồng mà chẳng dám nỉ non than khóc.

Ông tôi là một hàn sĩ. Trong cảnh gia đình thanh bạch, Bà chắt chiu đắp vá nuôi 3 con đến khi thành đạt: Mẹ Đỗ thị Việt Hương và cậu Đỗ Hùng Phi đậu Bác Sĩ Nha Khoa, cậu Đỗ Trí Cường đậu Bác Sĩ Y Khoa.

Hết chồng hết con lại đến cháu. Tất cả 4 chị em tôi, Bà đều ẵm bế trên tay từ lúc lọt lòng Mẹ đến khi khôn lớn

Đây là những bức hình bà ôm ấp chị Việt Hà và tôi từ lúc chưa đầy năm ở Đà Lạt.

Bà bế em Bùi Duy Thiện bên thác Cù Gà Đà Lạt từ thủa thác còn đầy nước. Đến nay lòng thác đã cạn khô mà lòng 4 chị em chúng tôi nhớ thương bà càng thêm rạt rào.

Khi Bé Bùi Duy Việt Hồng lọt lòng Mẹ tại BV Saint Paul, Saigon, Bà là người đầu tiên thấy mặt bé, bồng bé trên tay mang ra khoe với Bố tôi đứng chờ bên ngoài: “Con gái, anh Tâm ạ, xinh lắm.”

Bà đã từng nuôi nấng em Đỗ thị Ngọc Hằng suốt quãng thời thơ ấu như con đẻ.

Hết cháu lại đến chắt:

Khi con đầu lòng của chị Việt Hà là Việt Thi ra đời, gia đình chúng tôi có được 1 thành tích hiếm có trên thế gian này là “Ngũ Đại Đồng Đƣờng” 5 đời còn sống với nhau: Bà Sơ Phạm thị Thơm. Bà Cố Dư thị Mạnh, Bà Ngoại Đỗ thị Việt Hương, Mẹ Bùi Duy Việt Hà và chít Tạ Việt Thi.

Ba đứa con chị Việt Hà, Bà đã bồng bế ôm ấp từ lúc mới lọt lòng Mẹ tại BV St Mary, San Francisco. Suốt trong 10 năm, Bà đã sống với gia đình chị Việt Hà.

Bà đã luôn luôn hiện diện trong tất cả các đám hỏi, đám cưới của 4 chị em tôi. Đây là bức ảnh chụp ngày cưới của Bùi Duy Thiện. Bà bế chắt Duy Kinh,

hai bên là chắt Việt Thi và Việt Thư

Tôi còn nhớ trong thời gian đi học xa, mỗi lần về nhà đến thăm Bà, Bà lúc nào cũng dúi tờ 10 đồng hay 20 đồng vào tay tôi rồi nói: “Cho con một ít tiền tiêu vặt. Bà không có nhiều tiền”. Đến khi tôi thành đạt có sự nghiệp, có gia đình, bà đến nhà tôi chơi lại dúi tiền cho các con tôi.

Lúc đầu chưa hiểu, tôi ngăn bà. Sau này tôi mới hiểu được rằng Bà không phải cho chúng tôi tiền bạc mà Bà đã cho chúng tôi tình yêu thương. Không vật gì trên đời này có thể so sánh đưọc với tấm lòng của Bà. Nguồn thương yêu từ lòng Bà như nước phù sa sông Cửu Long sẽ mãi mãi thấm nhuần đời sống tình cảm của chúng tôi.

Đây là ảnh gia đình tôi đến thăm Bà đúng ngày mùng một Tết năm 2006 tại nhà chị Việt Hà.

Trong dịp Kỷ Niệm 50 năm ngày cưới của Bố Mẹ tôi,

Bà đã đến chung vui với các con,các cháu,các chắt.

Khi Bà được 80 tuổi, “Lễ Bát Tuần Thượng Thọ” được tổ chức thật trân trọng tại nhà Bố Mẹ tôi ở San Francisco. Ngoài gia đình tôi còn có gia đình em Hằng từ xa về, ông bà Dư Phước Long, ông bà Dư Phước Minh cùng các cậu con ông bà.

Khi Bà tới tuổi 90, “Lễ Cửu Tuần Đại Thọ” được tổ chức tại nhà em Bùi Duy Thiện ở Los Gatos có đông đủ đại gia đình. Từng người, từng gia đình lần lượt lên chúc thọ Bà. Ngoài gia đình chúng tôi còn có bà Dì Sáu Dưỡng, bà mợ Dư Phước Long, ông bà Dư Phước Minh, hai bà thông gia là bà Mục Sư Nguyễn Lĩnh và bà Bác Sĩ Thu Hà. Mợ Hồng và em Ngọc Hằng từ xa đến. Thật muôn phần hạnh phước!

Ngày 13/3/2010, cách đây 5 tháng, Bà bước lên năm thứ 100 của đời người. Một “Lễ Đại Thọ Đệ Nhất Bách Niên” được tổ chức tại nhà An Dưỡng ở San Jose. Gia đình bà con thân hữu gần xa tụ họp đến chúc thọ Bà.

Các cháu, các chắt đánh đàn, thổi kèn mừng thọ Bà.

Cả thảy hơn 100 người. Thật muôn phần hạnh phúc, muôn phần vinh hiển!

Trong những ngày ảm đạm mùa thu Cali, Bà đã ngã bệnh nặng, mê man phải nhập viện Regional San Jose, Các em,con,cháu,chắt đã tập họp đầy đủ vây quanh giường bệnh. Bà hồi tỉnh lại, ngước mắt nhìn mọi người, gật đầu như đã nhận biết và nở một nụ cười an thỏa. Trong những giây phút cuối, khi dầu sắp cạn, lửa sắp tàn, Bà vẫn cố ngước đầu lên hôn vào má vài người trong chúng tôi đang đứng gần Bà.

Ngoài trời, “…Lá Ngô Bay Trong Sương Sầu…” Chiếc lá cuối cùng rụng xuống, Bà tắt thở lúc 9 giờ 42 phút đêm ngày 12 tháng 8 năm 2010. Thế là một cuộc đời đầy yêu thương trong gần 100 năm, gần một thế kỷ, đã khép lại.

Than ôi! Còn gì đẹp cho bằng “Một đám mây trên trời xanh, Một giọt tuyết trong lò trời,

Một cánh hoa nơi vườn thượng uyển, Một vừng trăng dưới  ao tiên”

Thế mà, cũng có lúc mây tản, tuyết tan, hoa tàn, nguyệt khuyết.

Giữa cơn tao loạn, cây tùng, cây bách cũng bị chặt xuống làm củi khô, ruộng dâu cũng đến lúc chỉ còn là mặt biển. Huống chi con người đến từ cát bụi.

Khi Bác Sĩ báo cho biết là tình trạng của Bà đã đến lúc tuyệt vọng, đại gia đình trao cho tôi nhiệm vụ quyết định thời điểm ngưng máy thở. Ôi! Cuộc đời sao quá oái ăm. Cách đây 52 năm, khi tôi mới lọt lòng Mẹ được vài giờ. Bà là người đã phát hiện rốn tôi đang chảy máu nhiều, người tôi đã tím ngắt. Bà đã hô hoán lên kịp thời. Bà đã cứu mạng sống tôi. Thế mà bây giờ, vì lương tâm chức nghiệp, vì tình cảm gia đình, tôi phải lãnh trách nhiệm quyết định thời điểm rút ống thở để đưa Bà về cõi Ngàn Thu.

Thật Đau Đớn Thay! Thật Xót Xa Thay!

Người ta thường nói “Chung Mệnh Khảo”, người già chết yên lành là một cái chết vui. Đó là một trong LỤC PHÚC.

Hôm nay thật là một LỄ HỒNG TANG.

Nhưng …. trước cảnh “Sinh ly Tử biệt”:

Xa nhau khi còn sống mà đã “Biệt ly, nhớ nhung từ đây, ôi còi tàu như xé đôi lòng”.

Huống chi đến lúc “Tử biệt”, ngàn thu mãi mãi, Làm sao không đau đớn như xé cõi lòng. không xót xa nhƣ buốt con tim.

BÀ ƠI ! CHÚNG CON THƯƠNG NHỚ BÀ, CHÚNG CON… KHÓC BÀ. BÀ ƠI… BÀ !

Bùi Duy Linh

đại diện cho Đại Gia Đình

viết xong lúc 1 giờ sáng ngày 20/8/2010

Khóc Vợ

Khóc vợ

Bạo bệnh Parkinson không chịu buông tha vợ tôi, cứ lạnh lùng xâm lấn người bệnh theo tiến trình vô cảm của nó. Vợ tôi nằm trên giường, cử động chân tay yếu ớt, chỉ còn đủ sức ngó nhìn tôi, nắm tay tôi, thều thào trao đổi vài ba tiếng rời rạc. Nhưng đặc biệt lại rất thích hát Tình ca, Thánh ca, những bài ca đã từng hát thời son trẻ. Em nằm yên bất động suốt ngày, suốt tuần hay có khi suốt tháng để chờ chồng đến bên giường, ôm ấp em vào lòng rồi khe khẽ cùng cất tiếng ca:

“Một chiều ái ân… say hồn ta bao lần…

Một trời ngát hương, tay cầm tay luyến thương.” “ Em tôi ưa đứng nhìn trời xanh xanh

Mang theo đôi mắt buồn vương giấc mơ…” “ Hãy nói mình yêu nhau, mình yêu nhau…

Dù ngoài trời mưa bay… mưa bay!”

hay

“ Dù tôi đi trong trũng bóng chết Tôi cũng chẳng sợ tai hoạ nào

Vì Chúa ở cùng tôi, Vì Chúa ở cùng tôi..”

Hai vợ chồng tôi cứ nằm ôm nhau, hay ngồi áp đầu vào ngực nhau, tay nắm tay, chân gác chân, hát hết bài nọ đến bài kia… có thể vài chục bài đủ loại:

“ Đêm qua ra đứng bờ ao, Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ…” “ Bèo giạt mây trôi, chốn xa xôi anh ơi

Em vẫn chờ…ớ ơ.

Sao chẳng thấy anh bèo giạt mây trôi…”

Chúng tôi thuộc lời ca có thể nói còn hơn ca sĩ nhà nghề nữa,nhưng nàng vẫn thích nhất bài:

Khi ấy em còn thơ ngây Đôi mắt chưa vương lệ sầu…

Em ngắm mây hồng hay dòng nước trong Thấy lòng vẩn vơ như tìm một bóng ai…

Rồi một hôm có chàng trai trẻ đến nơi này đời em có 1 lần là lần tim em thấy yêu chàng…”

Cái cảnh hai ông bà già tuổi 80, phều phào hát với nhau như vậy, thử hỏi trên thế gian này có mấy ai?

Đây chính là mảnh thời gian trữ tình nhất trong cuộc hôn nhân hơn 60 năm của chúng tôi.

Chiều ngày 18/03/2015, sau khi hoàn tất các buổi lễ Macchabee, Khoác áo trắng và Động thổ xây dựng một Trung tâm Y khoa hiện đại cho Đại học Y khoa Tân Tạo, tôi trở về Mỹ. Trong khi chờ lên máy bay tôi gọi điện thoại cho vợ tôi. Theo lệ thường mỗi khi nhắc mấy câu hát mà nàng ưa thích “khi ấy em còn thơ ngây, đôi mắt chưa vương lệ sầu……rồi một hôm có chàng trai trẻ đến nơi này…đời em có một lần là lần tim em thấy yêu chàng” thì nàng vui thích hát theo ngay nhưng lần này giọng nàng quá yếu chỉ đủ thoi thóp nhắc lại hai chữ “khi ấy, khi ấy…” rồi bặt tiếng. Tôi ngậm ngùi lên máy bay, nặng trĩu trong lòng…Ra khỏi sân bay đã thấy con gái lớn Việt Hà đứng ngay cửa đón tôi, khác với lệ thường tôi phải đứng chờ ngoài vỉa hè một lúc sau xe mới ghé qua. Lại thêm một ngạc nhiên nữa, người lái xe đến đón tôi là Trưởng nam – Bùi Duy Linh mà trước đây chưa từng bao giờ có chuyện đưa đón long trọng thế này. Xe đi một quãng, Linh nghẹn ngào nói: “Mẹ đã về với ông bà ngoại”. Tôi như người rớt xuống vực thẳm và bàng hoàng như đương trong cơn ác mộng. Bước chân vào nhà xác đã thấy đủ mặt đại gia đình tôi thêm chú Quang cùng vợ và con gái đứng ái ngại nhìn tôi. Tôi vội chạy tới ôm xác vợ, nàng nằm thản nhiên yên lặng. Khi tôi đặt nụ hôn lên môi, miệng nàng hé mở: Việt Hà kêu lên: “Mẹ cười”, Bùi Duy Thiện thốt lên: “Mẹ thở…”

Vợ tôi đã vĩnh viễn ra đi, nước mắt tôi lã chã đầm đìa nhỏ xuống mặt nàng…

“Giọt mưa trên lá Nước mắt người Chồng

Lã chã đầm đìa trên xác Hương lạnh giá!”

Nhà quàn thương hại ông già vợ chết, cử 2 nhân viên ở lại đêm coi chừng tôi. Con trai Duy Thiện cùng vợ Hồng Lam ngủ ngay trong phòng xác cùng với tôi. Tôi vẫn đứng thổn thức ôm xác vợ từ 9 giờ tối tới 1g30 sáng thì Thiện tỉnh dậy khuyên tôi đi nằm. Đến 3g30 sáng, Thiện lại tỉnh dậy, nhắc nhở Bố đi nghỉ.

Đến 4g30 sáng Thiện không giữ được bình tĩnh sẵng giọng với tôi: “Không đứng mãi như thế được, Bố phải cho con 1 cái hẹn cuối cùng? “ Tôi đáp: “7 giờ sáng!”

Lúc đó thân tôi đã rã rời mệt mỏi, lạnh buốt đến tận xương, tôi cảm thấy đã gần kiệt sức rồi nên cho nó 1 cái hẹn thêm 2 tiếng rưỡi nữa để đủ thời gian chết theo vợ tôi. Có loài chim, con trống con mái luôn bên nhau; một con chết thì con kia cắn cổ chết theo. Romeo và Juliette là hai đứa trẻ, vắt mũi chưa sạch mà đã dũng cảm dám chết bên nhau. Còn tôi sự nghiệp đầy người mà không bằng loài chim, không bằng con nít sao.

Đúng 7 giờ sáng hôm sau tôi không chết sau hơn 20 giờ trên máy bay,10 giờ chờ đợi nối tiếp 3 chuyến bay và 10 giờ đứng ôm xác vợ.

Tôi theo hai vợ chồng con trai con dâu, lảo đảo ra về. Người như một chiếc lá khô lạnh toát. Cả đời làm thầy thuốc, tiếp xúc với bao nhiêu người chết mà lần đầu tiên tôi mới cảm nhận được cái âm khí là khủng khiếp đến thế nào, cái lạnh giá của xác chết khác xa với băng tuyết Nam Cực và Bẳc Cực mà tôi đã trải qua. Vài giờ cuối cùng trong thời gian ôm xác vợ, tôi đã thực sự đứng trên cầu biên giới giữa 2 cõi Âm Dương.

Vợ tôi nấc lên 1 cái rồi đi ngay tức khắc còn tôi cố chết trong 10 tiếng đồng hồ liền mà không chết nổi. Vậy có phải chết là sướng hay sống là khổ.

Đâu có chọn lựa nhỉ? Cụ Nguyễn Du đã dạy rằng:

“Bắt phong trần phải phong trần, Cho thanh cao mới được phần thanh cao”

Cho nên “Chớ đừng trách lẫn trời gần trời xa”

Cách đây vài tháng vào một buổi hoàng hôn nắng chiều rực rỡ, chúng tôi ngồi lặng ngắm mặt trời đang chết dần nơi chân trời. Nàng áp đầu vào ngực

tôi, chân gác chân, tay nắm tay cùng hát:

“Dù cho mưa, anh đưa em đi đến cuối cuộc đời. Dù cho mây hay cho bão tố có kéo qua đây… Dù có gió, có gió lạnh đầy có tuyết bùn lầy

Có lá buồn gầy

Dù sao, dù sao đi nữa Tâm vẫn yêu Hương Hương vẫn yêu Tâm

Ta vẫn yêu nhau”

Nàng nhoẻn 1 nụ cười heo hắt, thì thào: “Ước gì, thế này, mãi mãi”

Trời ơi! Có 6 chữ “ ƯỚC GÌ,THẾ NÀY, MÃI MÃI”, mà ÔNG TRỜI không chiều nàng thêm một chút. Sao khắc nghiệt vậy HOÁ CÔNG ơi!

Xưa kia vua Quang Trung đòi lại Lưỡng Quảng và đòi lấy công chúa con vua Càn Long để khiêu khích, tìm cớ đem binh sang đánh Tàu cho chừa cái thói nước lớn ăn hiếp nước bé. Vua Càn Long sợ oai hùm của Nguyễn Huệ, chịu gả công chúa còn việc trả đất xin bàn lại sau. Thì rủi thay Ngài đột ngột băng hà. Đại sự tan ra mây khói. Bà Ngọc Hân khóc chồng:

“Công dường ấy mà Nhân dường ấy, Cõi thọ sao hẹp bấy Hoá Công.”

Nay tôi cũng oán Trời sao nỡ sớm cướp đi người vợ “ Công Dung Ngôn Hạnh” vẹn toàn:

“Dung dường ấy mà Hạnh dường ấy Cõi thọ sao hẹp bấy Hoá Công.”

Tôi với nàng khác nhau như Mặt Trăng Mặt Trời: Nàng chậm, tôi nhanh.

Nàng khoan thai, tôi bừng bừng. Nàng yên lặng thản nhiên như mặt hồ, Tôi ầm ầm dữ dội như giông tố.

Nhưng chúng tôi suốt đời cần nhau, quyện bên nhau như Âm với Dương.

“Ngàn thu, ta bù đắp không ngừng

Tình Âm Dương chan chứa xoay trong vùng Tử Sinh.”

Tôi là đám mây phiêu lãng khắp các vùng trời Khoa Học, Nghệ Thuật, Ái Tình. Nàng là cơn gió thổi cho mây bay:

“Em là cơn gió, Anh là mây dài Bay về bên nớ, Bay về bên này Rồi trở về cho hết cái đong đưa.”

Bây giờ GIÓ TẮT thì ĐÁM MÂY LÃNG TỬ kia còn bồng bềnh bay bổng được nữa chăng?

Người đời gọi tôi là “Phong Ba Bão Táp”, thì Nàng là “Bờ Cát Phẳng Lặng” dịu dàng âu yếm cho sóng nước ngấm vào lòng:

“Bờ cát dài phẳng lặng Như lặng lẽ mơ màng Suốt ngàn năm bên sóng

Bùi Duy Tâm là “Phong Ba Bão Táp” ngoài khơi giữa chợ đời nhưng về đến Bờ Cát tổ ấm Đỗ Thị Việt Hương thì nhẹ nhàng trải ra ôm lấy.

“Hôn thật khẽ, thật êm Hôn êm đềm mãi mãi… Để HÁT mãi bên nhau Mối tình chung không hết Đã hôn rồi, hôn lại

Cho đến mãi muôn đời Đến tan cả đất trời Anh mới thôi dào dạt”

Bây giờ không còn BỜ CÁT êm đềm thì Phong Ba sóng gió e sẽ ĐIÊN CUỒNG đập vào ghềnh đá tan thành những mảnh hận tình.

Dưới sườn đồi kia là hai ngôi mộ đợi chờ cho Nàng ngay chiều nay và cho tôi một ngày nào. Chúng gối đầu vào ngọn đồi phía sau như chiếc gối ngọc (Ngọc Chẩm) làm nơi Huyền Vũ, dãy núi bao quanh hai bên như “tay Long tay Hổ uốn vòng triều lai.” Minh Đường trước mặt là cả một giọt lệ đại dương mang tên Thái Bình. Hai vợ chồng tôi sẽ nằm bên nhau, nắm tay nhau, ngoảnh nhìn về cố hương qua biển Thái Bình, nước biếc mông mênh, sóng vỗ miên man như khúc nhạc tình muôn thủa:

“Hương ơi! Anh đã yêu em một đời Anh đã yêu em trọn đời

Một tình yêu đắm say

Hương ơi! Anh nhớ môi em miệng cười Anh nhớ môi em ngọt lời

Ngàn lời yêu đương đến trong tim Hương ơi! Em đã cho anh thật nhiều Em đã cho anh trọn đời

Một tình yêu sắt son Hương ơi! Em đã xa anh thật rồi

Em đã xa anh cả đời Để lòng anh luống sầu đau

Việt Hương ơi! Dù mãi mãi cách xa Vĩnh viễn tuyệt vời là tình yêu chúng ta”

Việt Hương ơi! Việt Hương ơi! Đây là thực hay là mơ.

Vợ tôi sắp nằm trong đất lạnh là thực hay chỉ là một cơn ác mộng?

Cuộc đời này là thực hay chỉ là một giấc mơ thôi! Trời ơi! Đất hỡi! Người ơi!

28 tháng Ba 2015

Bùi Duy Tâm

KHÓC THẦY

Khóc thầy Trần Vỹ

Giáo sư TRẦN VỸ đã tạ thế ”. Đó là lời nhắn vội vàng của bà Kim Chi, bào muội của giáo sư TRẦN VỸ vào buổi chiều thứ sáu ngày 25 tháng 2 năm 1994. Lời nhắn ngắn ngủi đó như một dấu chấm cho cả 1 cuộc đời lớn lao 74 năm (1920 – 1994) trải dài gần hết kỷ 20: Sôi Động và Nổi Trôi theo vận nước.

Ông đã tham dự cuộc kháng chiến chống Pháp như một quân y sĩ trong rừng núi ngoài bưng từ năm 1945 đến năm 1950. Ông bỏ hàng ngũ kháng chiến vì họ đã lộ rõ nguyên hình Cộng sản để về Sài Gòn hoàn thành luận án Y Khoa Bác Sĩ và du học tại Pháp chuyên ngành “Phổi, Lao”. Ông đã đậu Thạc Sĩ Y Khoa và Tiến sĩ Khoa học tại Paris và về nước năm 1955 làm Giáo Sư Trưởng Khoa Sinh Lý Học tại trường Đại Học Y Khoa Sài Gòn. Ông làm Bộ Trưởng Y Tế từ năm 1956 – 1960 trong thời đệ nhất Cộng Hòa Việt Nam và sau đó làm Viện Trưởng Sáng Lập Trung Tâm Quốc Gia Khảo cứu Khoa Học.

Năm 1975, Chính phủ Cộng sản Việt Nam đã giam ông trong trại tù cải tạo ngoài Bắc cùng nơi với Luật sư Trần Văn Tuyên đến năm 1979. Ông bị quản thúc tại gia 10 năm sau đó vì những hoạt động chính trị chống Cộng có tổ chức của ông. Trong thời gian tị nạn tại Pháp trước khi qua đời, ông đã xuất bản được 2 cuốn sách: “Prisonier Politique au Vietnam” và “Sài Gòn dƣới ách Cộng Sản”.

Người đời biết ông như:

  • Một bậc thầy khả kính trong ngành Giáo Dục Đại Học Y Khoa, đã đào tạo nên nhiều thế hệ bác sĩ đương phục vụ trong nước và ngoài nước tại các cộng đồng Việt Nam hải ngoại.
  • Một khoa học gia với nhiều công trình nghiên cứu.
  • Một vị lãnh đạo ngành Y Tế Quốc Gia, đặc biệt thành công trong công việc phát triển chương trình Diệt Trừ Sốt Rét.
  • Một nhà Ái Quốc chống Thực Dân, Đế Quốc và Cộng Sản.

Hơn thế nữa ông đã có 1 tầm nhìn tổng quát về đất nước như 1 nhà Kinh Bang Tế Thế . Ông tin tưởng rằng tương lai của Việt Nam là tùy thuộc vào nền kinh tế, kỹ thuật nên đã có những việc làm cụ thể:

  • Sáng lập và đầu tư vào Công ty Việt Nam Kim Khí ở khu kỹ nghệ Thủ Đức, làm đồn điền mía ở Phan Rang và đóng góp rất nhiều cho công cuộc phát triển ngành ngư nghiệp vùng duyên hải miền Trung và miền Nam.

-Tuy hai ông bà đều là Y Khoa Bác sĩ, nhưng ông đã khuyến khích con cái theo ngành kỹ thuật. Ngoài người con trai làm bác sĩ y khoa theo nghiệp cha mẹ, ông bà còn có 2 người con trai hiện là kỹ sư cao cấp tại Pháp và Hoa Kỳ và người con gái là chuyên viên kinh tế tài chính.

Riêng dối tôi, Giáo Sư Trần Vỹ là Ông Thầy của tôi, là Ân Nhân của tôi, đã thu nạp tôi vào khu Sinh Lý Học của ông để che chở tôi, lại mở đường cho tôi thoát ra một chân trời mới Sinh Hóa Học để tôi bay bổng. Tạo cơ hội cho Trò mình được “Hậu sinh Khả Öy”, Ông đã làm sứ mạng của người THÀY. Cao thượng lắm thay! Bà Bác Sĩ Nguyễn Thị Vinh, phu nhân Bộ Trưởng Y Tế Trần Vỹ đã săn sóc bênh vực gia đình vợ con tôi trong thời gian tôi du học tại Hoa Kỳ. Ông cùng các con tham gia các hoạt động thanh niên Gió Khơi của tôi.

Còn hơn thế nữa, Giáo Sư TRẦN VỸ là một con người có tâm hồn quảng đại, bao dung và giản dị, khiêm nhượng đến độ hơi e thẹn. Ông đã cứu giúp che chở và nâng đỡ nhiều người nên công thành danh toại mặc dầu chẳng phải ai cũng xứng đáng với tấm lòng của ông. Ông cần chi phải bận lòng với những eo sèo thường tình của thế nhân. Giờ đây, ông đã thanh thản nằm xuống, khép lại những trang sử của đời ông cùng một lúc khép lại những trang sử cuộc chiến tranh tương tàn của đất nước và cũng vào buổi hoàng hôn một thế kỷ đáng ghi nhớ nhất của nhân loại.

Than ôi! Còn gì đẹp cho bằng “Một đám mây trên trời xanh, một giọt tuyết trong lò trời, một cành hoa nơi vườn thượng uyển, một vừng trăng ở dưới ao tiên”. Thế mà, cũng có lúc “Mây Tản, Tuyết Tan, Hoa Tàn, Nguyệt Khuyết”. Giữa cơn tao loạn của nhân thế, cây tùng cây bách còn bị chặt xuống làm củi khô, huống chi con người!

Vong hồn ông có linh thiêng xin về chứng giám cho lòng thành yêu kính ông, tiếc nhớ ông của gia đình bằng hữu và môn sinh đệ tử.

Thượng Hưởng!

Bùi Duy Tâm

San Francisco ngày 28 tháng 02 năm 1994

TƯỞNG NHỚ GIÁO SƯ TÔN THẤT TÙNG, BẬC TIỀN BỐI CỦA NỀN Y HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

Nhân kỷ niệm một trăm năm ngày sinh Giáo sư Tôn Thất Tùng (10-5- 2012) tôi xin chia sẻ với quý đồng nghiệp trong y giới một vài kỷ niệm và tình cảm của tôi, một kẻ hậu sinh với một bậc tiền bối rất đáng kính trọng.

Tháng 2 năm 1975, tạp chí Science et Vie, một tạp chí rất nổi tiếng của Pháp có đăng một bài thuật lại các công trình nghiên cứu của tôi về y học Việt Nam, nên sau ngày 30 tháng 4 năm ấy một phóng viên của Tạp chí này đến Hà Nội tìm kiếm tôi. Vì vậy Nhà nước cử GS Tôn Thất Tùng vào Nam tìm gặp tôi đúng trong thời gian tôi đang nằm trong trại học tập cải tạo tại Trảng Lớn (Tây Ninh).

Sau khi được thả về nhà, tôi và gia đình được hân hạnh đón tiếp ông bà GS Tôn Thất Tùng tại nhà tôi, một ngôi biệt thự tại đường Duy Tân cây dài bóng mát. Sau bữa ăn tối, các con tôi (hồi đó còn đang học trường Y Khoa) trình tấu các bản nhạc truyền thống Việt Nam (tranh, nguyệt) và cổ điển Tây phương ( piano, violon). Hai ông bà rất vui và giải thích cho chúng tôi biết chính sách quý trọng khoa học, nghệ thuật của Nhà nước. Chúng tôi được an tâm và cảm thấy rất phấn khởi về quyết định không bỏ đi Mỹ mà ở lại quê hương để phục vụ Tổ quốc.

Tác giả và GS.Tôn Thất Tùng

Điện chúc Tết của GS Tôn Thất Tùng gửi GS Bùi Duy Tâm(1976)

GS Tùng mời tôi ra Hà Nội để thăm bệnh viện Việt Đức (trước đây là nhà thương Phủ Doãn). Nhân dịp này Đại tướng Mai Chí Thọ cũng đến tận nhà ủy lạo, cho phép cả gia đình tôi (vợ và các con) ra Bắc thăm cha mẹ và các em tôi tại Hà Nội. Có lẽ gia đình tôi ở trong số những người được ra thăm lăng Bác và gia đình ngoài Bắc sớm nhất.

Gia đình GS TTTùng và Gia đình GS BDTâm, từ trái qua:

Tôn Thất Bách, Bùi Duy Linh, Bùi Duy Việt Hà, GS. Tôn Thất Tùng, Bà Bùi Duy Tâm (Đỗ Thị Việt Hương), Bà Tôn Thất Tùng (Vi Nguyệt Hồ), Tôn Nữ Ngọc Trân, Bùi Duy Thiện, Bùi Duy Việt Hồng, Tôn Nữ Hồng Tâm

Mỗi buổi sáng GS Tùng cho chiếc xe Volga màu đen (dành riêng cho ông) đến đón tôi đi tham quan còn ông thì đi bộ từ nhà đến bệnh viện Việt Đức (coi như bài tập thể dục cần thiết cho bệnh tim của ông.) Trong khi phụ mổ cắt bướu gan với ông tại Việt Đức, tôi được ông giảng cho nghe về kỹ thuật cầm máu (hemostasis) bằng cách bấm đầu ngón tay định vị trí động mạch rồi cột lại, để phẫu trường (champs opératoire) được sạch khô trong khi thao tác cắt bướu. Sau

này GS Nguyễn Đình Hối nguyên Hiệu trưởng trường Y Dược thành phố Hồ Chí Minh kể lại hồi đó có gặp tôi vài lần trong phòng GS Tùng. Gia đình tôi đến thăm ông bà, được gặp con trai của ông bà là anh Tôn Thất Bách trong bộ quân phục (nghe nói vừa đi nghĩa vụ về) và hai con gái là các cô Tôn Nữ Ngọc Trân và Tôn Nữ Hồng Tâm. Bùi Thị Bình Minh, em gái tôi là giáo viên chủ nhiệm của Tôn Nữ Hồng Tâm, con gái út của ông bà. GS Tùng đã cứu cha tôi khi ông phải cắt dạ dày vì xuất huyết trầm trọng. Sau này khi em Bình Minh bị loét dạ dày, lại được GS Tùng chăm nom săn sóc và chỉ định Bác sĩ Vân A giải phẫu.

GS Tùng đặc biệt rất đúng giờ, tận tâm với bệnh nhân, thương yêu học trò. Lúc thường ông rất hòa nhã với mọi người nhưng đôi khi ông cũng rất nóng nảy. Nhiều giai thoại kể lại những lúc ông rầy la bệnh nhân, bác sĩ và ngay cả đến phu nhân của ông là bà Vi Nguyệt Hồ. Chính Bác Hồ là người đã xe duyên cho ông với bà Vi Nguyệt Hồ (cháu nội của Tổng Đốc Vi Văn Định). Sau khi lấy GS Tôn Thất Tùng, bà Hồ học gây mê và trở thành chuyên viên gây mê trong các cuộc giải phẫu của ông. Nghe kể rằng trong một ngày Tết, Bác Hồ đã chọn hai người để đến thăm, một là Giáo sư Tôn Thất Tùng, một bậc trí thức cao trọng nhất nước và người kia là một cô gái lao động gánh nước thuê. Lúc đó bà Hồ đang mang thai con đầu lòng, Bác Hồ gợi ý nếu sinh con trai thì đặt tên là Bách (cây Tùng, cây Bách).

Bà Vi Nguyệt Hồ có hai người cô ruột nổi tiếng xinh đẹp, một là bà Vi Kim Phú, phu nhân Bác sĩ Hồ Đắc Di (Hiệu trưởng đầu tiên của Đại học Y Hà Nội) và bà Vi Kim Ngọc (phu nhân ông Nguyễn Văn Huyên, Bộ trưởng bộ Giáo dục). Tôi được hân hạnh gặp bà Huyên đầu năm 1976 trong đám tang thân phụ bà Vi Nguyệt Hồ, hồi đó bà Huyên đã vào tuổi 60 mà dung nhan còn tươi đẹp, cử chỉ lời lẽ rất lịch sự hòa nhã.

GS Tùng trao đổi với tôi nhiều về y học thế giới, ông rất ngưỡng mộ y học Hoa Kỳ. Nghe kể lại hồi đó ông thường tỏ ý than phiền về nhiều người vẫn còn thành kiến với những người miền Nam nhất là với cá nhân Bùi Duy Tâm.

Bốn hôm (thứ năm) trước ngày sinh nhật thứ 70 của ông (thứ hai sau), lúc đó ông mới đi Mỹ về, ông bảo thấy mệt trong người và cần ngủ một giấc. Ông dặn gia đình nếu thấy ông ngủ được thì cứ để yên cho ông ngủ đến trưa. Trưa rồi vẫn không thấy ông dậy, người nhà lên gọi thì ông đã qua đời. Mặc dù đội cấp cứu đã cố gắng mọi cách hồi sinh trong suốt một giờ nhưng đã quá muộn.

Gia đình tôi sang thăm viếng ngay chiều hôm đó, thấy bà Hồ nằm ôm xác ông, khóc ông trước mắt đông đảo thân hữu tới thăm viếng.

Tác giả bên mộ GS. TTTùng trong nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội

Giáo sư Tôn Thất Tùng đã sống cuộc đời của một người thầy thuốc cứu nhân độ thế, đã đào tạo gây dựng cho bao thế hệ bác sĩ, trong đó có con trai là Giáo sư Tôn Thất Bách (Hiệu trưởng trường Đại học Y Hà Nội) và một đệ tử là Giáo sư Bùi Đức Phú (Giám đốc Bệnh viện Trung Ương Huế, người vừa thực hiện thành công cuộc thay ghép tim tại đây.)

Tác giả với GS. Bùi Đức Phú, Giám Đốc BVTƯ Huế

Giáo sư Tôn Thất Tùng được Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu quý nhất vì những cống hiến của ông và nghiễm nhiên đã giữ vị trí cao trọng nhất trong Lịch sử Y học Việt Nam hiện đại.

Bùi Duy Tâm

Trên máy bay từ VN về Mỹ ngày 18 tháng 4/2012

KHÓC BẠN

Tưởng nhớ

Bác sĩ Trần Minh Tùng

Bác sĩ Trần Minh Tùng sanh năm 1930 ở Chợ Lớn, lớn lên cũng ở vùng Sài Gòn – Chợ Lớn. Là một Bác sĩ xuất sắc, tốt nghiệp thủ khoa Đại Học Y Khoa Sài Gòn năm 1954 và đồng thời tốt nghiệp Cử nhân Luật ưu hạng năm 1951. Khi còn đi học, ông là một Nội trú giỏi nhất của Giáo Sư Thac sĩ Massias (Một ông Thầy người Pháp nổi tiếng giỏi và khó tính). Khi ra trường bị trưng tập ngay thành một Quân y sĩ. Năm 1966 ông đảm nhiệm chức vụ Chỉ Huy Trưởng trường Quân Y với quân hàm Trung Tá và xuất ngũ với quân hàm Đại Tá năm 1969 khi ông được bổ nhiệm Tổng Trưởng Y Tế. Năm 1973 ông đắc cử vào Thượng Viện làmTrưởng Khối Đa Số và được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Chủ tịch đảng Dân Chủ giao cho ông chức vụ Tổng Thư Ký cho đến 30/4/1975. BS. Tùng hành nghề Y Khoa (bệnh Tâm Thần) tại Virginia từ 1975 – 1995 rồi về hưu tại Westminster, California với gia đình người con gái. Gần đây ông sang New Jersey thăm gia đình con gái út (Ông có 3 người con gái) rồi bị té ngã ngày 20 tháng 10, được đem vào một bệnh viện ở New York City và mất ngày 22 tháng 10 năm 2008 thọ 78 tuổi. Ông được gia đình chôn cất ngay tại New York City 3 ngày sau. Đến khi bạn bè, đồng nghiệp, môn sinh đệ tử biết thì ông đã nằm an nghỉ dưới lòng đất. Tang lễ cử hành rất đơn giản trong vòng gia đình. Không đăng cáo phó. Hồi bà vợ ông mất cách đây nhiều năm cũng vậy. Rất nhanh chóng, gọn gàng, giản dị không ai kịp thăm viếng phúng điếu.

“GIẢN DỊ, NHANH CHÓNG, NGẮN GỌN, không màu mè, không Phe Đảng, không kỳ thị. Làm việc theo công tâm, theo cảm quan tự nhiên. Không xu nịnh cấp trên. Không đè ép kẻ dưới. Đấy là con người của Trần Minh Tùng.”

Khi còn trẻ, ông là một Bạch Diện Thư Sinh, tuyệt thông minh, văn hay chữ tốt ăn nói lưu loát. Khi có tuổi, ông rất điềm đạm, ít giao thiệp, ẩn dật khép

kín trong gia đình. Ông bị tai biến mạch máu não hơn 10 năm nay nên đã bị té ngã nhiều lần. Lần té sau cùng này đã đưa ông về cõi Ngàn Thu…

Tôi không thể câm nín trước sự ra đi của ông nên viết mấy dòng này để khóc một người bạn rất trân quý, để tưởng nhớ tới các công ơn của ông đối với nền Giáo Dục Y Khoa mà tôi đã từng đảm nhiệm:

Cuối năm 1967, tôi được trao trách nhiệm giải quyết số phận của trường Đại Học Y Khoa Huế lúc đó gần như hoàn toàn bế tắc: Không có lãnh đạo như rắn mất đầu. Ban Giảng Huấn thiếu hụt trầm trọng. Chương trình giảng dạy không thống nhất: Tây, Ta, Đức, Mỹ tuỳ hứng. Lại thêm những xáo trộn chính trị, tôn giáo, quân sự triền miên của vùng địa đầu giới tuyến.

Tôi phải gõ cửa cầu viện nơi nào đây:

-Trường Y Khoa Sài Gòn (trừ một vài giáo sư vốn tính ngay thẳng như Trần Anh, Đặng Văn Chiếu, Nguyễn Văn Hồng, Lê Quốc Hanh,…) thì đã phản đối trường Huế ngay từ khi mới thành lập. Vị chủ chốt là GS. Khoa Trưởng Phạm Biểu Tâm và các vị Giáo sư Thạc Sĩ gốc Huế.

-Bộ Y Tế thì lãnh đạm với công tác quá khó với khả năng của họ.

-Viện trợ Y Tế Hoa Kỳ đã loại Huế ra vì lý do chính trị. Họ chỉ dồn tài lực và nhân lực xây dựng Đại Học Y Khoa Sài Gòn theo mô hình Mỹ.

-Bộ Giáo Dục thì đã bất lực từ lâu đương tìm cớ đóng cửa trường Y Khoa Huế. Chỉ trừ một người là Thứ Trưởng Đại Học Trần Lưu Cung đặt hết tin tưởng vào tôi. Tuy không giúp tôi một cách cụ thể và tích cực được nhưng ông đã im lặng mặc tôi “múa gậy vườn hoang”.

-Cuối cùng tôi gõ cửa Trường Quân Y và trình bày nỗi đoạn trường:

Chỉ huy trưởng Trần Minh Tùng đứng phắt lên, nắm lấy tay tôi: “Toa làm rất phải, không thể bỏ rơi hàng trăm sinh viên Y Khoa Huế được. Moa sẽ mang cả Trường Quân Y giúp toa cứu trường Huế.”

Một tháng sau xảy ra Biến Cố Mậu Thân, tia hy vọng nhỏ nhoi lại tắt ngúm. Nhưng Trung Tá Y Sĩ Trần Minh Tùng rất bình tĩnh, kiếm ngay một trực thăng đưa tôi ra Huế khi khói lửa chưa tàn.

Nhìn cảnh tượng nhà trường lỗ chỗ đạn đại bác và một lũ thầy trò nhân viên (nhiều người đầu chít khăn tang) lếch thếch vừa khóc vừa mừng nắm áo tôi, tôi không sao cầm lòng được.

Chỉ vài tuần sau tôi đưa 1 phái đoàn gồm: GS. Thạc Sĩ Trần Anh, GS. Đặng Văn Chiếu, Thứ Trưởng Đại Học Trần Lưu Cung và Y Sĩ Chỉ Huy Trưởng Trường Quân Y Trần Minh Tùng ra uỷ lạo tinh thần và tìm 1 giải pháp cho trường Y Khoa Huế.

Vô phương cứu chữa, chỉ còn giải pháp mang sinh viên về Sài Gòn tiếp tục học rồi dần dần tu bổ trường sở đồng thời chấn chỉnh lại đội ngũ ban giảng huấn.

Nội các chiến tranh và Bộ Giáo Dục không thể chấp thuận giải pháp đó được vì Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh tất cả phải ở lại cố thủ xứ Huế. Thứ Trưởng Trần Lưu Cung đã dũng cảm nín thinh cho tôi tự lực cánh sinh chuyển Trường

vào Sài Gòn. Ông nhà binh Trần Minh Tùng cũng đếch sợ quân kỷ mở cửa trường Quân Y cho sinh viên Y Khoa Huế vào tiếp tục học. Ngày ngày Khoa Trưởng Bùi Duy Tâm làm tài xế chở các giáo sư của Y Khoa Sài Gòn đến giảng dạy cho sinh viên Huế tại trường Quân Y. Rồi dần dà các nơi khác mở rộng cửa đón tiếp sinh viên Huế như một vài bộ môn Y Khoa Sài Gòn, Viện Pasteur của GS. Nguyễn Văn Ái, BV. Grall, các bệnh viện của Bộ Y Tế, Viện Đại Học Vạn Hạnh của Thầy Minh Châu cho mượn giảng đường và giúp nơi cư trú cho sinh viên. Sinh viên Y Khoa Huế không mất một niên học nào. Các Lễ Đề Biện Luận Án Tiến Sĩ Y Khoa liên tục được tổ chức một cách long trọng trong tinh thần truyền thống dân tộc.

Các sinh viên mãn khoá được hoàn tất luận án, tốt nghiệp ngay trong khi đa số các sinh viên mãn khoá trường Sài Gòn phải chờ đợi nhiều năm mới xong luận án để lãnh bằng tốt nghiệp.

Và Y Sĩ Trung Tá Trần Minh Tùng bây giờ đã trở thành Giáo Sư Trần Minh Tùng, một thành viên trong ban giám khảo luận án, đã hiện diện trong các lễ tốt nghiệp để mỉm cười nhìn lại công quả dũng cảm của mình trong việc cứu giúp một đám thanh niên hiếu học gặp hoàn cảnh éo le hoàn thành Y Nghiệp.

Từ trái sang phải: GS Trần Anh, GS Bùi Duy Tâm, GS Trần Minh Tùng

Anh Tùng ơi! Tôi thương Anh quá!

Mùa hè năm 1970, Linh mục Bửu Dưỡng thành lập Viện Đại Học Minh Đức và quyết tâm mở 1 Đại học Tổng Hợp Đông Tây Y với lý tưởng Hoà Hợp Đông Tây, Kim Cổ, Đạo Đời. LM. mời GS. Nguyễn Văn Ái (Viện Trưởng Viện Pasteur và đồng thời là Chủ Tịch Hội Trí Thức Công Giáo Pax Romana) làm khoa trưởng sáng lập. Ông cười từ chối và giới thiệu tôi với LM. Bửu Dưỡng.

Sau này ông nói nhỏ với tôi: “Tôi thấy chỉ có cậu mới đủ điên để thực hiên giấc mộng điên của ông LM. điên.” Lúc đó tôi không nói gì chỉ hỏi lại LM. Bửu Dưỡng khi nào bắt đầu khoá học đầu tiên. Ông trả lời: 3 tháng nữa. Tôi điềm nhiên nhận lời trước sự ngạc nhiên của Giáo Sư Ái. Thế là mọi việc tiến hành rất tốt đẹp trước sự chống đối của Hội Trí Thức Công Giáo (trừ GS. Ái), một số Giáo sư Y Khoa Sài Gòn, và nhất là BS. Nguyễn Hoài Đức, Chủ tịch Y Sĩ Đoàn. Mọi người yên trí rằng trước sau cũng bị thất bại vì Y Khoa Minh Đức làm sao có thể kiếm được bệnh viện thực tập cho sinh viên.

BS. Trần Minh Tùng nắm chức vụ Tổng Trưởng Y Tế, đúng lúc sinh viên Y Khoa Minh Đức của tôi cần đi thực tập lâm sàng tại bệnh viện.

Văn phòng Bộ trưởng Y tế Trần Minh Tùng

Sinh viên Y khoa Minh Đức tại văn phòng Bộ trưởng Y tế

Thế là các bệnh viện của Bộ Y Tế mở rộng cửa đón sinh viên Minh Đức vào thực tập như sinh viên Y Khoa Sài Gòn.

Tuy Y Khoa Minh Đức chưa có khoá nào tốt nghiệp trước biến cố 30 tháng 4 năm 1975 nhưng học trò của tôi một số được tiếp tục học đã hoàn thành Y Nghiệp trong nước hay ra nước ngoài. Nhiều người đã trở thành Giáo sư Y Khoa bên Mỹ hay đảm nhiệm các chức vụ Khoa Trưởng, Phó Khoa Trưởng các trường y khoa hay Giám đốc, Phó Giám đốc các bệnh viện trong nước. Một số không được tiếp tục học vì lý lịch hay hoàn cảnh riêng đã chuyển sang các ngành nghề khác. Nhiều người đã trở thành tỷ phú nhưng bao giờ cũng nhìn nhận mình đã được đào tạo trong khuôn viên trường Y Khoa Minh Đức để trở thành một lớp sĩ phu có kiến thức Đông Tây, Kim Cổ, Đạo Đời đủ bản lĩnh ứng xử với cuộc đời.

Hình trái: BS Bùi Duy Tâm và LM Bửu Dưỡng Hình phải: BS Trần Minh Tùng trong dạ vũ

Macchabee của Đại học Y khoa Minh Đức

“Giấc Mộng Điên” đã thành hiện thực. Ngoài 2 thủ phạm chính, còn thêm 1 tòng phạm tối quan trọng là BS. Trần Minh Tùng. Tất cả sinh viên Minh Đức đều biết như vậy. Họ đã Vinh Danh ông trong 1 buổi Hội Ngộ tại San Francisco

năm 2005. Ông không đến được vì quá yếu nhưng tất cả đã rơi lệ khi nghe giọng nói tuy yếu ớt nhưng đầy thương yêu của ông qua băng cassette.

Anh Tùng ơi! Tìm đâu trong thế gian này có một người trí óc thông minh tuyệt vời và tâm hồn bình dị trong sáng như Anh.

Sinh thời, Anh đã làm “Đẹp Phận Thế Nhân”.

Giờ đây, Anh xứng đáng “Được Gần Thánh Nhan”.

Viết xong nửa đêm về sáng ngày 30 tháng 10 năm 2008

BÙI DUY TÂM

 

 

TƯỞNG NHỚ ĐÀO MỘNG NAM

LTS. Học giả Đào Mộng Nam đã ra người thiên cổ. Có thể gọi ông bằng nhiều tước danh khác: dịch giả, nhà giáo, nhà thơ. Có thể nhớ hình ảnh ông như một nhà nho, một chàng lãng tử, và trên hết, như một người bạn chí tình với sinh hoạt học thuật, văn hoá dân tộc. Tang lễ ông sẽ được cử hành vào lúc 12 giờ trưa ngày Thứ Bẩy, 2 tháng 9 năm 2006 nhằm ngày 10 tháng Bẩy năm Bính Tuất. Việt Báo trân trọng giới thiệu bài viết của Giáo sư Bùi Duy Tâm, Nguyên Khoa trưởng Đại Học Y Khoa Huế và Y Khoa Minh Đức, tưởng nhớ Đào Mộng Nam.

Ngày 30 tháng 8, năm 2006, Nhã Ca gửi cho tôi một điện thư báo tin:

“Đào Mộng Nam đã qua đời ngày 26 tháng 8 năm 2006 tại thành phố Tustin, Nam Californiạ, hưởng thọ 66 tuổi…Rất mong anh có một bài viết về anh Đào Mộng Nam. Đó là một an ủi lớn cho vong linh người bạn đã ra đi lặng lẽ nhưng để lại cho đời nhiều công trình…”

Mắt tôi mờ lệ, tưởng nhớ đến người bạn của thuở xa xưa…

Hồi đó là cuối năm 1964, mới du học ở Mỹ về, tôi tìm đến nhà Đào Mộng Nam ở trong hẻm bên hông bệnh viện Bình Dân, đường Phan Thanh Giản Sài Gòn, để học chữ Nho. Dáng người nho nhã, trong bộ bà ba trắng, anh tiếp tôi rất kiểu cách, gọi tôi bằng VỊ: “Mời Vị ngồi chơi, mời Vị xơi nước…”

Tôi rất thích lối dạy chữ Nho của Đào Mộng Nam, từ dễ đến khó không làm nản lòng người học. Trong 3 cuốn Chữ Nho Tự Học gồm 1882 chữ, chữ nào cũng được giải tự rõ ràng có nghĩa lý. Bài đọc gồm cả 2 loại: văn ngôn và bạch thoại. Học viên phải tuân theo kỷ luật là phải thuộc bài trước mới được học bài sau. Tuy nhiên nếu quên thì tác giả đã đánh số bộ hay số chữ để học viên tìm lại bài cũ. Lối học chữ Nho của Đào Mộng Nam là luôn luôn dùng từ

điển như từ điển Thiều Chửu. Có nhiều người chỉ trích cái vốn liếng chữ Nho của Đào Mộng Nam. Vâng, Đào Mộng Nam không phải là bậc thâm nho đọc kinh sử thi phú làu làu. Đào Mộng Nam chỉ là người biết học chữ Nho một cách dễ dàng có phương pháp và biết cách chỉ cho người khác học chữ Nho và tự đọc chữ Nho bằng từ điển.

Bộ “Chữ Nho Tự Học” của Đào Mộng Nam được phong trào thanh niên văn hóa Gió Khơi quay roneo để phổ biến vào những năm 1965 – 1969. Đến năm 1970, bộ chữ Nho tự học gồm 3 cuốn đầu mới được xuất bản gọn gàng đẹp đẽ và đã thành công rực rỡ (15,000 cuốn được tái bản trong năm đầu). Một số đại học Mỹ, Pháp, Đức, ngay cả Trung Hoa đã điều đình phiên dịch làm sách giáo khoa. Tôi đưa Đào Mộng Nam vào dạy chữ Nho trong các sinh hoạt ngày chủ nhật cho đoàn Gió Khơi và trong chương trình văn hóa của Gió Khơi trên đài truyền hình Sài Gòn, Đào Mộng Nam phụ trách phần dạy chữ Nho. Sau này tôi đưa anh ra dạy chữ Nho cho viện đại học Huế.

Tôi còn nhớ một hôm (khoảng năm 72 – 73) anh lái xe hơi chở đầy sách đến nhà tôi trong viện Pasteur, khoe với tôi rằng anh mới mua xe hơi, bây giờ anh có nhiều tiền lắm nhờ xuất bản sách. Trong những sách mà anh xuất bản dưới danh hiệu Việt Nam Văn Hiến, có một cuốn sách rất có giá trị là Nho Văn Toàn Thư của Nguyễn Văn Ba. Ông Nguyễn Văn Ba là một Bác sĩ Tây y cùng khóa với Giáo sư Phạm Biểu Tâm, sau chuyên nghiên cứu về triết Đông và hành nghề Đông y châm cứu (Tôi được biết ông Nguyễn Văn Ba là do ông Nguyễn Đức Quỳnh giới thiệu). Sự hiểu biết về triết học đông phương của ông Nguyễn Văn Ba rất uyên thâm, vượt mức lý trí, lên tới Duệ Trí. Tôi thường đưa anh Nam đến học hỏi ông Ba. Anh Nam nhận ra ngay được Kỳ Nhân và hàng ngày ngồi với ông Ba để giúp ông viết xong phần Duệ Trí cho cuốn Nho Văn. Hiểu được Lão Tử, Khổng Tử, Trang Tử, Mạnh Tử, Liệt Tử tới trình độ Duệ Trí, hiếm người được như Nguyễn Văn Ba. Ghi lại và in thành sách để mọi người chung hưởng là công của Đào Mộng Nam. Ba thầy trò hay ba anh em chúng tôi thường bàn với nhau về cái thế chân vạc giữa ngôn ngữ và văn tự

của dân tộc Việt Nam. Thế chân vạc đó là tiếng Việt, chữ Nho và chữ ABC (thường gọi là chữ quốc ngữ.)

Sự tổng hợp kỳ diệu đó sẽ là dụng cụ tuyệt vời để người Việt sinh động với thực tại bằng tiếng Việt, kết nối với quá khứ và các nước Đông phương (Trung Quốc, Nhật Bản) bằng chữ Nho và phổ biến trong quần chúng đương đại bằng chữ ABC.

Thời gian khoảng 72 -73, Thủ tướng Trần Văn Hương có ý trao cho tôi phụ trách văn hóa, giáo dục và thanh niên, nên ba anh em chúng tôi rắp tâm ước vọng đem Nho Văn vào dạy các lớp bậc trung học như một môn học cơ bản bắt buộc.

Đào Mộng Nam viết: “Thực vậy nếu ném một cái nhìn bao quát toàn thế giới chúng ta sẽ không thấy một quốc gia nào lại có được cái thế chân vạc giữa ngôn ngữ và văn tự, vừa bác học vừa giản đơn tới mức tuyệt đối, thỏa mãn cho cả bình dân lẫn trí thức như ở Việt Nam. Với chữ ABC, dù một người Việt Nam ngu tối tới đâu chỉ cần vài tháng là đã có thể đọc thông viết thạo. Thứ chữ này

để dành riêng cho giới bình dân và các trẻ thơ cấp tiểu học. Từ cấp trung học trở lên, ta bắt đầu dạy chữ Nho bằng phương pháp khoa học vì nếu siêng năng vài năm là học sinh có thể đọc được chữ Nho làu làu. Như vậy, sau 7 năm trung học, học sinh nào cũng đọc và hiểu được chữ Nhọ. Thiết tưởng bộ mặt văn hóa của ta chắc chắn sẽ đổi thay nhiều chứ không còn vong bản như hiện giờ. Chúng ta sẽ nối tiếp lại với truyền thống bốn ngàn năm lịch sử của mình, cùng nền văn minh Đông phương sâu thẳm, vốn được coi là gốc rễ của cả nhân loại.”

Đào Mộng Nam còn có nhiều tác phẩm dịch thơ:

  • Dịch và giới thiệu ngàn bài thơ Đường
  • Dịch và giới thiệu kho tàng thơ Nho của các nhà cách mạng kháng Pháp (Thơ Huyết Lệ)
  • Dịch và giới thiệu toàn tập thơ Cao Bá Quát từ nguyên bản chữ Nho. Đào Mộng Nam viết:

“Thơ Cao Chu Thần là tác phẩm thi ca vĩ đại trong lịch sử văn chương nhân loại vì đã được tác giả đem sinh mạng mình cùng ba họ ra bảo chứng.

Về tác phẩm, mặc dầu phần lớn bị nhà Nguyễn thiêu hủy, nhưng phần nhỏ còn lại vẫn trên ngàn bài, nên số lượng cũng sánh ngang Lý Bạch. Nếu thơ họ Lý nồng đượm hơi men cùng rực rỡ sắc hoa thì thơ Cao Bá Quát lại mặn mà nước mắt và tươi thắm máu đào.”

  • Dịch và giới thiệu trường ca Rama.
  • Dịch và giới thiệu “Khúc Hát Dâng Tình,” (thánh thi của vua Salomon có ghi trong Cựu ước) từ tiếng Anh và tiếng Pháp “The Song of Love”. Đào Mộng Nam viết: “Khúc Hát Dâng Tình” (The Song of Love) khi chuyển qua lời Việt để cho tương xứng với nguyên bản vốn là một khúc ca, chúng tôi đã sử dụng thể song thất lục bát truyền thống, vừa dễ nhớ lại vừa dễ hát dễ ngâm. Ngôn ngữ VN với 5 dấu sắc, huyền, ngã, hỏi, nặng, đúng là thứ ngôn ngữ âm nhạc tinh ròng nên khi ta làm thơ theo thể điệu diễn ca, diễn ngâm truyền thống thì kể như ta đã soạn luôn cả nhạc rồị. Thơ của ta gọi là thi ca nghĩa là thơ để “hát”, chưa kể còn

là “thơ” để “hò”; khi hát thì nhẹ nhàng như gió thoảng mây bay lúc chuyển qua điệu hò thì lập tức trời rung đất chuyển.

Về hội họa, Chagall, bậc thầy của thế kỷ, đại sư của họa phái ấn tượng, nhờ nhiều năm, ăn nằm với khúc hát này, nên đã sáng tác được những họa phẩm lừng danh mà chúng tôi đã trích một số làm phụ bản, in nền các trang trong sách.”

Đây là một cuốn sách ấn loát tuyệt đẹp với phụ bản là các bức tranh của Chagall. Tôi được hân hạnh viết lời giới thiệu:

“Nếu ta đóng chặt cửa lòng để sống với cái bé nhỏ của mình thì chẳng khác chi chiếc lá khô sẽ mau rụng khỏi cành. Nếu ta mở tung cánh cửa tâm hồn để đi vào cõi lớn, Niết bàn hay Thiên đàng, thì Phật hay Chúa sẽ ngự trị tại lòng ta, TRỜI ĐẤT và TA là một và cùng nhau BIẾN HÓA vô cùng tận.

Thánh kinh đã nhiều lần so sánh mối quan hệ thiêng liêng giữa Thượng đế và con người như tình yêu thắm thiết giữa đôi lứa. Chúa Cứu Thế khuyên các môn đồ: Các ngươi hãy tỉnh thức chờ ta đến như nàng dâu chờ chàng rể.

Thi sĩ Đào Mộng Nam đã cảm hứng dịch thánh thi ra thơ trữ tình Việt Nam:

Hồn mơ mòng tim rung cánh mộng Tiếng người yêu vang vọng ngoài phòng Mở cửa mau hỡi bạn lòng

Hỡi bồ câu trắng anh mong gặp mình.

…..

Em rót dâng tình anh nồng thắm Chảy tràn tim hồn đắm cơn say Son tình thắm mộng lứa đôi

Cho dầu đá nát vàng phai chẳng mờ

Với tác dụng nhiệm màu là thăng hoa tình yêu trần tục thành tình yêu thánh thiện, với thể điệu diễn ngâm truyền thống, với nghệ thuật thi ca trữ tình trác tuyệt, Đào Mộng Nam đã đưa kinh Chúa vào lòng dân tộc, đưa đạo Chúa vào hồn Việt Nam…”.

Vào cuối thu 1988, tôi đưa Đào Mộng Nam và Tường Vũ Anh Thi đến thăm ngôi mộ đợi chờ của tôi trên một ngọn đồi trông ra Half Moon Bay, Thái Bình Dương. Ba người bạn tri âm ngồi lặng yên ngắm cảnh chiều tàn rất đẹp “chỉ tiếc cận hoàng hôn”. Tường Vũ Anh Thi tức cảnh sinh tình làm bài điếu văn cho tôi. Bây giờ trong ba anh em, Đào Mộng Nam lại ra đi trước. Thôi, tôi chia sẻ vài đoạn trong bài điếu văn đợi chờ này để khóc Đào Mộng Nam:

Hai cánh tay anh chưa hề mỏi mệt

Nhưng sẽ bằng lòng bạn với cỏ cây

Anh duỗi đôi chân vào thăm thẳm

Khắp không gian văng vẳng bóng quê nhà

Cả Thái Bình Dương là hạt lệ

Là Minh-Đường vời vợi lòng anh

Xác sẽ ngủ miên man như đất

Nhưng hồn còn chan chứa nước lên

Thoáng nghe những bước chân người

Tiếng khua bì bõm tiếng cười như thơ

Trên ngực anh mạ xanh man mát

Ngực bây giờ yên lặng mênh mang

Anh nằm giấc thênh thang.

Nửa đêm về sáng

Ngày 1 tháng 9, năm 2006

BÙI DUY TÂM

 

 

KHÓC TRƯƠNG THÌN

Tưởng như đương quỳ bên em đây, Trương Thìn ơi!

Cả ngàn bài thơ, ca khúc, bức họa, điêu khắc, biện chứng đông y của em vẫn chưa đủ vẽ nên chân dung Trương Thìn, một khối pha lê trong suốt, tinh khiết chẳng có những eo sèo của thế nhân, chẳng gợn chút bụi trần.

Cả một đời, anh chưa từng nghe Trương Thìn nghĩ không tốt, nói không tốt về ai.

Thầy thuốc Trương Thìn chữa bệnh bằng họa, bằng thơ, bằng nhạc:

Cho khỏe tâm thân Cho vui cuộc sống Cho nhiều cuộc chơi

Thìn đi rồi, Tâm chơi với ai…..đây?

Thìn ơi! Giờ đây anh linh cảm thấy em đang gọi anh về, về với em… Thân anh tuy cảch em ngàn dặm nhưng hồn anh đã về bên em.

Để chúng ta cùng bay vào một cõi rất cao, rất xa như chưa bao giờ tới. Đó là cõi Tình Yêu vĩnh cửu. Thìn ơi, anh thương em, anh yêu em!

bùiduytâm

San Francisco, 01 giờ sáng chủ nhật 23/12/2012

KHÓC THIÊN HẠ

VĂN ĐIẾU CÁC GIÁO SƯ ĐỨC

Giáo Sư BÙI DUY TÂM, Khoa Trưởng Đại Học Y Khoa Huế khóc các vị Giáo Sư ĐỨC tử nạn trong biến cố Tết Mậu Thân năm 1968.

Giáo Sư HORTGUNTHER KRAINICK rời bỏ quê hương Đức Quốc vĩ đại sang Việt Nam để làm Cố Vấn xây dựng trường Y Khoa Đại Học Huế.

Bà KRAINICK, người phụ nữ của một dân tộc anh hùng, đã nhẫn nại và can đảm theo chồng để giúp ông làm tròn sứ mạng.

Giáo Sư RAIMUND DISCHER mang tài uyên bác từ một Quốc Gia đàn anh trong lãnh vực phát minh Khoa Học, để góp phần đào tạo các thầy thuốc cho xứ Thần Kinh.

Bác sĩ ALOIS ALTERKOSTER, đồng bào của thiên tài RICHARD WAGNER, đã đem sự hăng say của tuổi trẻ vào việc trị liệu bệnh nhân nơi Cố Đô. Tất cả đã đến xứ Huế, đã dâng hiến cái tinh túy của đời mình cho xứ Huế và cuối cùng đã chết tại xứ Huế ngay vào đầu một mùa xuân máu lửa.

Thưa Ông Tổng Trưởng Văn Hóa Giáo Dục, đại diện Thủ Tướng, Thưa Ông Đại Sứ Đức Quốc, Thưa tất cả Quý Vị,

Đó là nguyên nhân đã đem lại cho nước Việt Nam cái vinh dự như vinh dự của đất Thụy Sĩ đã được nhà Đại văn hào Thomas Mann chọn làm nơi vĩnh biệt cõi đời. Tuy nhiên chúng tôi không khỏi xúc động đau đớn khi những cuộc tàn sát vô ý thức giữa con người và con người, vẫn thường xảy ra ở các lao tù, trại tập trung, bãi chiến trường khắp nơi trên thế giới, lại một lần nữa đến với nước chúng tôi trong một hoàn cảnh quá bất công vì họ là những nhà Giáo Dục Y Khoa chỉ biết dạy dỗ và cứu giúp.

Lễ Truy Tặng Bảo Quốc Huân Chương cho các Giáo Sư Đức tử nạn

Chúng tôi thành tâm chia buồn cùng gia đình họ nhưng đoan chắc rằng qua giọt lệ tang tóc, lại đương bừng lên trong ánh mắt người dân Đức một ý chí cương quyết tranh đấu cho Tự do và Nhân đạo.

Chúng tôi tri ân trường Đại Học và Chính Phủ Đức đã cử những Giáo Chức xứng đáng và những công dân biết làm vẻ vang cho xứ sở, sang giúp chúng tôi xây dựng nền Giáo Dục Y Khoa.

Sự hy sinh cao cả của họ nhất định không là trở ngại cho sự cộng tác giữa hai quốc gia trong việc tái thiết Trường Y Khoa Đại Học Huế. Chúng tôi tin chắc rằng cái tác phẩm tinh thần mà họ đã góp phần tâm huyết, phải được tiếp tục trong tinh thần thân hữu Đức Việt.

Trước kia người ta chỉ biết Bác sĩ ALBERT SCHWEITZER cả đời tận tụy cứu người trong rừng già châu Phi.

Bây giờ tên tuổi của các Bác sĩ KRAINICK, DISCHER, ALTERKOSTER sẽ ghi sâu trong lòng người dân Việt. Rồi đây dòng Hương Giang với lăng tẩm sẽ gợi lại vài hình ảnh của các lâu đài bên bờ sông Rhin, tiếng chuông Linh Mụ sẽ còn gợi chút vẻ Thánh đường Konigsberg và biết đâu trong giọng hò xứ Huế người ta lại chẳng tìm thấy chút âm hưởng gần Hòa tấu khúc số 9 của Beethoven.

Than ôi! Còn gì đẹp cho bằng “Một đám mây trên trời xanh, một giọt tuyết trong lò trời, một cánh hoa nơi vườn Thượng Uyển, một vầng trăng ở dưới ao tiên” – Thế mà, cũng có lúc mây tản, tuyết tan, hoa tàn, nguyệt khuyết.

Giữa cơn tao loạn, cây tùng, cây bách bị chặt xuống làm củi khô, ruộng dâu phút chốc chỉ còn là mặt biển… Huống chi con người…

Các vong hồn có linh thiêng xin về chứng giám cho lòng thành của chúng tôi.

Giáo Sư Bùi Duy Tâm, Khoa Trưởng Đại Học Y Khoa Huế

KHÓC MÌNH

 

Chú thích

Ngọc chẩm: Gối ngọc, trong thuật phong thủy là từ để chỉ ngọn đồi phía sau, như chiếc gối kê đầu tạo thế vững chắc cho huyệt mộ.

Tay long tay hổ: Chỉ hai dãy đồi núi hai bên, như rồng như hổ uốn vòng triều lai, nằm chầu ngôi mộ.

Minh đƣờng: Là chỗ phía trước mộ, theo phong thủy phải có nước tụ, như hồ, ao, sông, biển để làm ấm mạch đất cho sự phát triển lâu dài. Ở đây minh đường chính là biển Thái Bình (vùng Half Moon Bay thuộc bang California), xa xa…bên kia bờ đại dương là quê cha đất tổ Việt Nam.

Trên nội án ba vì sao lạc, Dƣới chân đồi mặt nguyệt lửng lơ: Ba vì sao cùng với vầng trăng khuyết họp lại thành hình chữ “Tâm”.

Ngoài biển xa có cá voi bơi, Trên trời một cánh chim xòe rộng: Lấy ý từ thiên Tiêu Dao Du trong Nam Hoa Kinh của Trang Tử:

“Biển bắc có con cá tên là Côn, lớn không biết mấy ngàn dặm. Nó biến thành con chim tên là Bằng, lưng của con chim Bằng lớn cũng không biết mấy ngàn dặm. Khi con chim Bằng ấy vỗ cánh bay lên cao, hai cánh nó lớn như đám mây che cả bầu trời. Loài chim ấy, khi biển động, sóng lớn gầm gào, nó liền chuyển về biển nam ..”

Bùi Duy Tâm đã sáng lập phong trào thanh niên văn hóa Gió Khơi, với bài đoàn ca có câu : “Kình ngư dưới đáy biển, ấy đoàn Gió Khơi/ Ngàn mây tung cánh Bằng, chính đoàn Gió Khơi”. Bài hát này do nhạc sĩ Tống Ngọc Hạp sáng tác, mượn hình ảnh kỳ vĩ trong cổ thư để nói lên khí chất và ý chí của thanh niên nước Việt.

Bùi Duy Tâm suốt đời ôm ấp những giấc mộng lớn và luôn tha thiết đóng góp cho cuộc đời đến hơi thở cuối cùng. Lúc còn đi học luôn đậu Thủ khoa từ trung học phổ thông đến kỳ thi Tiến sĩ, giải nhất toán toàn quốc và là người Việt Nam đầu tiên đạt được học vị Tiến sĩ Y khoa ở Hoa Kỳ. Trong tuổi tam thập, đã hồi sinh Đại học Y khoa Huế sau biến cố Tết Mậu Thân, sáng lập Y khoa Minh

Đức, Đại học Y tư thục đầu tiên trong cõi Việt Nam; Ngoài tuổi bát tuần còn xây dựng Đại học Y khoa Tân Tạo và đem lại niềm hứng khởi cho sinh viên Y khoa Đại học Võ Trường Toản.

Tên là “Duy Tâm” nên luôn sống bằng một tấm lòng: Yêu thương con người nên dốc lòng cho sự nghiệp giáo dục y khoa; Yêu thương quê hương nên dù hơn bốn mươi năm xa quê vẫn giữ vững tinh thần dân tộc. Chủ trương đưa tinh hoa dân tộc vào giáo dục Y khoa hiện đại: cho sinh viên mặc quốc phục khi làm lễ tốt nghiệp, soạn ra lời tuyên thệ có nội dung Tu Tề Trị Bình cho Người Thầy Thuốc…Đến cuối đời còn lo cho hướng “minh đường thủy tụ” của sinh phần nhìn về nơi chôn nhau cắt rốn qua đại dương mang tên Thái Bình.

Cả một cuộc đời quang minh quảng đại, không câu nệ những eo sèo nhỏ nhen; Khi về với lòng Đất sẽ nằm giữa bao la vô tận: hoa trắng trong khe núi, mây bay thanh thản trên trời xanh.

Thiên nhiên cao rộng rồi đây sẽ là cõi đi về cho một linh hồn cương trực, bao dung, dũng cảm, mãi mãi còn trong tâm tưởng của thế nhân.

MỤC LỤC

Khóc Tứ Thân Phụ Mẫu

  • Khóc Cha 3
  • Khóc Mẹ 31
  • Khóc Nhạc Phụ 53
  • Khóc Nhạc Mẫu 61

Khóc Vợ

-Khóc Vợ 75

Khóc Thầy

  • Khóc Thầy Trần Vỹ 86
  • Tưởng nhớ Giáo Sư Tôn Thất Tùng, bậc tiền bối trong Y học Việt Nam hiện đại 91

Khóc Bạn

  • Tưởng nhớ Bác Sĩ Trần Minh Tùng 98
  • Tưởng nhớ Học Giả Đào Mộng Nam 110
  • Khóc Trương Thìn 118

Khóc Thiên Hạ

  • Văn điếu các Giáo Sư Đức 121

Khóc Mình

  • Sinh phần 127

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *