LÀNG ĐÔNG NGẠC (KẺ VẼ)

Địa linh nhân kiệt

Lời tòa soạn

Tác giả “Làng Hành Thiện” lại đến với độc giả của Thời Luận với bài viết “Làng Đông Ngạc”. Thêm một lần nữa, tác giả minh chứng rằng dân trong một làng dù sống dưới chế độ nào, dù lưu lạc đến chân trời góc biển nào cũng vẫn giữ được và mang theo cái khuôn mẫu truyền thống của làng mình trong mọi lãnh vực. Từ một làng suy ra cả nước: Tiếng ta còn …, Phong Hóa ta còn … Gốc ta còn … Nước ta còn.

Giữa những oan khiên của cuộc nội chiến quốc cộng ủy nhiệm dài 30 năm, tác giả đã cố gắng công minh suy xét và dùng ngòi bút tinh tế lách ra được cái hay trong cái dở, cái thiện trong cái ác để cả hai bên cùng nhau trân quý giữ lại học hỏi. Một bài viết đủ cả hỉ nộ ái ố mong sẽ làm vui lòng độc giả trong dịp đón Xuân Canh Dần (2010).

LÀNG ĐÔNG NGẠC (KẺ VẼ)

Bùi Duy Tâm

Hành Thiện là quê mẹ tôi nên tôi viết bài “Làng Hành Thiện”. Bạn Trần Lưu Cung (thứ trưởng đại học, tổng giám đốc kỹ thuật VNCH) nhắc tôi nên viết thêm về làng Chèm Vẽ (ngoại ô Hà Nội). Tôi về Hà Nội, bạn Bùi Thiết (sử gia Việt Nam) đưa tôi đến Chèm Vẽ, gặp dân làng, thăm đình làng, nhà thờ tổ các dòng họ, mồ mả các người quá cố và trao đổi với các chứng nhân trong làng cùng tác giả các cuốn sách về làng cổ truyền Việt Nam, các làng ngoại ô Hà Nội nhất là làng Đông Ngạc, tôi mới tìm ra nhiều điều người ta hiểu sai, biết chưa đủ, cố ý hay vô tình bỏ qua vì bất công hay bất nhẫn.

Tôi kinh ngạc và xúc động nên hạ bút viết bài này không hề có ý định để bênh vực, chỉ trích, đề cao, phẫn uất hay ca tụng một nhân vật nào, một sự kiện nào mà chỉ mong đặt lại dấu chấm trên chữ i, đúng chỗ của nó – một cách chí công vô tư.

Trước hết phải danh chính ngôn thuận. Chèm là làng Thụy Phương. Vẽ là làng Đông Ngạc. Hai làng ở cạnh nhau cùng thuộc huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội từ năm 1948 (trước kia thuộc phủ Hoài Đức, Hà Đông,… và nhiều thay đổi theo các thời đại, tuy nhiên địa danh huyện Từ Liêm đã có từ thời nhà Lý) nhưng khác hẳn nhau:

– Chèm (tên chữ là Thụy Phương) thờ Lý Ông Trọng làm thành hoàng.

– Vẽ (tên chữ là Đông Ngạc) có 3 vị thành hoàng:

+ Thần Độc Cước (thiên thần)

+ Thần Lê Khôi, cháu gọi Lê Lợi bằng chú ruột (nhân thần)

+ Thần Bản Thổ (địa thần)

Ngoài ra còn phối thờ Mạc Quận Công và hai vị có công với làng trong việc dựng đình là Phạm Công Dung, Phạm Thọ Lý.

Khi nói đến làng Đông Ngạc còn gọi là Kẻ Vẽ, nhiều người hay gọi là Chèm Vẽ như cách gọi của ông bạn Trần Lưu Cung vì nguyên do sau: chữ “Từ – Liêm” đọc nhanh thành T.Lèm hay Chèm. Thụy Phương và Đông Ngạc đều thuộc về huyện Từ Liêm hay T.Lèm hay Chèm.Đông Ngạc có tên nôm riêng là Vẽ thì Thụy Phương vẫn giữ tên nôm chung là Chèm. Cũng như sau năm 1956 Đông Ngạc trở thành địa danh chung cho một xã gồm 3 làng: Đông Ngạc, Nhật Tảo và Liên Ngạc với 3 tên nôm Kẻ Vẽ (Đông Ngạc), Nhà Kiểu (Nhật Tảo) và Bãi Hoa (Liên Ngạc).

Tuy có vị trí kế cận với nhau, làng Đông Ngạc (Kẻ Vẽ) là một làng khoa bảng nhất nước về đại khoa với 9 vị tiến sĩ phó bảng và nhì nước về số đậu cử nhân (42 vị) dưới triều Nguyễn. Trong khi các làng kế cận Thụy Phương (Chèm), Nhật Tảo (Nhà Kiểu), Liên Ngạc (Bãi Hoa) không được liệt vào danh sách các làng khoa bảng tuy Thụy Phương đã từng bị hiểu lẫn lộn với Đông Ngạc (Chèm Vẽ) hay trong hiện tại Nhật Tảo, Liên Ngạc cũng thuộc về xã Đông Ngạc (các làng này suốt trong triều Nguyễn chỉ có vài ba vị tú tài).

Cũng như làng Hành Thiện là một làng khoa bảng nhất nước với 88 vị đậu cử nhân và nhì nước với 7 vị đậu tiến sĩ phó bảng (các con số này chỉ tính theo thống kê dưới triều nhà Nguyễn). Trong khi các làng kế cận như Ngọc Cục, Lục Thủy, Bùi Chu không có một vị nào đậu cử nhân (tuy học trò các làng đó sang Hành Thiện học rất nhiều).

Ngoài sự giải thích còn rất mơ hồ về địa lý, việc này chưa lý giải thỏa đáng nên đành chấp nhận 4 chữ: “ĐỊA LINH, NHÂN KIỆT”.

Làng Hành Thiện trong lãnh thổ hiện tại tuy xuất hiện từ cuối thế kỷ thứ XVI nhưng mang tên là làng Hành Cung, mãi đến năm 1823 mới đổi tên là Hành Thiện.

Còn làng Đông Ngạc là một vùng đất được khai phá từ thời thái cổ nằm trong Giao Chỉ quận, trên các cánh đồng làng Đông Ngạc đã có những truyền thuyết kháng chiến từ đời Hai Bà Trưng, đến thời kỳ Lý Trần đã hình thành và phát triển khá hoàn chỉnh. Đông Ngạc ngày nay là một làng ven đô, cách trung tâm Hà Nội 10 km về phía Tây Bắc, bên hữu ngạn sông Hồng Hà ngay dưới chân cầu Thăng Long.

Làng Đông Ngạc có tên nôm là làng Vẽ hay Kẻ Vẽ. Hai tên Đông Ngạc (tên chữ) và Kẻ Vẽ (tên nôm) không có liên quan gì với nhau và được giải thích nhiều cách khác nhau:

– Cuối đời nhà Trần làng này có nghề làm gạch phát đạt. Dân làng tụ tập làm gạch nên gọi là phường “Đống Gạch”, lâu ngày biến thể thành âm Hán Việt là Đông Ngạc.

– Cũng có người cho rằng các học trò tụ tập trên các gò cao để học bài suốt ngày đêm (vì là làng văn học) như ếch kêu như các “Đống Ếch” lâu ngày thành tên chữ Đông Ngạc.

– Còn tên nôm là Kẻ Vẽ vì làng có đường đi lối lại đẹp đẽ ngăn nắp như tranh vẽ.

– Hay vì làng lắm người đỗ đạt làm quan nên hay bày vẽ trong cách ăn ở sinh hoạt.

Các cách giải thích này tuy không đúng nhưng cũng phản ánh được các nét sinh hoạt của làng Đông Ngạc hay các đặc điểm của dân Kẻ Vẽ.

Thực ra hiện nay làng Đông Ngạc có xóm Vẽ và xưa kia có chợ Vẽ rất nổi tiếng. Tên Vẽ có thể do đó mà ra. Hiện nay làng còn có các xóm mang tên xóm Đông, xóm Ngác và tên làng là Đông Ngạc có thể do tên các xóm ngõ ghép lại.

Theo sách Đại Việt Thông Sử của Lê Quý Đôn thì trong chùa Diên Khánh của làng có một quả chuông lớn đúc năm Khai Hựu thứ tư (1332). Sự kiện đó được quan ngự sử trung tán Trần Chấn Khanh ghi rõ: “Đông Ngạc phường, Diên Khánh, Bảo Ân Tự chung minh, Bảo Hựu thứ tư”. Như vậy địa danh Đông Ngạc đã được ghi lại trong sử sách từ năm 1332. Vả lại làng có nhiều vị khoa bảng, chẳng lẽ lại đặt tên làng mình một cách ngây ngô như trên.

Cũng như làng Hành Thiện bên ngoài có sông Hồng Hà bên trong có sông Bùi Chu bao quanh, làng Đông Ngạc có sông Hồng Hà chảy qua phía Bắc bên trong có 7 hồ lớn nhỏ thông với sông Hồng. Mùa nước lên, nước sông Hồng chảy vào các hồ trong thế “thủy tụ” làm ấm áp đất làng, sinh vượng khí cho dân làng gây nên thế đất “Địa Linh Nhân Kiệt”. Phía đông giáp làng Bạc (Phú Thượng), làng Giàn (Xuân Đỉnh), phía nam giáp làng Noi (Cổ Nhuế), phía tây giáp làng Chèm (Thụy Phương) có đường số 69 từ ngã tư Chèm – Vẽ qua Noi ra đường quốc lộ số 32 (Hà Nội – Sơn Tây). Cầu Thăng Long dài 2 cây số, được xây dựng xong năm 1985, chạy qua mé Bắc làng nối liền hai bờ nam bắc sông Hồng.Theo thống kê của Pháp năm 1920 thì làng Đông Ngạc có 3714 dân trong khi Nhật Tảo và Liên Ngạc có hơn 600 dân.Dưới triều Nguyễn, đa số dân làng có dưới 1 mẫu ruộng đất (67 gia đình), từ 1 đến 3 mẫu (54 gia đình), từ 3 – 5 mẫu (9 gia đình), 19 mẫu (1 gia đình), 21 mẫu (1 gia đình). Trong thời phong kiến, các gia đình địa chủ Kẻ Vẽ thường ít khi ở làng, giao nhà cửa ruộng nương cho người thân thuộc trông nom. Cũng như làng Hành Thiện, địa chủ Kẻ Vẽ không bóc lột nông dân như các nơi khác mà thường dùng cách cư xử xoa dịu ban ơn.

Những người không có ruộng hoặc ít ruộng họp nhau lại làm các nghề thủ công như:

– Phường Thổ Oa (xóm Lò Nồi) chuyên làm nồi, chum vại, tiểu sành.

– Phường Hàng Quang (xóm Hàng Quang) chuyên nghề song quang, bàn ghế bằng mây.

Ở rải rác khắp các xóm ngõ là người làm các nghề thủ công khác như làm quạt lá vả, khăn xếp bằng lượt, chậu trồng cây cảnh bằng đất nung, gạch ngói, đồ sơn mài, nhuộm vải bằng củ nâu, vàng mã … Đến đầu thế kỷ XX có thêm nghề làm mũ cứng bằng dút lợp vải, nghề làm mũ nan, sau này gọi là mũ panama, mũ “đầm chếch” cho phụ nữ Pháp.Đến cuối thế kỷ XIX, Kẻ Vẽ đã trở thành một trung tâm buôn bán giao dịch sầm uất của phía Tây Bắc Hà Nội với chợ Vẽ được ghi trong sách “Đại Nam nhất thống chí” và phố Vẽ có nhiều cửa hiệu bán tơ lụa vải vóc, tạp hóa, tương cà mắm muối và các đặc sản: chả sấy, bánh khoai phồng, lam dừa, giò chả, nem, cà dầm tương.

Kẻ Vẽ là một làng quê có kỷ cương với nếp sống, phong tục tập quán đặc biệt của dân làng: “Kẻ Vẽ có lịch có lề ,có sông tắm mát nhiều nghề đâu hơn”.Vốn là một làng có truyền thống nho học nhiều đời qua “cửa Khổng sân Trình” nên từ cách thức giao thiệp, xử thế cho đến cái ăn mặc của người dân Kẻ Vẽ cũng hơn người:

– Về trang phục, người Đông Ngạc lúc nào cũng ăn mặc đàng hoàng, ra đường là quần chùng áo dài. Nam thì khăn xếp, áo the, giày Chí Long. Nữ thì khăn mỏ quạ, áo tứ thân. Trong dân gian đã có câu:“Lượt mượt Kẻ Vẽ, gọn ghẽ Kẻ Chèm”.

– Về ẩm thực, Đông Ngạc từ xưa có món ăn nổi tiếng là nem Vẽ: “Giò Chèm, nem Vẽ” và một số quà bánh như bánh khoai phồng, bánh sấy.“Thứ nhất bánh cuốn Thanh Trì, thứ nhì khoai phồng làng Vẽ”.

Làm bánh khoai phồng phải đúng mực thước, nhiều kinh nghiệm, xem thời tiết mà làm thì bánh mới phồng to. Người làng Vẽ làm bánh khoai không bằng bột khoai mà làm bằng bột nếp cái hoa vàng. Nếp cái hoa vàng đã sao chín thơm như làm bột dẻo, bột khảo, người ta trộn với nước đường nhạt và ủ theo một kỹ thuật riêng , tạo nên những hạt bột nhỏ như hạt lạc, hạt ngô trắng thơm. Khi ăn, người ta cho vào rang những hạt nảy nở phồng to như củ khoai sọ nên gọi là bánh khoai.

Làm bánh sấy cũng rất công phu: thịt thăn nõn(từ con lợn ỷ pha: mõm nhỏ chân ngắn) thái to bằng đồng bạc hoa xòe đem ngâm với nước giềng và nước mắm, đổ vào một miếng lá chuối rồi lấy dao đập cho bẹt ra tròn như cái đĩa, đem phơi khô. Khi nào ăn thì đem nướng rồi tẩm với nước đường ăn thơm ngon đủ mùi vị bùi béo cay ngọt rất thú vị.Thông thường các nhà quan lại làng Vẽ mời bạn đến đọc thơ, ngắm hoa, thưởng nguyệt trong khi tại một góc nhà một chú tiểu đồng nhóm lò than hoa, dùng quạt phẩy khẽ cho hồng than mới đưa bánh thịt vào nướng, tay đảo như nướng bánh đa, bánh thịt phồng dẻo thơm ngon hơn cả cách ăn mực nướng.

Nem Vẽ không giống nem chua như nem Thanh Hóa, nem Nam Định mà là nem chạo: bì lợn sống rửa sạch, cạo sạch lông rồi chấn nước sôi cho chín tới để lấy độ dòn. Dùng dao sắc mỏng lưỡi, thái tay thành sợi cho đẹp. Lọc lấy mỡ gáy cắt vuông nhỏ như hạt lựu, rồi trộn tất cả với thính đã rang thơm, thính này làm bằng gạo tẻ rang thơm vàng tán bột. Sau một thời gian đủ để ngấm, thính sẽ làm chín mỡ gáy, dễ tiêu. Ăn với rau thơm, ta tận hưởng được các vị dòn, vị béo, vị thơm – tha hồ mà thù tạc:

Tay cầm bầu rượu nắm nem

Mải vui quên mất lời em dặn dò

Khi xưa bánh sấy, nem Vẽ là các đặc sản “tiến vua” ngày nay trong cái hỗn độn thật giả, người ta đã bỏ quên cái bản sắc dân tộc mà ông cha đã tạo dựng.

Trẻ em Kẻ Vẽ đi đâu chơi cũng thường có thói quen cặp một bó nan giang ở nách, hai tay thoăn thoát đan nan. Cô gái làng Đông Ngạc ra Kẻ Chợ (Hà Nội) thì quần chùng áo dài xột xoạt thướt tha khi trờ về Kẻ Vẽ thì xuống đồng chân lấm, lên bờ thoăn thoắt đan quạt làm nem. Đó là hình ảnh người dân thường làng Vẽ.

  • ĐÌNH Đông Ngạc được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa, tọa lạc giữa ngõ Ngác và trường tiểu học trông ra đường cái quan và đê sông Hồng. Đình được xây dựng thời Lê Thần Tông (1635 – 1643) do những người làng là Phạm Thọ Lý hiến đất, Phạm Công Hoàn chi phí công thợ và Phạm Công Dung lúc bấy giờ đang làm quan tham chính kiêm đốc đồng Tuyên Quang bỏ tiền ra mua gỗ quý làm toàn bộ khung đình. Đình được trùng tu nhiều lần (1779, 1782, 1994, 1997) nhưng vẫn giữ được đặc điểm kiến trúc thời Hậu Lê (thế kỷ XVII). Nét đặc biệt của đình Đông Ngạc là mang nhiều dấu ấn của kiến trúc cung đình, không quay mặt về hướng Nam như lệ thường mà lại quay mặt về hướng Đông Bắc một phần để tận dụng địa thế đẹp và không gian thoáng của sông Hồng Hà, một phần phải xoay chệch đi để tránh hướng Đế Vương vì đình có kiến trúc cung đình. Hiện nay đình Kẻ Vẽ còn giữ được bộ tranh khắc gỗ gồm 48 bức từ thời Hậu Lê trong đó có 8 bức khắc nổi các nội dung “sĩ, nông, công,thương, ngư, tiều, canh, mục” nét khắc sắc sảo, màu sắc hài hòa và 16 bức tranh không treo, chỉ đến ngày lễ hội mới đưa ra bày trên giá gỗ ngoài sân cho dân chúng xem. Nội dung 16 bức tranh đó ca ngợi 4 điều vui (Tứ Hỷ): khi treo bảng vàng, khi nắng hạn gặp mưa nhuần, khi xa quê gặp bạn đồng hương và trong đêm đuốc hoa động phòng.

keve02 Đặc biệt nhất là đình Vẽ có hai cột trụ biểu đôi bàn tay bằng đồng: một bàn tay cầm bút lông trong tư thế đương viết (biểu tượng văn học) và một bàn tay nắm chặt vòng lửa (biểu tượng vũ học và nghệ thuật) nói lên sự thành đạt của làng về cả 2 mặt văn võ, dựng trên sân rộng lát gạch Bát Tràng trước một hồ sen ngay phía ngoài đình.

Đình thờ 3 vị Thành Hoàng: Thiên thần Độc Cước, Địa thần Bản Thổ và Nhân thần Lê Khôi (cháu gọi Lê Thái Tổ Lê Lợi bằng chú ruột).

Đông Ngạc là một làng Nho học, tất cả các nghi thức tâm linh tín ngưỡng các quan hệ gia đình, tộc họ, xóm làng đều được quy định trên dưới rõ ràng theo văn phép. Nhưng vẫn giữ tinh thần dân chủ nên mọi việc liên quan đến lợi ích của đất nước, xóm làng đều được đưa ra chốn đình làng cùng hội đồng kỳ mục, hội đồng bô lão bàn bạc không phân biệt giàu sang nghèo hèn. Ở đình treo câu đối:

Thị phi thiên tái hạ

Nghị luận nhất hương trung

Nghĩa là: “Khen chê dưới ngàn thuở. Bàn bạc trong một làng” mọi việc lấy tình nghĩa làm trọng, không có hủ tục nặng nề mà cốt lõi ở sự thành tâm. Vì lẽ đó nhà vua đã ban cho làng 4 chữ: “MỸ TỤC KHẢ PHONG” (như làng Hành Thiện).

Hội đình làng Đông Ngạc diễn ra vào 3 ngày mồng 9, 10, 11 tháng hai âm lịch. Ngày đầu tiên là Rước Mã hay còn gọi là lễ “Phụng Nghênh Long Mã” vào buổi sáng. Chiều tối dân làng lại dóng trống mở cờ đi rước nước từ sông Hồng về. Thuyền bồng và thuyền thoi đàn sáo tưng bừng ra giữa sông lấy nước. Rước nước về làm lễ “Mộc Dục” và lễ “Phục Triều Y” vào lúc nửa đêm. Ngày thứ hai dân làng vào hành lễ “Phụng Nghênh” sau ba hồi chín tiếng trống. Khi hồi trống thứ 3 bắt đầu thì trong đình phóng lên 3 hỏa khí nổ tượng trưng cho sấm chớp đem mưa cho nông nghiệp. Lúc 3 tiếng trống cuối cùng kết thúc thì khắp trong đình, ngoài đình đốt đuốc sáng rực tượng trưng cho bóng đêm đã xua tan, con người được thông quang với thần linh. Lễ xong mọi người ngồi ở chiếu đã phân định theo ngôi thứ 10 hàng để ăn uống và nghe ca xướng ngay tại đình. Sáng ngày thứ ba, buổi sáng có rước cỗ, buổi trưa giết 2 bò để tế xuân,tiếp theo là lễ “Giải Triều”, lễ “Hoàn Cung” rồi đóng cửa đình. Trong suốt 3 ngày lễ xen vào việc tế lễ rước kiệu, rước long đình là các trò chơi dân gian như: thi đánh cờ, chọi gà, bịt mắt bắt dê, kéo co, hát chèo, đốt pháo bông, múa rối nước …

Lễ hội làng Vẽ cũng giống như nhiều lễ hội đình ở các vùng quê miền Bắc. Đó là lễ hội của nhà nông. Chỉ khác là làng Vẽ là một làng khoa bảng lâu đời nên việc tổ chức nền nếp cầu kỳ hơn mang nhiều ảnh hưởng nho giáo và màu sắc cung đình.

* Làng Đông Ngạc có 2 ngôi CHÙA: Chùa Diên Khánh và chùa Tư Khánh.

– Chùa Diên Khánh (chùa Bé) được xây dựng từ thuở xa xưa. Theo sách “Vũ trung tùy bút’ của Phạm Đình Hổ năm 1534 làng Đông Ngạc đào được một quả chuông đồng đúc năm 1315 chôn tại sân chùa Diên Khánh. Khi chuyển quả chuông này về chùa Tư Khánh phải dùng tới 30 người khiêng. Theo sách “Kiến văn tiểu lục” của Lê Quí Đôn, chùa Diên Khánh của phường Đông Ngạc có quả chuông đồng đúc năm 1332 có bài minh khắc trên quả chuông do Trần Chấn Khanh biên soạn.Cả 2 quả chuông đều bị triều đình Lê Chiêu Thống lấy đi đúc tiền. Sau đó chùa bị bỏ hoang, hoàn toàn đổ nát (bây giờ là khu tập thể của xí nghiệp bê tông đúc sẵn).

keve03 – Chùa Tư Khánh (chùa Cả) được xây dựng thời nhà Mạc (1527 – 1592) do người làng là Nguyễn Phúc Ninh hiến gia tư điền sản. Chùa có qui mô bề thế, trải qua nhiều lần trùng tu vẫn giữ được nét kiến trúc cổ. Hiện nay chùa còn nhiều pho tượng có giá trị nghệ thuật, đặc biệt hai dãy “Bát bộ Kim Cương” được tạo dáng rất đẹp.

Chùa Tư Khánh (chùa Cả)

keve01 * Là một làng văn học, Đông Ngạc cũng có nhà Văn Chỉ (như làng Hành Thiện). Mỗi năm đến tiết Xuân, Thu các bậc nho sĩ không phân biệt đẳng cấp sang hèn, giàu nghèo tụ tập làm lễ tiên hiền và bình luận văn thơ. Ngoài ra trong làng thường có những cuộc bình văn, giảng sách của các cụ cử, cụ bảng, cụ nghè thu hút sĩ tử nhiều nơi về dự.

Trong nhà Văn Chỉ có bức đại tự:

“ĐỊA LINH NHÂN KIỆT”

(đất thiêng sinh người giỏi)

cùng nhiều câu đối. Sau đây là một câu đối tiêu biểu:

“Thiên niên lai, Đường bảng, Tống khoa, tiền hậu tướng thừa, nhân kiệt địa linh, thành tuấn vực.

Ngũ châu nội, Á tự, Âu văn, cựu tân đồng hóa, dân lương tục mỹ, đạo tiên hà”.

Tạm dịch là: “Có đến ngàn năm, bảng Đường, khoa Tống, trước sau theo nếp, người giỏi đất thiêng, làng nổi tiếng.

Khắp trong 5 cõi, chữ Á, chữ Âu, cũ mới hiền thông, dân hiền tục đẹp, đạo khơi nguồn”.

Thật hiếm thay một làng cổ hàng ngàn năm như làng Vẽ mà còn giữ được bao nhiêu di vật cổ trải qua bao cuộc bể dâu chiến tranh đổi đời. Đình Vẽ có những cây cổ thụ (muỗm, thị, vóc, hoa) mà tuổi đời đến 500 – 700 năm. Chùa Vẽ cũng có 2 cây đa, 2 cây muỗm cổ thụ. Ngôi mộ cổ của làng có từ 200 năm trước công nguyên, gần đó có giếng nước lát đá xanh khắp cổ và mặt giếng .

keve18 Khu vực làng cổ hiện nay gồm 6 xóm (Đông,Ngác,Vẽ,Trung,Ngấn,Chùa), trong khuôn viên rộng trên 12 hecta. Đường xóm chạy theo chiều Bắc – Nam, hai đầu đều có cổng vào, hai trong xóm cổ đường còn lát gạch nghiêng rộng hơn ba mét (trong số 12 cổng nay chỉ còn 5).

Trong khu vực làng cổ còn có khoảng 150 ngôi nhà cổ có tuổi đời trên 100 năm. Nhiều ngôi nhà được đục chạm rất khéo léo, công phu. Trong bài “Làng cổ ven đô”, tác giả Triệu Bảo- Ngọc Anh viết: “… qua gầm cầu Thăng Long 700m đầy bụi bặm, rẽ vào làng Đông Ngạc, chúng tôi có cảm giác như lạc vào một thế giới khác.

Ngõ Vẽ làng Đông Ngạc

Qua cổng làng, đi trên những con đường lát gạch chỉ nghiêng, giữa hai dãy nhà mái thấp ngói ta cổ kính, tự nhiên chúng tôi như thấy đang về lại nhà mình, ấm áp và yên ả lạ thường…”.

Vì là một làng văn hóa lâu đời, Đông Ngạc có nhiều nhà thờ đại tôn của các dòng họ và nhiều nhà từ đường thờ các vị khoa bảng quá cố. May sao việc xây cầu Thăng Long (chỉ xém qua phía Bắc của xóm Đông) và cuộc cải cách ruộng đất không đụng chạm đến các nhà thờ đại tôn và các nhà từ đường đó. Sáu nhà thờ đại tôn của 6 dòng họ lớn lâu đời nhất (họ Phạm, họ Phan, họ Nguyễn, họ Hoàng, họ Đỗ, họ Lê) đều được bảo tồn, giao cho người đại diện gia tộc trông nom. Trong các nhà thờ đại tôn này (nhà thờ họ Đỗ là lớn nhất và cổ nhất) có cái rộng hơn 3000 mét vuông. Hơn 30 nhà từ đường thờ các vị khoa bảng, quan chức cũ, có cái cả nhà và vườn rộng hơn 2000 mét vuông, cũng được bảo tồn, giao cho con cháu trong gia đình. Có nhà từ đường khi cải cách ruộng đất con cháu vắng mặt, cũng được bảo tồn nguyên vẹn, giao cho một người trong xóm trông nom hộ, đợi khi con cháu về thì giao trả. Các tác giả miền Bắc cho rằng làng Đông Ngạc không có địa chủ phát canh thu địa tô và dân làng có nhiều quan to cách mạng nên đã thoát khỏi lưỡi đao cải cách ruộng đất.Thế thì làng Hành Thiện thì sao ? Hành Thiện cũng như Đông Ngạc không có ruộng đất nhiều nên rất ít địa chủ (họ có nhiều ruộng ở các nơi khác) và các quan cách mạng Hành Thiện còn to hơn các quan cách mạng Đông Ngạc. Thế mà Hành Thiện bị đấu tố nặng nề: thân phụ tổng bí thư Trường Chinh chạy thoát lên Hà Nội kịp thời còn chú ruột tổng bí thư bị đấu tố và bị giam trong cầu tiêu cả tuần lễ chỉ vì làm nghề mạ vàng bạc cho các tượng nhà thờ. Bố vợ bác sĩ Đặng Hồi Xuân, bộ trưởng bộ y tế bị đấu tố và bị bắn chết tại làng Kiên Hành, huyện Giao Thủy, Nam Định chỉ vì có vài chục mẫu ruộng, thuê tá điền cấy lấy. Kẻ viết bài này cho rằng: làng Đông Ngạc thoát thảm họa “cải cách ruộng đất” vì Đông Ngạc cách thủ đô Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa có vài cây số, Đông Ngạc gần mặt trời… thêm vào là sự can thiệp nhiệt tình hơn của giáo sư bộ trưởng Hoàng Minh Giám và bác sĩ bộ trưởng Hoàng Tích Trý cùng trình độ dân làng Đông Ngạc cao hơn các làng khác.

Đông Ngạc và Hành Thiện là hai làng có nhiều khoa bảng và danh nhân nhất nhì trong nước. Trong khi cụ Đặng Xuân Bảng (ông nội tổng bí thư Trường Chinh Đặng Xuân Khu) đậu tiến sĩ đệ tam giáp năm 1856 dưới triều Nguyễn khai khoa cho làng Hành Thiện thì cụ Phan Phù Tiên đậu tiến sĩ hai lần: thái học sinh dưới triều Trần (1393) và triều Lê (1429) khai khoa cho làng Đông Ngạc hơn 4 thế kỷ trước làng Hành Thiện.

Họ Đặng và họ Nguyễn là hai tộc họ khoa bảng lớn của làng Hành Thiện thì các họ Phạm, Phan, Nguyễn, Đỗ, Hoàng là 5 tộc họ khoa bảng lớn của làng Đông Ngọc (họ nào cũng có người đậu đại khoa).

“Đông Cổ Am, Nam Hành Thiện” chỉ là câu nói cho có vần. Dưới triều Nguyễn trong khi Hành Thiện có 88 cử nhân và đại khoa, Đông Ngạc có 42 vị thì Cổ Am (Hải Dương) chỉ có 18 vị thua cả các làng La Hà (Quảng Bình) 31 vị, An Đồng (Hà Tĩnh) 23 vị và Võ Liệt (Nghệ An) 21 vị. Phải nói lại:

“Bắc Đông Ngạc, Nam Hành Thiện” mới đúng. Ngoài ra người ta còn nói “Yên Vương – Trung Hành, Kim Thành – Quỳnh Khê, Từ Liêm – Đông Ngạc” nghĩa là các làng Trung Hành, Quỳnh Khê, Đông Ngạc thuộc các huyện trên có nhiều người hiển đạt.

– “Thơ Mỗ, phú Cách, sách Vẽ”, nghĩa là thơ làng Mỗ (Đại Mỗ), phú làng Cách (Thượng Trì), văn sách làng Vẽ (Đông Ngạc) nổi tiếng đương thời.

– “Đất Kẻ Giàn, quan Kẻ Vẽ” nghĩa là làng Giàn nhiều đất, làng Vẽ nhiều quan.

Từ đời Trần đến đời Nguyễn trong khoảng 500 năm, làng Đông Ngạc có 23 bảng nhãn, tiến sĩ, phó bảng, 2 tạo sĩ (tiến si võ), kể thêm: 2 tiến sĩ sỹ vọng và 4 tiến sĩ tiến triều nữa là 31 vị đậu đại khoa cùng với trên 400 cử nhân còn gọi là cống sĩ hay hương cống và tú tài (còn gọi là sinh đồ).

Từ thời Lý nước ta bắt đầu mở khoa thi để chọn nhân tài học vấn cao để lãnh đạo cai trị đất nước. Khoa thi đầu tiên được tổ chức năm 1075 dưới triều Lý Nhân Tông, gọi là “minh kinh bác học”. Thể thức thi cử và danh vị đỗ đạt thay đổi theo các triều đại đến triều Lê và triều Nguyễn thì được hoàn chỉnh như sau:

* Thi Hương là kỳ thi tại một vùng (Hương có nghĩa là vùng hay làng), cứ 6 năm hay 3 năm một lần thêm vào là các ân khoa khi có việc vui mừng như lễ đăng quang, lễ thọ của vua, lễ đản sinh thái tử. Mỗi kỳ thi Hương lấy đậu 1 cử nhân thì 2 hay 3 tú tài. Muốn dự thí, các sĩ tử phải là chân ấm sinh (con quan văn từ ngũ phẩm, quan võ từ tứ phẩm trở lên, đã qua kỳ thi khảo sát ở trường quan đốc học mỗi tỉnh và đã được bộ lễ kiểm soát văn bài), tú tài (đã đậu kỳ thi Hương nhưng chưa đủ điểm để đậu cử nhân, có người thi đến 2, 3 lần mà kỳ nào cũng chỉ đậu nổi tú tài thôi gọi là tú kép, tú đụp) hay thí sinh (học trò đã đậu kỳ khảo hạch ở mỗi tỉnh do quan đốc học và các quan huấn đạo, giáo thụ đảm trách. Đỗ đầu kỳ này gọi là “đầu xứ”). Thí sinh phải qua 3 kỳ thi mới được chọn đậu cử nhân (điểm cao) hay tú tài (điểm thấp). Nếu qua được 3 kỳ mà không được chọn đậu cử nhân hay tú tài thì gọi là tam trường, qua được 2 kỳ thì gọi là nhị trường.

* Thi Hội được tổ chức tại kinh đô Huế (nơi đô hội). Muốn dự kỳ thi Hội phải có bằng cử nhân hay tú tài đặc biệt gồm ấm sinh (con quan) tú tài thượng hạng, tôn sinh (họ nhà vua) tú tài thượng hạng, học sinh (con nhà thường dân được học trường quốc tử giám ở Huế sau một kỳ thi nhập học khó khăn) tú tài thượng hạngtú tài tứ thập (ngoài 40 tuổi, nổi tiếng học giỏi, các quan tỉnh khảo sát và đề nghị mỗi tỉnh chỉ 1 người thôi với triều đình). Cử nhân hay tú tài thượng hạng, tú tài tứ thập được dự kỳ thi Hội đều được gọi là cống sĩ hay hương cống.

* Thi Đình: qua tam trường hội thí được vào thi đình trong điện nhà vua (nơi cung đình). Thi đình chỉ là kỳ thi cuối cùng của khoa thi tiến sĩ gồm cả thi hội lẫn thi đình. Vua ra đề thi về cách trị quốc hay các vấn đề thời sự. Chính nhà vua duyệt bài và quyết định ngôi vị. Đậu kỳ thi đình là đậu đại khoa được phân ra các hạng như sau:

– Tiến sĩ đệ nhất giáp – đệ nhất danh là Trạng Nguyên, đệ nhị danh là Bảng Nhỡn, đệ tam danh là Thám Hoa.

– Tiến sĩ đệ nhị giáp còn được gọi là Hoàng Giáp.

– Tiến sĩ đệ tam giáp thường gọi là Ông Nghè.

Dưới thời nhà Lý, nhà Trần học vị tiến sĩ gọi là thái học sinh. Dưới thời nhà Lê có thêm các học vị: sỹ vọng, hoành từ, tiến triều dành cho các thí sinh không đậu đình thí, chỉ qua được nhị trường, tam trường kỳ hội thí nhưng đặc biệt được vua ban học vị tiến sĩ gọi là tiến sĩ sỹ vọng hay tiến sĩ tiến triều. Từ triều Minh Mạng trở đi thi Đình còn có bảng phụ lấy phó bảng, ngoại giả nếu không đậu đình thí thì chỉ còn giữ học vị hương cống hay cử nhân thôi.

Triều Nguyễn, theo di ý của vua Gia Long, không lấy trạng nguyên, không phong hoàng hậu, không ban tước vương cho tôn tộc, không dùng tể tướng (tức thủ tướng):

Bất cử trạng nguyên

Bất phong hoàng hậu (khi còn sống)

Bất lập vương tước

Bất thiết tể tướng

Mãi đến ông vua cuối cùng là Bảo Đại mới phá lệ mà phong cô Nguyễn Thị Lan (tức Henriette Nguyễn Hữu Hào) làm “Nam Phương Hoàng Hậu” năm 1934 và cử cụ Trần Trọng Kim làm thủ tướng tháng 4 năm 1945.

Đỗ đầu kỳ thi Hương gọi là Giải nguyên, đỗ đầu kỳ thi Hội là Hội nguyên, đỗ đầu kỳ thi Đình là Đình nguyên như cụ Hoàng Tế Mỹ làng Đông Ngạc là Đình nguyên tiến sĩ. Đỗ đầu hai kỳ gọi là Song nguyên (tùy theo mà gọi Hương Hội song nguyên, Hương Đình song nguyên hay Hội Đình song nguyên). Đỗ đầu cả 3 kỳ gọi là Tam nguyên như Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến.

Khoa cử thời Nho học có hai đặc điểm:

– Tuy dưới thời phong kiến, lệ luật rất nghiêm ngặt (ai vi phạm sẽ bị cấm thi hay tù tội) nhưng rất rộng lượng khoáng đạt trong chủ đích chọn nhân tài giúp nước. Khoa thi hội năm 1919 là khoa thi hội cuối cùng, triều đình ban đặc ân cho những người không có bằng tú tài, cử nhân được phép dự thí nếu được các quan đầu tỉnh khảo sát là học giỏi. Ông Nguyễn Phong Di không có bằng cấp gì mà qua kỳ thi hội và thi đình đậu Đình nguyên tiến sĩ.

– Kỳ thi tiến sĩ là một kỳ thi cực kỳ khó khăn, các cống sĩ phải lầu thông tứ thư, ngũ kinh, các sách nghị luận xã hội chính trị, địa dư lịch sử Trung Hoa, Việt Nam, Cao Miên, Ai Lao, Cao Ly, Nhật Bản … phải biết viết thơ, phú, văn sách, kinh nghĩa, luận, chiếu, biểu … và phải biết trình bày các biện pháp làm cho dân giàu nước mạnh trong hoàn cảnh đất nước.

Khoa thi đình năm Ất Sửu (1865), trong hoàn cảnh bi đát của đất nước: Bắc Kỳ loạn lạc, Nam Kỳ mất vào tay Pháp 3 tỉnh miền Đông lại thêm mất mùa, nạn đói lan tràn. Vua Tự Đức ra đề thi văn sách, có đoạn hỏi: “Hiện nay tai dị đưa tới, đói khát thiên tai. Phải chăng đức chính sai sót, dân tình uất ức, lỗi lầm ở trẫm vì kém cõi mơ hồ. Vậy phải sửa đức chính, sửa phép dụng binh, sửa nền cai trị ra sao để nhân dân đỡ đau khổ, gốc nước được bền vững”?

Ông Trần Bích San (1840 – 1877) người làng Vị Xuyên, tỉnh Nam Định, lúc dự thí mới 25 tuổi, thẳng thắn đề nghị:

– Phải trọng trí thức (tuyển chọn kỹ càng, đãi ngộ xứng đáng).

– Phải trọng thực hành: song song với việc tuyển lựa nhân tài do khoa cử, phải tìm người trí đức căn cứ vào thực tài do quan dân địa phương đề cử. Danh sách đề cử được niêm yết công khai để nhân dân góp ý và khích lệ nhân tài. Ông chỉ trích chế độ khoa cử chỉ khảo sát được cái học từ chương mà không đánh giá được đúng mức đức độ, tác phong, trình độ am hiểu thực tế xã hội chính trị nước nhà. Nhiều người đỗ đạt,trong bài thi nói đến tư tưởng thánh hiền mà ăn ở buông tuồng tửu sắc, nghiện ngập, tư cách kém cõi, bóc lột nhân dân, hao mòn công quỹ.

– Phải diệt trừ tham nhũng: tệ đoan nhận tiền đút lót trong việc thu tiền nạp quyển thi, cấp gian bằng hạch, bổ nhiệm thuyên chuyển quan lại, …

Ông được vua chấm đậu Đình nguyên tiến sĩ khoa này. Ông đã đậu Giải nguyên, Hội nguyên nên thường gọi là Tam nguyên Vị Xuyên(ông có người em gái là bà Trần thị Đông làm kế thất tri huyện Tiên Du, ông nội thi sĩ trung tá không quân Hoàng Song Liêm).

Than ôi! Ngày xưa dưới thời phong kiến nho học quân chủ mà được như vậy. Ngày nay trong thời văn minh, tây học dân chủ thì ra sao? Nghĩ mà ngao ngán!

Trong 6 dòng họ khoa bảng của làng Đông Ngạc: Phạm, Phan, Nguyễn, Đỗ, Lê, Hoàng tôi sẽ bắt đầu từ họ Phan vì có các danh nhân nổi tiếng nhất trong thời kỳ Nho học là Phan Phù Tiên, Phan Lê Phiên và trong thời kỳ Tây học là Phan Văn Trường,Phan Quang Đán. Tôi sẽ chấm dứt bằng họ Hoàng vì có nhiều danh nhân dưới thời Pháp thuộc và thời bây giờ trong cả hai miền Bắc Nam là Hoàng Tăng Bí, Hoàng Minh Giám, Hoàng Tích Trý, Hoàng Cơ Bình, Hoàng Cơ Minh. Tôi sẽ viết kỹ về các nhân vật làng Đông Ngạc lập nghiệp ở miền Nam và hải ngoại để bổ túc cho các tài liệu xuất bản trong nước.

Làng có 6 xóm thường gọi là Ngõ. Từ Hà Nội lên qua khỏi làng Nhật Tảo thì ngõ đầu tiên là Ngõ Đông, lần lượt đến Ngõ Ngác, Ngõ Vẽ, Ngõ Trung, Ngõ Ngấn và Ngõ Chùa. Tiếp sau là làng Chèm (tên chữ là Thụy Phương). Mỗi ngõ là một dòng họ lớn lập nghiệp từ lâu đời. Ngõ Đông có họ Phan, họ Phạm chiếm cứ Ngõ Ngác còn cái nôi của họ Hoàng là Ngõ Vẽ(theo lời bà Hoàng Châu Qui và ông Hoàng Uông Lễ).

* Họ Phan: đã tạo nên truyền thống vẻ vang cho khoa bảng làng Đông Ngạc ngày xưa với Phan Phù Tiên, Phan Lê Phiên và ngày nay với Phan Văn Trường,Phan Quang Đán.

– Phan Phù Tiên hai lần đỗ thái học sinh (tiến sĩ) năm 1393 cuối đời Trần và năm 1429 đầu đời Lê, khai đại khoa cho làng Đông Ngạc, đã từng đứng đầu quốc tử giám, trường đại học đầu tiên của nước ta, đã từng giữ chức An Phủ Sứ Thiên Trường (Nam Định ngày nay). Trong thời gian làm quan trong triều cũng như ngoài trấn, cụ rất nhân từ độ lượng. Trong thời gian làm việc tại quốc sử quán, cụ sưu tầm thơ văn thời Lý, Trần, Lê để biên soạn thành sách “Việt âm thi tập”: gồm 700 bài thơ, chia làm 6 quyển. Đây là một tuyển tập thơ đầu tiên của nước ta, một vốn cổ quý giá về lịch sử văn học. Năm 1455, cụ hoàn thành bộ “Đại Việt sử ký tục biên” gồm 10 tập chép sử từ đời Trần Thái Tông đến lúc Lê Thái Tổ Lê Lợi đánh đuổi giặc Minh, ghi rõ việc khen chê phê phán nhà Trần. Đó là bộ Quốc Sử nối liền với Đại Việt Sử ký của Lê Văn Hưu (soạn ở thế kỷ 13) thành bộ “Đại Việt Sử ký toàn thư”. Sau này vào niên hiệu Hồng Đức thứ 10, Ngô Sỹ Liên đã dựa vào đấy để soạn bộ sử 15 tập. Cụ còn san định “Quốc Triều luật” và sưu tầm 400 cây thuốc nam soạn thành sách “Thực vật toát yếu” năm 1432, hiện còn lưu giữ ở trường Viễn Đông Bác Cổ. Phan Phù Tiên xứng đáng là một danh nhân văn hóa, nhà nước bây giờ lấy tên cụ đặt cho một con đường phố nội thành Hà Nội.

keve08 keve08

– Kế tiếp là: + Tiến sĩ Phan Thọ Chỉ, đỗ năm 1527.

+ Tiến sĩ Phan Công Phúc, đỗ năm 1685.

+ Tiến sĩ Phan Chính Lễ, đỗ tiến sĩ tiến triều năm 1747.

+ Tiến sĩ Phan Lê Phiên (còn gọi là Phan Trọng Phiên) đỗ Tam Giáp đồng Tiến sĩ năm 23 tuổi (1757), làm quan Hộ Bộ Tả Thị Lang tước Tứ Xuyên Hầu. Khi Trịnh Sâm chết, cụ chịu cố mệnh lập Trịnh Cán. Đến lúc quân tam phủ nổi biến, bỏ Trịnh Cán tôn phù Trịnh Khải nên bị cách cả chức tước. Sau này Chiêu Thống vời cụ làm quan đến chức thượng thư tham tụng (tức tể tướng) tước quận công. Phan Lê Phiên có công lớn trong việc dẹp giặc Hoàng Văn Chất đã chiếm 10 châu tỉnh Hưng Hóa và Thanh Hóa và để lại các trước tác sau:

– Càn Nguyên Thi tập: góp nhặt 200 bài thơ Hán và Nôm từ thời Trịnh Doanh tới Trịnh Sâm.

– Cao Bằng Lục là bộ địa chí tỉnh Cao Bằng.

– Đại Việt lịch triều đăng khoa lục (đồng tác giả với Nguyễn Hoán, Vũ Miên, Uông Sỹ Lăng) liệt kê tiểu sử các vị đỗ đại khoa từ năm 1075 (triều Lý) đến năm 1787 (triều Lê Chiêu Thống).

– Phan thị gia phả (gia phả họ Phan)

Tiến sĩ Phan Lê Phiên và tiến sĩ Phan Công Phúc là hậu duệ của tiến sĩ Phan Phù Tiên. Hai cụ nổi tiếng là các vị quan có đức vọng, cương trực, thanh liêm.

+ Tiến sĩ Phan Đình Dương, đỗ năm 1842, làm quan quốc tử giám tu nghiệp, để lại 2 tác phẩm “Trung liệt văn sách” và “Hành văn ca tứ thi tấu”.

Dưới thời đại Nho học, họ Phan, ngoài 6 vị tiến sĩ đại khoa ra còn có 28 người đỗ cử nhân và 50 người đỗ tú tài. Đó là một dòng họ khoa bảng hiển vinh.

Danh nhân thời Tây Học có tiến sĩ luật khoa Paris Phan Văn Trường, sinh năm 1878 kém ông Phan Chu Trinh 6 tuổi, cháu 6 đời của tiến sĩ Phan Lê Phiên, tể tướng thời Lê Trung Hưng. Vốn là dòng dõi trâm anh thế phiệt, ông sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước có 2 anh là Phan Tuấn Phong và Phan Trọng Kiên hoạt động trong Đông Kinh Nghĩa Thục, bị bắt, bị đày đi Guyanne (Mỹ Châu) vì tham dự cuộc ném bom Hà Nội năm 1913. Với căn bản Nho học và Tây học (trường thông ngôn) năm 1908 ông được đưa sang Pháp để cách ly với phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục. ông đã tiếp tục học, đậu tiến sĩ luật khoa Paris và làm luật sư bên Pháp. Ông là bậc tiền bối trong phong trào Tây học vào đầu thế kỷ XX.

Vào các năm 1922, 1923 nhóm Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Tất Thành (tức Nguyễn Ái Quốc hay Hồ Chí Minh sau này), Nguyễn An Ninh và Nguyễn Thế Truyền chơi thân với nhau, gặp gỡ nhau luôn tại nhà riêng của Phan Văn Trường số 6 đường Villa des Gobelins, quận 13 Paris. Đồng bào Việt Nam tại Paris gọi nhóm này là “nhóm Ngũ Long”. Linh hồn của nhóm này là Phan Chu Trinh. Khi viết báo chống thực dân Pháp thì ý kiến thường do Phan Tây Hồ đề ra; Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh thảo ra tiếng Pháp và Nguyễn Tất Thành đem giao cho các báo với một bút hiệu chung, mới đầu là Nguyễn Ố Pháp nghĩa là “thằng họ Nguyễn ghét Pháp”, sau đổi ra là Nguyễn Ái Quốc vì các bạn Pháp phản đối cái tên cực đoan “chauvin” đó. Sau này bốn người kia tách ra, tên Nguyễn Ái Quốc còn lại riêng cho Nguyễn Tất Thành.

Nhóm Ngũ Long nghiên cứu chủ nghĩa Mác, muốn học các phương pháp tổ chức, lãnh đạo quần chúng của cộng sản để làm phương tiện cứu nước, chứ không tán thành việc áp dụng chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam trừ Nguyễn Tất Thành sang Nga năm 1923 đi theo con đường xã hội chủ nghĩa. Cũng năm đó Phan Văn Trường cũng rời Pháp về Việt Nam ở 1 năm với gia đình ngoài Bắc rồi vào Sài Gòn cộng tác với tờ báo “Tiếng chuông rè” (La cloche félée), được Nguyễn An Ninh nhường cho làm chủ nhiệm từ năm 1925. Đến năm 1926 tờ báo này đổi tên thành tờ L’Annam. Vì những bài báo công kích thực dân Pháp và xúi giục lính Việt Nam ở Trung Hoa bất phục tòng cấp chỉ huy, ông bị kết án 2 năm tù ở. Ông sang Pháp để chịu án tù vì ông có quốc tịch Pháp. Ông vào tù được 6 tháng thì đảng xã hội Pháp vận động thả ông ra vào tháng 2,năm1930. Ông tạ thế ngày 22.3.1933 tại nhà người anh ruột là Phan Cao Lũy ở Hà Nội về chứng đau gan, thọ 55 tuổi.

Ông mất đi để lại một người con trai là Robet Phan Văn Trường sanh năm 1921, một bà đầm Pháp ở Toulouse, 300 mẫu ruộng tại Cà Mâu và 30 mẫu ruộng tại Bà Điểm, Gia Định cùng với các tác phẩm:

– “Le droit pénal à travers l’ancienne législation chinoise” (Hình luật qua cổ pháp chế Trung Hoa).

– “Histoire d’une conspiration annamite” (Lịch sử một cuộc âm mưu của dân Việt Nam.

– “Văn học của dân tộc Việt Nam” là bài diễn thuyết của ông ngày 17.3.1925 tại Sài Gòn.

Ông là người thông thạo Hán văn, thâm thúy Pháp học:

– Đọc bản dịch luật Gia Long ra chữ Pháp của ông Philastre, ông nêu ra những chỗ dịch sai.

– Đọc nguyên bản chữ Hán luật Gia Long và luật nhà Thanh, ông cho rằng hữu quân Nguyễn Văn Thành tác giả bộ luật Gia Long là người dốt nát chép đúng nguyên văn luật nhà Thanh kể các những điều cổ hủ không hợp với tập tục Việt Nam chẳng áp dụng bao giờ như cấm phụ nữ đến các đền chùa, cấm trai gái mang tên họ giống nhau lập hôn thú lấy nhau.

Ngoài ra ông Phan Văn Trường là người tài giỏi kiếm được nhiều tiền bằng nghề luật sư bên Pháp và là một vị mạnh thường quân cho công cuộc cách mạng cứu nước:

– Ông cưu mang các ông Phan Chu Trinh, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền trong căn nhà của ông ở Paris.

– Khi ông Phan Bội Châu được trả tự do, cùng với Nguyễn Thế Truyền bên Pháp ông hô hào quyên góp được một số tiền giá trị bằng 100 lạng vàng để mua đất cất nhà trên bờ sông Hương và sắm một chiếc thuyền cho ông Phan Bội Châu du ngoạn trên sông Hương. Số tiền còn lại ông đem gửi ông Huỳnh Thúc Kháng chủ nhà in Tiếng Dân để sinh lợi lấy tiền hàng tháng cho ông Phan Bội Châu tiêu dùng cho đến ngày tạ thế.

Khi ông Phan Chu Trinh qua đời năm 1926, cùng với Nguyễn Thế Truyền, Bùi Quang Chiêu, Trần Huy Liệu, Nguyễn Phan Long ông hô hào trên báo chí kêu gọi đồng bào dự đám tang ông Phan Chu Trinh và tiền góp gửi qua ông lên tới một số tiền lớn trị giá 300 lạng vàng. Ông trao cho một ủy ban mua đất xây mộ gần Lăng Cha Cả (lối vào phi trường Tân Sơn Nhất) và xây nhà thờ lớn thờ ông Phan Chu Trinh tại Đa Kao, Sài Gòn.

Khi ông Phan Văn Trường tạ thế, cả nước thương khóc. Ông Huỳnh Thúc Kháng có câu đối:

“Suối vàng thêm một ma chí sĩ, xã hội sẽ thiếu một người đạo sư, mở mắt xem quá độ phong trào, thương phường hậu tử, Hán học cũ là nhà danh gia, Tây học mới là vai cự phách, co tay đếm hiện thời nhân vật được mấy tiên sinh “

Nhân ngày giỗ Phan Văn Trường, trên báo Tân Dân tuần báo số 233 ra ngày 16.4.1960 ngay trang đầu với cái tít:“Hào khí Phan Văn Trường không kém Găng Đi (Gandhi)” Chủ nhiệm kiêm chủ bút Nguyễn Đắc Lộc viết: “Hai người đều là luật khoa tiến sĩ, đều chống đế quốc, đều chủ trương bất bạo động, bất hợp tác với chính phủ đế quốc và có tác phong rất bình dân: một người quần vải trắng ngồi quay tơ thuyết giáo, một người mặc quần áo bà ba như một người thường dân luôn nói rằng: Chúng ta không thể tin ai được, chúng ta chỉ tin vào sức chúng ta thôi!”

Tác giả bài viết, một kẻ hậu sinh, nhân thăm làng Đông Ngạc tháng 2, 2009 vừa qua, tìm viếng mộ nhà cách mạng Phan Văn Trường cho thỏa lòng ngưỡng mộ. Cùng với người dẫn đường len lỏi qua rào dậu nhà này, lối sau nhà kia một hồi lâu mới tới một góc vườn hoang phế có vài ba ngôi mộ xây xi măng trần. Đương phân vân không biết ngôi nhà nào là mộ ông thì một người đàn ông trạc tuổi trung niên từ một bên tường nhảy xuống hỏi các ông tìm mộ ai.

keve09 keve09

Sau khi biết ý định của khách, ông ta chỉ tay vào một ngôi mộ với tên Phan Văn Trường viết chữ sơn nhạt nhòe ẩn hiện nơi đầu mộ. Tôi mừng quá ngồi nép bên mộ người chí sĩ chụp một bức hình để đời như hồi ra Côn Đảo viếng mộ Nguyễn An Ninh cách đây gần 40 năm nhưng còn nghi ngại nên hỏi lại “Sao không thấy bia mộ ”? Như chạm phải nọc, ông ta hét lên: “Đ.M. – -, chúng nó đối xử với một nhà đại cách mạng như vậy đấy”. Sáng nay ra ngõ gặp gái sao mà toàn gặp những chuyện lôi thôi:trên đường đến đây trong xe taxi tôi đã phải nghe chửi rủa, thật chỉ muốn độn thổ. Thôi, “tẩu vi thượng sách”, tôi kéo tay người dẫn đường chuồn thẳng, đi một quãng đường còn văng vẳng tiếng ông nọ (chắc là người trong tộc họ Phan) giận dữ phun ra các mỹ từ pháp của dân miền Bắc.

Vào hậu bán thế kỷ XX, họ Phan làng Đông Ngạc có BS. Phan Quang Đán, chuẩn tướng không quân Phan Phụng Tiên và còn là họ ngoại của thi sĩ trung tá không quân Hoàng Song Liêm.Thân mẫu bạn Hoàng Song Liêm là hậu duệ cụ Phan Phù Tiên.Thân phụ bạn Hoàng Song Liêm là hậu duệ cụ Hoàng Quán Chi(người làng Cót),thủ khoa thái học sinh năm Quý Dậu(1393).Hai cụ tiền thủy tổ họ Phan Kẻ Vẽ và họ Hoàng làng Cót là bạn đồng khoa tiến sĩ.Cụ Phan lại lấy em gái cụ Hoàng thành ra Hoàng Song Liêm thuộc hai dòng dõi trâm anh thế phiệt. Tướng Phan Phụng Tiên làm tư lệnh sư đoàn 5 sân bay Tân Sơn Nhất, hậu thân không đoàn 33 của đại tá Lưu Kim Cương.Bà Phan Phụng Tiên là người đẹp Phó Mộng Hoàn,bạn học Trưng Vương với Hoàng thị Châu Qui và Đỗ thị Việt Hương.

* Bác sĩ Phan Quang Đán, tên khai sinh là Phan Huy Đán là con BS. Phan Huy Thịnh hành nghề y sĩ tại Huế từ đầu thế kỷ XX (1909). BS. Đán đỗ bác sĩ tại trường đại học y khoa Hà Nội năm 1945. Thời gian còn là sinh viên, ông gây phong trào khất thực để cứu đói năm Ất Dậu(1945) và phong trào Ngũ Xã. Ông gia nhập đảng Đại Việt, cảm tình viên với Quốc Dân Đảng,hai lần từ chối tham gia chính phủ Việt Minh và theo Bảo Đại sang Hồng Kông năm 1946. Làm cố vấn cho hoàng đế Bảo Đại từ 1946 – 1948 để lập chính phủ quốc gia dưới sự bảo trợ của Pháp. Năm 1949 ông làm bộ trưởng thông tin trong chính phủ Nguyễn Văn Xuân được 3 tháng thì từ chức vì không chịu làm bù nhìn cho Tây. Ông sang Pháp thi lại bằng bác sĩ y khoa tại đại học Sorbonne, Paris rồi sang Mỹ học lấy bằng thạc sĩ y học phòng ngừa(MPH) tại đại học Harvard năm 1954.

Ông về nước tháng chín 1955, lập khối Độc Lập để ứng cử vào quốc hội đệ nhất cộng hòa tổ chức vào tháng 3.1956. Ngay trước ngày bầu cử, ông bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt vì buộc tội liên hệ với cộng sản và thực dân đồng thời hủy bỏ việc bổ nhiệm ông làm giảng sư đại học y khoa Sài Gòn.

Cũng trong năm 1956, ông đổi tên đệm Huy ra Quang để dứt bỏ liên hệ với vua Bảo Đại (hai chữ đều có cùng một nghĩa là Sáng nhưng trong chữ Huy có chữ Quân,e có thể hiểu ông là quân lính của vua) và từ đó ông mang tên Phan Quang Đán thay cho tên trong khai sinh Phan Huy Đán.Sỏ dĩ phải đợi đến năm 1956 là lúc cha ông đã qua đời ông mới dám đổi tên vì trước kia làm thế sợ cha ông buồn.Cũng lúc đó cuộc thế đã xoay chiều:Mỹ không xài lá bài Bảo Đại nữa.

Ông lập lực lượng Dân Chủ và ra tờ báo Thời Luận vào tháng 5.1957.Tờ báo này lớn tiếng chỉ trích chính quyền nhà Ngô là độc tài và là tờ báo bán chạy nhất. Tòa báo bị đập phá vào tháng 9.1957 nhưng vẫn tiếp tục hoạt động cho đến tháng 3.1958 thì bị đóng cửa. Sau đó ông viết bài đăng trên báo “Tin Bắc” và “Người Việt Tự Do”. Cả 2 tờ báo lần lượt bị đóng cửa vào năm 1959.

Trong cuộc bầu cử quốc hội lập pháp tháng 8.1959, ông là một trong hai ứng viên đối lập được nhiều phiếu nhất, 6 lần hơn các ứng viên trong chính quyền, mặc dầu trong ngày bàu cử hơn 8 ngàn quân nhân được nhà nước điều động đến bỏ phiếu trong đơn vị quận nhì của ông. Trên đường từ phòng mạch đến buổi họp đầu tiên của quốc hội, ông bị bắt vì vi phạm điều lệ ứng cử, đã chữa bệnh miễn phí để lấy phiếu(mặc dầu phòng mạch của ông không nằm trong khu vực ông ứng cử). Đại sứ Mỹ và đại sứ Anh khuyến cáo ông Diệm nên chấp nhận thành phần đối lập để tôn trọng tinh thần dân chủ nhưng ông Diệm kết tội ông Đán là mị dân và không chịu theo kiểu dân chủ Mỹ (ông Diệm không ưa và bất đồng ý kiến với ông Đán từ khi hai người còn trẻ hay gặp nhau tại nhà ông Ngô Đình Khôi).

Trong cuộc đảo chính hụt tháng 11.1960, ông bị bắt, tra tấn, kết án 8 năm khổ sai đày ra Côn Đảo vì nhận lời làm phát ngôn viên cho đám nhân sĩ và tướng tá chủ mưu lật đổ chính quyền nhà Ngô. Mãi đến năm 1963, sau khi hai anh em ông Diệm, Nhu bị giết, ông Đán mới được thả về.

Năm 1966, BS. Đán đắc cử vào quốc hội đệ nhị cộng hòa. Năm 1967, ông đứng chung liên danh ứng cử Tổng Thống với ông Phan Khắc Sửu. Trong chuyến đi công du nước ngoài, ông tuyên bố: “Nếu không khử được hết cộng sản thì mình phải nói chuyện với họ “Khi về nước, ông bị giải nhiệm. Nhưng sau đó ông lại được làm phó thủ tướng đặc trách khẩn hoang, lập ấp rồi phó thủ tướng đặc trách cứu trợ tỵ nạn. Năm 1975 ông di tản sang Mỹ, hành nghề y, làm Giám đốc Family Health Center trên đảo St. Thomas thuộc Virgin Islands. Năm 1987, ông lên tiếng cùng với một số người đòi đổi bài quốc ca “Tiếng gọi công dân” của Lưu Hữu Phước bằng bài “Việt Nam, Việt Nam” của Phạm Duy. Ông qua đời tại Tampa, Florida năm 2004, thọ 86 tuổi.

Trước kia ông làm việc với US Office of Strategic Services (OSS) tiền thân của CIA nên dư luận cho rằng trong giới cao cấp chính quyền miền Nam chỉ có BS. Phan Quang Đán và đại sứ Bùi Diễm được CIA Mỹ chiếu cố. Thêm một lẽ nữa, khuynh hướng chính trị của BS. Đán cũng thay đổi theo chính sách của Hoa Kỳ. Phải công nhận BS. Phan Quang Đán vừa là một đại trí thức với 3 bằng bác sĩ y khoa: Hànội VN, Sorbonne Pháp và Harvard Hoa Kỳ, vừa là một chính trị gia siêu đẳng, đối lập với độc tài không biết mệt mỏi.

Ông có một người con trai là luật gia Phan Quang Tuệ (1942) được bộ trưởng tư pháp Hoa Kỳ bổ nhiệm làm thẩm phán tòa án di trú San Francisco từ năm 1995 cho đến nay.

* Họ Phạm: Dòng họ Phạm Đông Ngạc có lịch sử lâu đời và có nhiều người đỗ đạt nhất trong thời Nho học cũng như trong thời Tây học, trước năm 1945 cũng như sau năm 1945 tới nay. Họ Phạm đóng đô tại xóm Ngác và xóm Vẽ. Quê ngoại tiến sĩ Chu Mạnh Trinh và nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan cũng ở trong Ngõ Ngác.

keve11 Từ năm 1514, Phạm Lân Đính đậu tiến sĩ khai đại khoa cho dòng họ Phạm làng Đông Ngạc cho đến năm 1849 Phạm Quang Mẫn là người cuối cùng đỗ tiến sĩ là vừa tròn 535 năm, họ Phạm làng Đông Ngạc có 11 người đỗ đại khoa:

1. Phạm Lân Đính đỗ tam giáp đồng tiến sĩ đệ ngũ danh khoa Giáp Tuất (1514), là người khai khoa tiến sĩ cho họ Phạm Đông Ngạc và cũng là người Đông Ngạc đầu tiên có tên khắc trên bia tiến sĩ triều Lê dựng tại quốc tử giám, Hà Nội.

2. Phạm Gia Khoản, đỗ cử nhân, ba lần thi Hội chỉ trúng nhị trường nhưng vì gia đình có công nên được đình thần tiến cử là tiến triều ứng vụ coi như đỗ tiến sĩ.

3. Phạm Thọ Chỉ, đỗ hoàng giáp khoa Đinh Sửu (1517) là con cả tiến sĩ tiến triều ứng vụ Phạm Gia Khoản và cháu tiến sĩ Phạm Lân Đính.

4. Phạm Hiển Danh đỗ tam giáp đồng tiến sĩ khoa Bính Tuất (1646).

5. Phạm Quang Trạch đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ nhị danh (Bảng Nhãn), viễn tôn tiến sĩ Lân Đính, chắt tiến sĩ Thọ Chỉ, điệt tiến sĩ Hiển Danh, thúc phụ tiến sĩ Phạm Quang Hoàn, ông tiến sĩ Phạm Quang Dung và thân phụ tiến sĩ Phạm Quang Ninh.

Đối với làng Đông Ngạc cụ là người đỗ cao nhất và là người đầu tiên được hàm thượng thư, tước công: hộ bộ thượng thư, Ngạc quận công.

Về tác phẩm, cụ có cuốn sử: “Nam Chưởng kỷ lục” viết về bang giao giữa nước ta và Ai Lao.

6. Phạm Quang Hoàn, con nuôi cụ Phạm Quang Trạch được học tại quốc tử giám, 9 lần thi văn sách đều đứng đầu, đậu bảng nhãn khoa Giáp Tuất (1694).

7. Phạm Thế Anh, đỗ khoa sỹ vọng năm Quý Mùi (1703).

8. Phạm Công Liêu, đỗ khoa sỹ vọng năm Quý Mùi (1703).

9. Phạm Quang Dung (hay Phạm Công Dung), đỗ tam giáp đồng tiến sĩ khoa Bính Tuất (1706), cháu tiến sĩ Phạm Quang Trạch, con tiến sĩ Phạm Quang Hoàn.

Về quan chức,cụ làm chánh sứ đi sứ nhà Thanh để cáo vua Lê Dụ Tông đã mất và cầu phong cho vua mới lên ngôi là Lê Thuần Tông. Sau đó được gia tặng hộ bộ thượng thư, Lê quận công.

Về công trạng: lúc làm quan đốc đồng Tuyên Quang, cụ đã mua được gỗ quý hiến làng Vẽ để tu tạo đình vũ; lúc đi sứ nhà Thanh, cụ đã mua ba bộ áo chầu Long Cổn và 2 đôi quạt vuông bằng gấm để dâng 3 vị thành hoàng thờ ở đình làng. Có công lớn với dân làng nên cụ đã được phối thờ ở gian bên cạnh bái đường.

Về tác phẩm, cụ có cuốn ghi chép việc bang giao của ta với nhà Thanh.

10. Phạm Quang Ninh, sau đổi là Phạm Gia Ninh, con thứ 6 của Bảng nhãn Phạm Quang Trạch đậu tam giáp đồng tiến sĩ khoa Tân Hợi (1731) làm quan đến chức đông các đại học sĩ, tước bá. Tác phẩm có “Trầm Hương Các thư lục”.

11. Phạm Quang Mẫn, đỗ tam giáp đồng tiến sĩ khoa Kỷ Dậu (1849).

Tương truyền thân phụ cụ văn chương lỗi lạc, thi đỗ, không ra làm quan, ở nhà dạy học. Vua Tự Đức hỏi cụ thụ nghiệp ai? Cụ tâu: “Từ thửa bé đến giờ chỉ học ở nhà với thân phụ”. Vua ban khen cho thân phụ cụ là: “Phụ giáo tử đăng khoa”.

Trong thời Nho học, họ Phạm làng Đông Ngạc ngoài 11 vị tiến sĩ vừa kể còn có 78 người đậu cử nhân.

keve10 Trong thời Tây học trước 1945, họ Phạm làng Đông Ngạc có 3 người đậu Tiến sĩ tại Pháp:

1. Phạm Quang Bách, tiến sĩ vật lý.

2. Phạm Tỉnh Quát, tiến sĩ toán học (trước đó đỗ thạc sĩ trường normale supérieure) có con trai là Frédéric Phạm sinh bên Pháp, sau này đỗ tiến sĩ Toán học trường polytechnique. Hai cha con đều giảng dạy tại trường đại học khoa học bên Pháp.

3. Phạm Gia Huỳnh, tiến sĩ dược khoa (con tổng đốc Hải Dương Phạm Gia Thụy) có con trai là Phạm Gia Phúc, sau này đỗ tiến sĩ vật lý.

10 người có bằng cấp cao, chức vụ cao, danh hiệu cao quý hay nổi tiếng dưới chế độ VNDCCH và VNXHCN:

Nhà thờ họ Phạm làng Đông Ngạc

1. Tiến sĩ, phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm.

2. Phó giáo sư, nhà giáo ưu tú, bác sĩ Phạm Gia Văn.

3. Giáo sư tiến sĩ Phạm Quang Cự.

4. Giáo sư tiến sĩ, nhà giáo ưu tú Phạm Đức Chính.

5. Bác sĩ giáo sư, nhà giáo ưu tú Phạm Duy Nhạc.

6. Giáo sư tiến sĩ, nhà giáo ưu tú Phạm Gia Khánh.

7. Giáo sư tiến sĩ Phạm Thị Luyến Trang.

8. Giáo sư tiến sĩ Phạm Gia Huệ.

9. Giáo sư Phạm Gia Giang.

10. Nghệ sĩ ưu tú, nhà đạo diễn điện ảnh Phạm Kỳ Nam.

36 người có học vị tiến sĩ dưới chế độ VNXHCN.

Trong thời nay, giá trị cấp bằng tiến sĩ (trong nước) hay Ph.D (bên Mỹ) là một nghi vấn lớn, tùy theo lãnh vực, trường đại học nào cấp. Ngay cả tại Hoa Kỳ chứ đừng nói tới tình trạng lấy bằng tiến sĩ trong nước. Bài viết kèm theo đây chỉ là một tiếng nói, thật ra chính người trong nước cũng phải ngao ngán về cái học vị tiến sĩ của thời buổi ngày nay:

Untitled-1

Hơn nữa dù có là tiến sĩ xuất thân từ một đại học danh tiếng như Harvard hay Stanford thì cũng chỉ là một chuyên viên về một lãnh vực rất hẹp chứ đâu có kiến thức kinh bang tế thế và đức vọng cao quý của các ông Nghè thời xưa.

* Trong đám gia đình họ Phạm làng Đông Ngạc di cư vào Nam sau 1954 và di tản sang Âu Mỹ (đa số là Canada, Úc, Pháp, Mỹ) sau 1975, số người thành đạt quá nhiều. Tác giả chỉ kể ra gia đình Bác sĩ Phạm Tu Chính làm điển hình:

– Bác sĩ Phạm Tu Chính sinh năm 1933, hồi làm giám đốc bệnh viện sản phụ khoa Hùng Vương, Sài Gòn đã can đảm vượt bao thành kiến để làm 2 việc công ích: phủ nhận luật cấm ngừa thai của Pháp 1921, của bà Nhu 1/59 để thực hiện Kế Hoạch Gia Đình cho nhân dân miền Nam và nhận sinh viên y khoa Minh Đức vào thực tập lâm sàng mặc dầu nhiều chống đối bên ngoài và phản đối bên trong.BS.Chính là một người bạn tốt có lòng NHÂN,một kẻ sĩ có TRÍ óc lớn và có cái DŨNG trong tinh thần khai phóng.Sau 1975 định cư bên Pháp, bác sĩ Chính tiếp tục hành nghề y và hoạt động trong ban lãnh đạo hội đoàn y sĩ Việt Nam tại Pháp.

– Thân phụ là cụ Phạm Chí Mẫn, tú tài Pháp, giám đốc kế toán bộ tài chính, ông nội là cụ huyện Phạm Đình Bảng, cử nhân nho học, sau học trường hậu bổ. Cụ nội là cụ Phạm Hữu Lập, cử nhân nho học, học trường hậu bổ rồi làm tri huyện Lập Thạch (Vĩnh Yên).

– Bác cả là cụ Phạm Hữu Kiệt (cụ Chí Mẫn là con trai thứ 2 của cụ huyện Bảng). Bà Kiệt là chị ruột mẹ GS.BS. Nguyễn Văn Ái, viện trưởng các viện Pasteur Việt Nam, quốc vụ khanh VHCH, tù cải tạo nhiều năm ngoài Bắc cùng trại với LS. Trần Văn Tuyên.

– Chú thứ 3 là cụ Phạm Văn Mùi(nổi tiếng về nhiếp ảnh, được nhiều giài thưởng quốc tế), nhạc phụ chánh án quận Cam Nguyễn Trọng Nho, cựu dân biểu VNCH, lãnh tụ sinh viên xuống đường.

– Chú út là cụ Phạm Trinh Cán, cử nhân luật, ngạch phó sứ giáo sư trường Thăng Long, bạn với ĐT.Võ Nguyên Giáp nên sau này làm cục trưởng cục quân pháp cho bộ trưởng quốc phòng Võ Nguyên Giáp và có thời làm đổng lý văn phòng cho bộ trưởng giáo dục Nguyễn Văn Huyên. Cụ có một người con gái rất nổi tiếng là bà Phạm Chi Lan, cố vấn kinh tế cho Thủ tướng Phan Văn Khải.

– Anh cả là Phạm Tu Kính, học y khoa Hà Nội (mất sớm).

– Em trai thứ ba là nha sĩ Phạm Chí Khải, vợ là dược sĩ, trong số 8 con trai gái dâu rể: 6 người làm bác sĩ, 1 dược sĩ, và 1 kỹ sư.

– Em trai út là tiến sĩ toán học Phạm Chí Công, vợ là tiến sĩ hóa học (bên Pháp).

– Chị gái là Diệu Văn có chồng là GS. PTS. Hà Thế Ngữ (học bên Liên Xô) hồi 1975 trong đoàn giáo sư đại học Hà Nội vào tiếp thu các đại học trong Nam.

– Các em gái là DS.Diệu Thanh, DS.Hồng Yến (chồng là BS. Nguyễn Đỗ Hạnh) và DS. Minh Châu (chồng là BS. Trần Trung Trực).

– Một con trai và 4 con gái đều kỹ sư, luật sư, bác sĩ, tiến sĩ bên Pháp.Hai cô gái út sinh đôi đều tốt nghiệp trường normale supérieure: 1 cô tiến sĩ địa vật lý (geosphysique), 1 cô làm quan tòa quận Versailles.

– Phu nhân là dược sĩ Phạm thị Bích Thủy, con gái tri phủ Phạm Gia Hệ, có anh rể là bác sĩ Vương Tú Toàn, chị là Bác sĩ Phạm thị Đoan Chính cùng chồng là Bác sĩ Hoàng Đình Thái, hai em trai là GS.TS. Phạm Gia Thụ (toán thống kê, Việt kiều tại Canada được nhà nước VNXHCN vinh danh) và Bác sĩ Phạm Gia Trọng. Bác ruột DS. Bích Thủy (bố chánh Phạm Gia Thái) là thân phụ của các BS. Phạm Gia Tự, BS. Phạm Gia Thiệu, BS. Phạm Gia Thuần và nhạc phụ của các BS. Hoàng Đức Sính, BS. Nguyễn Vĩnh Đức.

* Họ hàng bà con cùng chi Ất Nhì

Họ Phạm làng Đông Ngạc có rất nhiều chi (149 chi nay còn 40 chi) chia ra Giáp, Ất …Mỗi chi lại chia ra Giáp Nhất, Giáp Nhì, … Ất Nhất, Ất Nhì …

Chi Ất Nhì của cụ Hiệp Quảng (hiệp trấn Quảng Nam) là chi lớn nhất.

Cụ Hiệp Quảng sinh ra cụ Gia Tề (ngành 2) là tổ phụ của BS. Phạm Tu Chính, cụ Gia Mục (ngành 3) là ngành của tổng đốc Phạm Gia Thụy, đại tá Phạm Gia Cầu (đổng lý bộ thanh niên & cựu chiến binh),chánh án Phạm Gia Hệ(nhạc phụ BS.Vương Tú Toàn và BS.Phạm Tu Chính) và cụ Gia Thiêm (ngành 4).Cụ Gia Thiêm sinh ra cụ Gia Hòa. Cụ Gia Hòa sinh ra cụ Gia Hương (2) là cụ nội BS. Phạm Gia Lữ và cụ Gia Thiều (5) là thân phụ BS. Phạm Gia Lăng (dại tá cục phó cục quân y, sau này làm vụ trưởng vụ đào tạo bộ y tế). BS. Phạm Gia Lăng sinh ra: GS. TS. BS. Phạm Gia Khánh, trung tướng hiệu trưởng học viện quân y và em là phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm, xuất thân là phó tiến sĩ luyện kim ở Liên Xô làm nhiều chức vụ từ trung cấp lên dần thứ trưởng, bộ trưởng rồi tới phó thủ tướng năm 1997, đến năm 2002 lại được tái bổ nhiệm phó thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao cho đến bây giờ.

BS. Phạm Gia Lữ có bà em gái Phạm Lệ Hằng nổi tiếng đẹp, vợ ông Trần Đức Thanh Phong trong phong trào Đông Du Cường Để.

Tổng đốc Phạm Gia Thụy, cố vấn chính phủ Hồ Chí Minh, có ông con trai là Phạm Gia Huỳnh, tiến sĩ dược khoa với bà vợ nha sĩ trong gia đình Lưu Văn Lang và bà con gái lấy đại tá Hoàng Thụy Năm trong ủy ban kiểm soát đình chiến cùng với tướng Văn Tiến Dũng. Dược sĩ Phạm Gia Uy là cháu gọi cụ Thụy bằng bác ruột.

Họ hàng bà con khác chi:

– Tri phủ Phạm Gia Đĩnh (bị giết trong cách mạng tháng 8) có con trai là nha sĩ Phạm Minh Châu, tổng lãnh sự VNCH tại Hồng Kông và con gái là bà Phạm Lê Trân, phu nhân đại tướng Nguyễn Khánh, quốc trưởng VNCH.

– Ông Đông Quân Hưng Phạm Văn Thuyết, tác giả cuốn “Đông Ngạc tập biên”, có cô con gái là Phạm Thị Phương lấy chuẩn tướng Vũ Đức Nhuận, an ninh tình báo VNCH.

keve16

Phù dâu Phạm thị Phương bên phải cô dâu Đỗ thị Việt Hương

– BS. Phạm Ngọc Tỏa, giám đốc bệnh viện Vì Dân của bà Thiệu,tổng thư ký y sĩ đoàn Sài Gòn, hai lần làm chủ tịch hội y sĩ Việt Nam tại Pháp có người em là Phạm Như Cương bạn cùng lớp đệ tam Chu Văn An (1950-1951) với tôi.Không được gặp nhau gần 60 năm qua mà tôi vẫn còn nhớ anh Cương(không giống ông anh Tỏa) dáng người xương xương,vẻ mặt cương nghị, ít nói, cười rất tươi,tính tình ngay thẳng hay quấn foulard vào mùa lạnh.

– Bà BS. Phạm Gia Cẩn ( giám đốc bệnh viện Nhi Đồng,Saigòn)người Kẻ Vẽ

Về quân sự, họ Phạm làng Đông Ngạc có các tướng lãnh trong quân đội nhân dân như trung tướng Phạm Quang Cận, trung tướng Phạm Gia Khánh(quân y), thiếu tướng Phạm Quang Mỹ, thiếu tướng Phạm Quang Đông, thiếu tướng Phạm Gia Trúc (công an).

* Họ Nguyễn

Nguyễn Thời Ngạn năm 26 tuổi thi thái học sinh (khoa thi Minh Kinh, 1433) thời Lê Thái Tổ cùng với Phan Phù Tiên, nhưng chỉ đạt tam trường, làm quan cùng triều với Phan Phù Tiên. Trong khi đi khảo sát điền thổ đã phát hiện một số gian Minh lén lút chờ cơ hội ngóc đầu dậy để liên lạc với quân Minh. Cụ là người được phong tước Công đầu tiên ở làng Vẽ.

Nguyễn Đình Thạc đỗ tiến sĩ khoa Kỷ Hợi (1779) khai khoa cho tộc Nguyễn làng Đông Ngạc với 30 vị đỗ cử nhân, 40 vị đỗ tú tài và 5 vị đỗ tiến sĩ.

– Nguyễn Đình Thạc (1779) có tác phẩm “Thị Gia thanh ứng”.

– Nguyễn Văn Tùng (1837) có tác phẩm “Ngọc Hoa vịnh”.

– Nguyễn Hữu Tạo (1844) tên chữ là Ngọc Đình,sau khi nghỉ quan về hưu, cụ dạy học, học trò có nhiều người đỗ hương khoa và đại khoa: hoàng giáp như ông Lê Khắc Cẩn, phó bảng như ông Nguyễn Văn Hội. Sỹ tử xa gần đến thụ nghiệp đông lắm. Về công trạng: cụ đã đem quân đi dẹp cuộc nổi loạn ở Tuyên Quang do Nguyễn Thịnh và Nguyễn Huân.Về tác phẩm, cụ có: “Lê Công hành trạng” nói về tiểu sử của Lê Quí Đôn (đã khắc vào bia đá), “Ngạc đình Nguyễn tiên sinh di thảo” (tập thơ chữ Nho), “Ngạc Đình Nguyễn tiên sinh đối liên tập” (vài trăm câu đối chữ Nho), “Thơ Hành Quân tức sự” và “Giới quân sĩ ca”.Bốn câu đầu bài “Giới quân sĩ ca” là:

Ngày xưa dạy phép hành quân

Việc quân nên lấy chữ NHÂN làm đầu

Công danh là chữ về sau

Những đồ tiểu lợi hay đâu mà hòng …

– Nguyễn Văn Hội (1849) thi Hội cùng với Phạm Quang Mẫn, người cùng làng. Cả hai đều có số điểm ngang nhau đủ để đỗ tiến sĩ. Theo phép vua, khoa này triều đình không cho phép lấy đỗ hai tiến sĩ cùng một làng. Quan trường phải đem văn bài ra so thì cả hai đều ngang nhau từ chữ viết cho đến văn bài. Cuối cùng quan trường phải cho lập hương án lễ Thánh rồi đem hai quyển ra sàng: quyển nào rơi ở trong là đỗ tiến sĩ. Quyển thi của cụ Hội rơi ra ngoài nên chỉ trúng phó bảng. Cụ Hội và cụ Mẫn đều là học trò của thân phụ cụ Mẫn.

– Nguyễn Hữu Tiến (1875) cháu nội tiến sĩ Nguyễn Hữu Tạo, đỗ tú tài năm 28 tuổi, một nhà nho tiên phong trong phong trào Duy Tân, tích cực tham gia hội Đông Kinh Nghĩa Thục. Trong buổi diễn thuyết về lòng ái quốc và tự cường, Phan Châu Trinh đương hăng hái nói:” ở người ta ham sống sợ chết vì có nhà cao cửa rộng, vợ đẹp con khôn, cắt tình không được. Còn chúng ta đây bất quá chỉ có [thượng xỉ hạ đạn] còn sợ gì mà không làm, còn quyến luyến gì nữa mà sợ chết” thì Nguyễn Hữu Tiến đứng lên đọc to hai câu thơ của Phan Bội Châu để bộc lộ cái chí hướng “xếp bút nghiên lo việc cứu nước”:

Non sông đã chết sống thêm nhục

Hiền Thánh còn đâu học cũng hoài

rồi ôm mặt khóc làm cả hội trường xúc động nhiều người rớt nước mắt. Ông dùng ngòi bút để cổ động cho phong trào cứu quốc và trở thành một cây bút điêu luyện cho báo Nam Phong về những biên soạn và dịch thuật văn chương, học thuật, lịch sử Trung Hoa và Việt Nam qua các tác phẩm Hán Nôm. Xin quý độc giả vui lòng kiên nhẫn đọc bài viết của nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan để hiểu sự quan trọng của môn học cổ điển Trung Hoa và Việt Nam, giá trị các tác phẩm Hán Nôm cổ Việt Nam và chỗ đứng của học giả Nguyễn Hữu Tiến,người làng Đông Ngạc trong văn học sử Việt Nam:

○ Dịch thuật: Những học thuyết tư tưởng cùng lịch sử nước Tàu về đường văn học và chính trị mà Nguyễn Hữu Tiến biên dịch chính là những điều rất quý để người tân học hiểu biết cái học căn bản của nước ta, cái học mà người đông phương không thể sao lãng được. (Mạnh Tử quốc văn giải thích, Tư Mã Quang, Lương Khải Siêu v.v…)

○ Các tác phẩm Hán Nôm:

. Đông A song phụng (1916) vở tuồng dã sử về việc Trần Hưng Đạo gả con gái nuôi là Nguyên quận chúa cho gia tướng Phạm Ngũ Lão và đưa Trinh quận chúa vào cung để vua Trần Nhân Tôn lập làm hoàng hậu.

. Cổ xúy nguyên âm (1917) có 7 mục: thi, phú, kinh nghĩa, văn sách, ca từ. văn thư, đối. Tập thứ nhất (thi) giảng về luật làm thơ và trích lục ngót 100 bài thơ làm khuôn mẫu thuộc đủ các lối như Đường luật, bát cú, thủ vĩ ngâm, bát cú liên hoàn, bát cụ họa vận, thất ngôn tứ tuyệt, tứ tuyệt liên hoàn, thơ yết hậu, ngũ ngôn bát cú …v.v…Thơ cổ xuất bản bằng quốc ngữ có lẽ “Cổ xúy nguyên âm” là hay nhất

. Nam âm thi văn khảo biện (1918) sưu tập tác phẩm từ Ôn Như Hầu, Nguyễn Hữu Chỉnh đến Yên Đổ, Dương Khuê, Cao Bá Quát …

. Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ (Chiêu Hổ). Ông dịch toàn bộ sách này đăng trong Nam Phong bắt đầu từ số 121 (Sept, 1927). Đây là một kho tài liệu rất quý về cảnh trí và nhân vật nước ta về cuối đời Lê Trịnh.

. Lĩnh Nam dật sử là một bộ tiểu thuyết rất cổ viết từ đời Lý Nhân Tông (1073) ngang với đời Tống bên Tàu. Tác giả là một người Mán tên là MA VĂN CAO (ở vùng Đà Giang). Trần Nhật Duật thông tiếng Mán, dịch ra Hán văn, Trần Quốc Toản hiệu chỉnh với lời bình của Trương Hán Siêu. Đó là những cổ tích phác thực về trai trung, gái hiếu, chồng nghĩa, vợ trinh. Bản dịch của ông đăng trong tạp chí Nam Phong từ số 48, Février 1921.

Như vậy những bài biên tập và dịch thuật của Nguyễn Hữu Tiến thật rất nhiều và rất công phu, sẽ là những bộ sách giáo khoa có giá trị về học thuật Đông phương.

– Nhà văn Đông Xuyên (Nguyễn Gia Trụ) cùng với Giản Chi (Nguyễn Hữu Văn) theo học giả Nguyễn Hiển Lê cũng là người làng Đông Ngạc (?).

– Họ Nguyễn làng Đông Ngạc có 4 chị em gái sinh ra con cháu rất nổi tiếng:

.Cụ nghè Bùi Thức bà sinh ra phó bảng Bùi Kỷ (thân phụ đại sứ Bùi Diễm) và cử nhân Bùi Khải (thân phụ BS. Bùi Quốc Trụ có bà vợ là BS. Chung Thị Luông, người đẹp của đại học y khoa Sài Gòn).

.Cụ huấn bà là thân mẫu nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan và là nhạc mẫu BS.bộ trưởng Hoàng Tích Trý.

.Cụ huyện Phạm Đình Bảng bà là bà nội BS. Phạm Tu Chính.

.Cụ thừa Định bà sinh ra ông Phan Bá Nhạ, thân phụ cô Yến lấy tướng Lê Nguyên Vỹ, tư lệnh sư đoàn 5 Biên Hòa, đã tuẫn tiết ngày 30.4.1975 và ông Phan Thúc Quýnh,nhạc phụ nha sĩ Phạm Minh Châu. tổng lãnh sự VNCH tại Hồng Kông.

-Họ Nguyễn làng Đông Ngạc còn có 2 nhân vật nổi tiếng nữa dưới biệt hiệu:

.Vũ Kỳ (mẹ người họ Nguyễn Đông Ngạc,tên thật là Vũ Long Chuẩn,bạn học trường Bưởi với BS.Nguyễn Đức Nguyên,thư viện trưởng Y Khoa Sàigòn) bí thư của CT.Hồ Chí Minh, cha nuôi cậu Nguyễn Tất Trung (sau đổi họ là Vũ Tất Trung, con trai CT Hồ Chí Minh).

. Trần Thư (tên thật là Nguyễn Văn Cung, tục gọi là Cả Cò) một chiến sĩ xuất sắc trong trung đoàn thủ đô, một trung đoàn trưởng đàn em thân tín của đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong nhóm 32 đảng viên (4 ủy viên trung ương, 1 thiếu tướng thứ trưởng, 4 vụ trưởng, 3 đại tá) bị nhóm giáo điều theo Mao kết tội xét lại theo Nga và bị tù hơn 20 năm, thân tàn ma dại, vợ con điêu đứng. Ông đã viết lại những cuộc tra khảo, bắt ép ông phải nhận tội âm mưu phá đảng (có lúc ông đã phải nhận bừa đi vì không chịu nổi) trong một cuốn hồi ký có tên “Tử tù tự xử lý nội bộ” khi ông biết mình bị ung thư không còn sống được bao lâu, lời lẽ rất chân thật nhẹ nhàng không oán hận một cá nhân nào:

2

Đoạn kết ông viết: “Đảng chưa phục hồi danh dự cho tôi nhưng nhân dân đã làm việc đó thay cho Đảng.Như thế cũng đủ rồi vì Đảng vẫn nói ta phải lấy dân làm gốc” và câu cuối cùng ông viết: “Bản thể chủ nghĩa Mác đang bị lịch sử đặt thành vấn đề thì Xét Lại hay Giáo Điều còn có nghĩa gì”.

Hồi ký Trần Thư và hồi ký Bùi Ngọc Tấn (Chuyện kể năm 2000) cho ta thấy quả thực Việt Nam là LƯƠNG TÂM của NHÂN LOẠI.

keve24 -Họ Nguyễn làng Đông Ngạc còn thật vẻ vang vì một con cháu của làng là bác sĩ Nguyễn Thiệu Hiệp (1967) mới ngoài 40 tuổi đã được vinh danh làm Chair Professor of surgery (tạm dịch là Giáo sư Thượng hạng về phẫu thuật) của đại học y khoa Harvard (một đại học danh tiếng nhất thế giới). Bác sĩ Hiệp có nhiều công trình khảo cứu giải phẫu cho các thai nhi còn nằm trong bụng mẹ bằng người máy nên đã được đảm nhiệm chức vụ đồng giám đốc Trung tâm nghiên cứu phẫu thuật người máy của đại học Harvard (co-Director of Robotic Surgery, Harvard Medical School). Danh hiệu Chair Professor này thường chỉ dành cho các giáo sư thật danh tiếng ngoài 70,80 t.

Giáo sư Nguyễn Thiệu Hiệp (1967)

Đây là một vẻ vang cho dân Việt, cho làng Đông Ngạc, cho thân phụ là cố bác sĩ Nguyễn Văn Thiệu (dân Kẻ Vẽ), cho thân mẫu là dược sĩ Nguyễn Tuyết Bích(học giỏi nổi tiếng) và kẻ viết bài này cũng xin ké một chút vinh dự vì là bạn đồng khoa với BS. Thiệu và ngày xửa ngày xưa đã từng mời BS. Thiệu giảng dạy cho hai trường y khoa Huế và y khoa Minh Đức về môn y tế công cộng. BS. Thiệu còn bảo trợ luận án tiến sĩ và ngồi trong hội đồng giám khảo luận án tiến sĩ đại học y khoa Huế. BS.Thiệu được bạn bè miêu tả là”Tuyệt Vời”trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Ông làm việc có tổ chức,luôn đạt được lòng TIN và YÊU của mọi người.

* Họ Đỗ

Tộc họ này có nhiều người giỏi về võ khoa:

– Năm Mậu Ngọ (1738) Đỗ Thế Giai đỗ cử nhân. Cụ được tiến triều vào phủ Chúa giảng vũ kinh và soạn vũ kinh. Giỏi võ, thông văn, lại có tài thơ phú, đồng thời có nhiều công với chúa Trịnh nên khi còn sống cụ đã được phong là Hách Trạc Linh Ứng Đại Vương, được ban thực ấp tới hàng nghìn mẫu ruộng để thu thuế bạch bố (dân lộc) nhưng cụ miễn thuế cho dân làng, lại còn đem của cải làm việc công ích. Cụ có đền thờ ở làng gọi là đền thờ cụ Đại Vương họ Đỗ, hàng năm dân làng đều tế lễ trong ngày giỗ. Nhà thờ họ Đỗ to nhất làng.

– Năm 1763 con cụ là Đỗ Thế Dân đỗ tạo sĩ (tiến sĩ Võ) làm quan phó sứ đô đốc xướng trung hầu dưới thời Lê Thần Tông. Hai cha con cụ đã làm vẻ vang cho làng về khoa vũ thuật.

* Họ Lê

Tộc họ này ít người nhưng rất lâu đời có tiến sĩ Lê Đức Mao sinh năm 1462 đỗ tam giáp đồng tiến sĩ khoa Ất Sửu đời vua Lê Uy Mục, hay làm thơ làm bài hát châm biếm giễu cợt nên nhiều người sợ, nhiều người thù ghét sau phải bỏ làng mà đi. Tác phẩm của cụ có: “Bát giáp thưởng đào văn”, gồm 128 câu thơ dùng để hát ca trù cho 8 giáp trong các ngày hội làng.

* Họ Trương

Nhà ông Trương Công Quyền là 1 trong 2 ngôi nhà 2 tầng trước thập niên 40. Ông đỗ tiến sĩ dược khoa tại Pháp năm 1944, về nước mở nhà thuốc tây và sau cách mạng tháng 8 được cử làm giám đốc (?) trường đại học y dược đầu tiên của nước ta.

* Họ Hoàng

Họ Hoàng tụ tập trong Ngõ Vẽ.

Hoàng Nguyễn Thự, sinh trưởng trong một gia đình khoa hoạn làng Đông Bình (Bắc Ninh), con quan đại phu Hoàng Đình Hân (tước hầu), lấy vợ họ Phạm làng Đông Ngạc, sinh con đẻ cái, nhập cư lập nghiệp tại làng Vẽ vào hậu bán thế kỷ XVÌII. Ngoài Đông Ngạc, họ Hoàng từ Đông Bình còn phát triển đến Hương Mặc (Hà Bắc) và Nghi Tàm (Hà Nội). Trong số 5 họ lớn, họ Hoàng đến sau cùng nên bị coi như là “dân ngụ cư” trong một khoảng thời gian khá lâu vì theo hủ tục của Kẻ Vẽ các gia tộc đến nhập cư phải có đủ 7 đời khao vọng mới được công nhận là “dân chính cư”. Đông Ngạc có 5 cấp khao vọng: vọng triều quan (dành riêng cho quan tam phẩm trở lên và người đỗ tiến sĩ), vọng quan viên (quan dưới tam phẩm và thi đỗ cử nhân trở xuống), vọng hương viên (người có học thức, không đỗ đạt, không làm quan), vọng hương lão (60 tuổi trở lên), vọng thôn trưởng (người ít chữ hay không biết chữ). Mỗi cấp khao và vọng có mức đóng góp gạo, rượu, bò, lợn và tiền khác nhau. Khao vọng là một hủ tục làm khổ người nghèo, nhiều người phải bán ruộng vườn để lo đủ mới khỏi làm mõ, đi tuần, phu phen, tạp dịch,mới có ngôi thứ trong làng, cử người ra ngồi chiếu nhất chốn đình trung tranh nhau ngôi vị tiên chỉ, thứ chỉ như đã miêu tả trong cuốn tiểu thuyết “KHAO” của Đồ Phồn (Bùi Huy Phồn). Nhưng vì 3 đời liên tiếp cha con ông cháu đỗ đại khoa nên họ Hoàng sớm được làng Đông Ngạc nhận làm “dân chính cư”.

I/ Năm 1778 Hoàng Nguyễn Thự được thầy dạy (giải nguyên Phạm Gia Huệ) mến tài học, gả con gái cho. Đến khoa Đinh Mùi (1787) cụ đỗ tiến sĩ đệ tam giáp đồng xuất thân, khai khoa cho họ Hoàng Đông Ngạc. Vừa đỗ xong, Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc đánh tan quân nhà Thanh, xóa bỏ triều Lê. Gia đình cụ phải lánh nạn về Sơn Tây. Trong vòng 1 tháng em trai, mẹ, cha lần lượt qua đời. Hoàng Nguyễn Thự ra làm quan với triều Tây Sơn đến chức hiệp trấn Lạng Sơn. Cụ là tiêu biểu cho một nhà nho thời xưa: nghiêm nghị, cẩn trọng, thanh liêm, ngay thẳng và hiếu học. Khi làm quan thị lang hàm tam phẩm ở bộ hình, cụ xử án giỏi như Bao Công. Tại kinh đô Phú Xuân cụ “phá án” tử hình một vụ án mạng. Ở thành Thăng Long cụ minh xét một vụ án, cứu sống hơn 20 tử tội bị kết án oan. Vì là người tài giỏi nên được triều đình cử làm hiệp trấn Lạng Sơn, nơi biên giới trọng yếu. Tác phẩm để lại có ngót 200 bài thơ chữ Hán, bài văn tế khóc mẹ, khóc em trai, được sao chép lại trong “Đông Bình Hoàng gia thi tập” và các tập gia phả.

II/ – Con trai thứ 2 là ẩn sỉ Hoàng Phạm Thời (hay Hoàng Bích Sơn) viết tập “Đông Hoàng gia sử”. Hậu duệ Hoàng Cơ Quảng tìm lại được nguyên bản ở Sài Gòn (do ông Hoàng Uông Lễ thuộc chi trưởng tộc di cư vào Nam mang theo) và mong muốn dịch ra quốc ngữ cho con cháu đọc nhưng chưa thực hiện được ý nguyện thì qua đời. Ông Đào Quang Luận đã hoàn tất việc dịch cuốn gia phả này và đã được bà Hoàng Cơ Quảng và các con ấn hành năm 1996.

– Con trai thứ 3 là Hoàng Phạm Thạnh, sau vì phạm húy phải đổi tên là Hoàng Tế Mỹ đỗ giải nguyên năm Ất Dậu (1825) năm sau cụ đỗ đình nguyên đệ nhị giáp tiến sĩ (tức hoàng giáp) khoa Bính Tuất (1826), năm 32 tuổi, như vậy là hương đình song nguyên, làm quan đến chức binh bộ thị lang, hàm thượng thư bộ lễ.

III/ Cụ Hoàng Tế Mỹ sinh:

A. Hoàng Quế Tường (chi trưởng) hậu duệ là ông Hoàng Uông Lễ hiện nay ở California là trưởng tộc họ Hoàng.

B. Hoàng Tướng Hiệp (con trai thứ 3) đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ năm Ất Sửu (1865), làm quan đến chức án sát Lạng Sơn rồi tuần phủ Tuyên Quang, lễ bộ thượng thư. Sách Đại Nam chính biên liệt truyện có ghi: “nhà cụ Hoàng tế Mỹ cha con, ông cháu liên tiếp đỗ đại khoa thực là một sự hiếm thấy”.

Khi làm tuần phủ Tuyên Quang, cụ chống lại giặc Cờ đen (hay giặc Pháp?) kéo tới tấn công thành. Thất bại cụ phải sang Tàu và tuẫn tiết tại đây. Ngày nay tên cụ đã được đặt cho một con đường trong thành phố Tuyên Quang.

Cụ có 2 con trai là Hoàng Hy Thuần và cử nhân Hoàng Hy Ước làm án sát.

1. Cháu nội án sát Hoàng Hy Ước (qua ông con trai lớn Khôn Trân) là GS. BS. bộ trưởng Hoàng Tích Trý, sinh năm 1903, đỗ bác sĩ y khoa tại Paris, Pháp quốc năm 1935, chuyên khoa về vi trùng học, vệ sinh học, huyết thanh học, các bệnh truyền nhiễm và dịch tễ. Bác sĩ đã nghiên cứu bệnh sốt rét cơn nhiều năm tại viện Pasteur Hà Nội, làm giáo sư trường đại học y dược Hà Nội, được cử giữ chức bộ trưởng y tế VNDCCH từ tháng 11, 1946 đến khi qua đời tháng 11, 1958. Trong thời gian làm bộ trưởng y tế, bác sĩ Hoàng Tích Trý đã ngăn chặn được 3 chứng bệnh đang hoành hành ở nông thôn là bệnh sốt rét cơn, bệnh đau mắt hột và bệnh ỉa chảy, kiết lỵ.

keve13 Sau cách mạng tháng 8, toàn quốc chỉ có khoảng hơn 100 bác sĩ mà đa số lại tập trung ở các thành phố lớn. Một tỉnh lớn như Thanh Hóa có gần một triệu dân mà chỉ có một bác sĩ ở bệnh viện tỉnh. Trong khi đó các bác sĩ dân y lại bị trưng dụng vào quân đội. ngành y tế đã thiếu bác sĩ lại càng thiếu thêm. Bác sĩ Hoàng Tích Trý đã thỏa thuận với BS. Vũ Văn Cẩn, cục trưởng cục quân y là các bệnh viện dân y có nhiệm vụ cấp cứu quân đội và ngược lại các đơn vị quân y đều có nhiệm vụ cấp cứu nhân dân. Sự hợp tác quân dân y đã giải quyết được nhu cầu y tế cho quân dân toàn quốc. Khi bác sĩ mất đột ngột vì bệnh tim vào 11g 05 ngày 21.11.1958 thì chưa đầy một giờ sau, Hồ Chủ Tịch đã đến bên giường bệnh ở nhà riêng để vĩnh biệt người bạn đồng tâm, đồng chí.

Bác sĩ Hoàng Tích Trý có con là GS.TS. Hoàng Thủy Nguyên và GS.TS. Hoàng Thủy Long. Em trai là BS. Hoàng Tích Mịch và Hoàng Tích Thông là đại tá thủy quân lục chiến VNCH. Em gái là bà Hoàng thị Tý lấy giáo sư Bùi Hữu Sủng và bà Hoàng thị Lương, mẹ của DS. Dương Đình Hòa, TS. Dương Thị Bình và BS. Dương Đinh Hưng.

keve21 Bác sĩ Hoàng Tích Mịch đỗ bác sĩ tại Bordeaux, Pháp năm 1934 cùng với anh là bác sĩ Hoàng Tích Trý và 2 người con trai của ông anh là GS.TS. Hoàng Thủy Nguyên, GS.TS Hoàng Thủy Long lần lượt thay nhau làm viện trưởng, viện phó viện vệ sinh dịch tễ (trước gọi là viện Pasteur) trong suốt thời gian hơn ½ thế kỷ qua.

GS. TS. Hoàng Thủy Nguyên là người đầu tiên xây dựng ngành virus học ở Việt Nam. Ông có nhiều công trình nghiên cứu về virus: viêm gan B, viêm não Nhật Bản, bệnh đường ruột, cảm cúm … nổi bật nhất là công trình nghiên cứu sản xuất vaccin phòng bại liệt. Nhờ vậy, đến tháng 10 năm 2000 nước ta hoàn toàn thanh toán được bệnh bại liệt, cứu hàng vạn trẻ em khỏi tử vong và di chứng từ căn bệnh hiểm nguy này lại còn tiết kiệm cho nhà nước mỗi năm hàng trăm tỉ đồng Việt Nam.

Án sát Hoàng Hy Ước còn có một người con hai thứ là Hoàng Tại Cơ sinh ra bà Hoàng Cơ Quỳnh, mẹ nhà thơ Cung Trầm Tưởng (Cung Thúc Cần).

keve07 2. Con trai cụ Hoàng Hy Thuần (tức cháu nội tiến sĩ Hoàng Tướng Hiệp) là phó bảng Hoàng Tăng Bí sinh năm 1883, đỗ phó bảng khoa Canh Tuất (1910). Cụ là người đỗ đại khoa cuối cùng của làng Đông Ngạc trước khi thực dân Pháp bỏ lối khoa cử nho học (1918). Cụ không ra làm quan, đã cùng các cụ Phan Chu Trinh, Lương Văn Can, Dương Bá Trực, Nguyễn Quyền lập Hội Đông Kinh Nghĩa Thục để hô hào cải tiến việc học, truyền bá tư tưởng mới, chống thực dân, tìm phương kế khôi phục giang sơn. Cụ mở hiệu Đông Thành Xương ở phố hàng gai Hà Nội vừa buôn bán vừa làm công nghệ, cổ động dân chúng dùng đồ nội hóa, lấy tiền lời bỏ vào quỹ hội Đông Kinh Nghĩa Thục và cũng là nơi liên lạc với các đồng chí. Hội chính thức hoạt động được ngót 1 năm thì bị cấm. Năm 1908, Pháp bắt bớ, nhiều người bị tù đày, cụ may mắn thoát hiểm nhờ nhạc phụ là thượng thư Cao Xuân Dục bảo lãnh. Tác phẩm của cụ gồm có:

– Tân diễn, đệ bát tài tử Hoa Tiên ký viết theo thể tuồng cổ (1913).

– Nghĩa nặng tình sâu (tuồng cổ, 1926).

– Dịch ra tiếng Việt một số tiểu thuyết Pháp và vài bộ sử Trung Hoa.

Con trai thứ hai của phó bảng Hoàng Tăng Bí là giáo sư bộ trưởng Hoàng Minh Giám, sinh năm 1904, mất năm 1995 (nhà văn Chu Thiên, tác giả”Nhà Nho” và “Bút Nghiên”, tên thật cũng là Hoàng Minh Giám nhưng sinh năm 1913 và mất năm 1992). Ông dạy học tại các trường trung học Nam Vang và Sài Gòn, viết báo La cloche félée và L’Annam của các ông Nguyễn An Ninh và Phan Văn Trường. Bị Pháp cấm dạy học ở Sài Gòn, ông về Hà Nội làm hiệu trưởng sáng lập trường tư thục Thăng Long cùng với các ông Phan Thanh, Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Cao Luyến, Phạm Trinh Cán. Đây là cái nôi của lớp trí thức có tinh thần cách mạng và yêu nước thời bấy giờ. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, ông liên tiếp giữ các chức vụ thứ trưởng nội vụ, bộ trưởng ngoại giao trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp và bộ trưởng văn hóa khi hòa bình lập lại, qua cuộc chiến tranh chống Mỹ cho đến tháng 6,1976.

*GS.Hoàng Minh Giám là một nhân vật lịch sử trong cuộc kháng chiến chống Pháp:

keve15 – Trong khi những chiếc xe tăng đầu tiên của thực dân Pháp đổ bộ lên cảng Hải Phòng thì tại Hà Nội đúng 14 giờ 30 ngày 6 tháng 3 năm 1945, chủ tịch Hồ Chí Minh ủy nhiệm giáo sư Hoàng Minh Giám tuyên đọc bản hiệp định sơ bộ đón 15 ngàn quân Pháp vào để đổi lấy sự rút hết 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch trước đại diện các chính phủ Mỹ, Anh, Pháp, Trung Hoa.

– Tiếp đó trong cuộc hội kiến giữa chủ tịch Hồ Chí Minh và đô đốc D’Argenlieu trên chiến hạm Pháp tại Vịnh Hạ Long, giáo sư Hoàng Minh Giám đã cảnh cáo đô đốc D’Argenlieu, thượng sứ Pháp tại Thái Bình Dương: “Nếu các ông cố tình gây ra cuộc chiến tranh xâm lược nước chúng tôi thì lần này các ông sẽ đưa nước Pháp đến một thảm họa”.

* GS. Hoàng Minh Giám còn là một đại ân nhân của làng Đông Ngạc. Không có sự can thiệp mạnh mẽ và uy tín công lao của GS. Hoàng Minh Giám với nhà nước thì cây cầu Thăng Long đã bắc ngang giữa làng Đông Ngạc và bao nhiêu nhà thờ các đại tộc khoa bảng cùng đình miếu, mồ mả lăng mộ của một làng cổ văn hóa đã tiêu tán sạch chưa kể việc che chở cho làng Đông Ngạc, một làng phong kiến hạng nặng, qua cơn cuồng phong của cải cách ruộng đất.

* GS. Hoàng Minh Giám lại dám hỷ xả đứng ra bảo lãnh cho BS. Hoàng Cơ Bình khỏi phải tù đày cải tạo mà được bình an, thong thả trong dinh thự của gia tộc họ Hoàng suốt 13 năm cho đến khi qua đời năm 1988 (trong khi rất nhiều quan to cách mạng khác lạnh lùng quay mặt đi với bà con họ hàng trong Nam) và như thế BS. Hoàng Cơ Bình được cơ hội làm một công đức lớn với làng nước là xây dựng cho dân làng một trường trung học (tục gọi là “trường ông Bình”) để cùng với ngôi trường tiểu học Pháp – Việt (một di tích lịch sử xây từ năm 1921) làm cho Đông Ngạc xứng đáng là một làng văn hiến ngay cả trong thời đại Tân Học.

Các con ông Hoàng Minh Giám đều là kỹ sư, thạc sĩ, giáo sư tiến sĩ…một người con là Hoàng Vĩnh Giang làm chủ tịch ủy ban thế vận hội Olympic VN và một người con nữa là Hoàng Vĩnh Thành làm tổng lãnh sự tại Thụy Sĩ sau này làm chánh văn phòng bộ ngoại giao VNXHCN.

Cháu gọi ông Hoàng Minh Giám bằng bác ruột là BS. Hoàng Bội Ngọc hiện ở Canada vốn là một sinh viên nội trú rất xuất sắc của đại học y khoa Sài Gòn. Bà có chồng là cố bác sĩ Đinh Viết Hằng và em trai là bác sĩ Hoàng Hải Hàm.

Thế hệ con cháu nhà văn hóa Hoàng Minh Giám phải kiêu hãnh vì có ông nội là nhà cách mạng đại khoa bảng Hoàng Tăng Bí và bà nội là con gái thượng thư Cao Xuân Dục, một vị đại thần dưới thời Pháp thuộc mà vẫn giữ được cái tiết tháo, cái đức vọng của một nhà nho Việt Nam.

C. Con trai thứ 5 của hoàng giáp Hoàng Tế Mỹ là tri phủ Hoàng Thụ Viễn lấy bà họ Dương con cháu cụ nghè Vân Đình sinh ra 3 người con là: Hoàng Huân Mậu, Hoàng Nhị Nhu và cử nhân tuần phủ Hoàng Huân Trung.

* Bà Hoàng Thị Nhu lấy chồng làng Hành Thiện là cử nhân tri phủ Đặng Cao Chi, sinh ra BS. Đặng Vũ Lạc (1900) và bà Cả Tề, nhũ danh Đặng thị Khiêm (1905). BS. Đặng Vũ Lạc là người miền Bắc đầu tiên đỗ bác sĩ y khoa tại Paris (1927) và mở bệnh viện tư đầu tiên to nhất Đông Dương. Bà Đặng thị Khiêm, em gái ruột BS. Đặng Vũ Lạc, lấy ông Nguyễn Tư Tề, thường được gọi là Bà Cả Tề. Bà hùn vốn mở công ty Fabrinat (Hàng Gai) sản xuất chiếu với ông Đặng Vũ Tiết và Nguyễn Thế Rục (đảng viên cộng sản Đông Dương) khoảng năm 1932. Sau năm 1945 bà hoạt động trong đảng Đại Việt, được trung tướng Dương Văn Minh mời vào Hội Đồng Nhân Sĩ và được ông bà tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gọi bằng “chị cả”, hay được mời vào dinh Độc Lập để bàn chuyện quốc sự.

keve12 * Cử nhân tuần phủ Hoàng Huân Trung (1877 – 1950) đậu cử nhân năm 1902, được cử vào “phái bộ An Nam” sang Pháp 9 tháng để khảo sát kinh tế xã hội cùng với tổng đốc Phạm Gia Thụy cũng người làng Đông Ngạc. Khi về nước cụ được bổ tri huyện rồi tri phủ và đặt tên con theo các địa phương nhậm chức: Hoàng Cơ Bình lấy tên huyện Gia Bình, Hoàng Cơ Thụy lấy tên huyện Thụy Anh … và sau này với bà kế sinh ra Hoàng Cơ Quảng và Hoàng thị Châu An lấy tên huyện Quảng An(hay tỉnh Quảng Yên?). Cụ được thăng tuần phủ năm 1930 rồi về hưu năm 1934 (57 tuổi) được vinh phong tổng đốc hàm thượng thư nên thường gọi là cụ thượng Hoàng. Khi làm quan cụ rất thanh liêm và nhân đức nên khi về hưu chỉ đủ tiền dành dụm mua được cái nhà nhỏ ở phố hàng Vôi, Hà Nội. Cụ là người rất quảng giao, thông giỏi cả Nho học lẫn quốc ngữ, được hội khai trí tiến đức mời làm trưởng ban văn học, trông coi việc biên soạn bộ từ điển Việt Nam và viết quyển “Đông hương tạp lục tự bi thư”.

Cụ mất năm 1950 thọ 74 tuổi để lại một đại gia đình có nhiều con cháu nội ngoại nổi tiếng về đủ mọi lãnh vực khoa học, y, dược, luật, kỹ thuật, kinh tế, chính trị quân sự thuộc cả hai phe quốc cộng. Với hai dòng con 17 người cùng dâu rể cháu chắt nội ngoại đều thành đạt đã tạo nên một khối chất xám to lớn nhất, đã gây nên tiếng tăm và tăm tiếng nhất thời nay đặc biệt hai bậc kỳ nữ là bà con gái Hoàng Thị Nga, đỗ tiến sĩ vật lý tại Pháp trước các bậc nam tử và bà cháu ruột “Bà Cả Tề” uy tín lớn trong kinh doanh và chính trị, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải tôn làm “Bà Chị Cả” của dinh Độc Lập:

Dòng trước

– GS. Hoàng Cơ Nghị (1899 – 1971) cử nhân vật lý bên Pháp, một giáo sư chấm thi bậc tú tài nổi tiếng là nghiêm khắc ở Hà Nội.

– Tiến sĩ Hoàng Thị Nga (1901 – 1970), người Việt Nam đầu tiên đậu bằng tiến sĩ vật lý tại Pháp, tiên phong vận động phụ nữ Việt Nam phải tham gia vào sinh hoạt xã hội, bình đẳng với nam giới.

– Bà Hoàng Thị Nghiên (1906-2002) có con là trung tá Nguyễn Triệu Hồng (tham gia cuộc đảo chính nhà Ngô ngày 11 tháng 11 năm 1960 và tử trận ngay giờ phút đầu tiên) và đại sứ Nguyễn Triệu Đan.

– Bác sĩ nha khoa Hoàng Cơ Bình (1909 – 1988) vừa hành nghề nha khoa vừa hoạt động chính trị, lập ra Việt Nam Hưng Quốc Đảng, đã từng làm thủ hiến Bắc Việt 1954 (vì không chấp nhận hiệp định Genève, không chịu tiến hành thủ tục triệt thoái nên bị thủ tướng Ngô Đình Diệm giải nhiệm). Vào Nam, bác sĩ ra tranh cử tổng thống với tướng Nguyễn Văn Thiệu. Năm 1975, bác sĩ không di tản(?), bị bắt đi tập trung cải tạo khoảng 1 năm.Sau nhờ bộ trưởng Hoàng Minh Giám và đại tá Hoàng Cơ Quảng bảo lãnh nên ông chỉ bị quản thúc tại làng Đông Ngạc ngay trong nhà thờ họ Hoàng. Đến năm 1988 ông qua đời và được chôn cất tại nghĩa trang làng Đông Ngạc. Trong khi tôi và người dẫn đường còn đương ngơ ngác trong nghĩa trang để tìm mộ thì có một người đàn ông chạc ngoài 40 (con nuôi ông Bình?) đến tự giới thiệu là người đã liệm xác ông Bình và hướng dẫn tôi đi thăm các mồ mả họ Hoàng. BS.Bình có người con trai út tình nguyện đi nhảy dù, mất 1 mắt trong trận”Mùa hè đỏ lửa”,sau 1975 vẫn thường ra Bắc thăm nuôi cha.Cậu mắc bệnh thần kinh,có lúc nhảy xuống ao tự vận, may có người vớt lên. Sau khi ông mất bà Bình đi Pháp rồi mất bên đó,cậu út vẫn ở VN với nhà vợ.Các con ông là: BS. Hoàng Cơ Lân (1932) đại tá giám đốc trưởng quân y VNCH, BS. Hoàng Cơ Bảng, LS. Hoàng Cơ Môn và 2 người con gái. Bác sĩ Hoàng Cơ Lân cao lớn như Tây tính tình ngay thẳng, chí công vô tư, đưong sống bên Pháp.

– Hoàng Thị Nhâm (1910) có chồng là BS. Ngô Đăng Ngạnh đã từng làm giám đốc bệnh viện Bạch Mai và là thầy thuốc riêng của chủ tịch Hồ Chí Minh.Bà Nhâm hơn ĐT.Võ nguyên Giáp 1 tuổi,vừa bước lên năm thứ 100 mang cho họ Hoàng Đông Ngạc thêm một kỷ lục về TUỔI THỌ. Ông bà có 3 người con làm bác sĩ (2 gái +1 trai) và 1 người con gái làm dược sĩ.

– Luật sư Hoàng Cơ Thụy (1912 – 2004) cùng cháu gọi bằng cậu là trung tá Nguyễn Triệu Hồng tham gia cuộc đảo chính nhà Ngô (11.11.1960): trung tá Hồng tử trận còn LS. Thụy phải lẩn trốn tại Sài Gòn sau qua Cam Bốt rồi Thụy Sĩ. Sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ, LS. Hoàng Cơ Thụy về giữ chức đại sứ VNCH tại Lào Quốc. Đầu thập kỷ 70, tác giả đi dự hội nghị “Hội đồng hòa giải và tái thiết các quốc gia Đông Dương” tại Vientiane có lại thăm ông. Khi về nước tác giả bị bộ ngoại giao hỏi thăm sức khỏe do bản báo cáo của đại sứ Hoàng Cơ Thụy là BS. Bùi Duy Tâm đã đi họp với Liên Xô, Bắc Việt và Mặt trận giải phóng miền Nam. Dân Sài Gòn còn được biết đến ông qua vụ ông tòa Trác chết trong nhà ông. LS. Thụy có 6 người con đều là bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư tại Pháp và một con trai tử trận tại mặt trận Hạ Lào tháng 3 năm 1971. Đó là một điều hiếm có trong giới thượng lưu xã hội của miền Nam và miền Bắc. LS. Hoàng Cơ Thụy còn là tác giả đại bộ Việt sử khảo luận.

– Bà Hoàng Thị Ninh (1916) có chồng là Bác sĩ Vũ Minh Ngọc tại Pháp.

– DS. Thẩm Hoàng Tín (1909 – 1991), con nuôi cụ Hoàng Huân Trung, có nhà thuốc tây rất sang trọng trước hồ Hoàn Kiếm, đã từng làm thị trưởng Hà Nội khoảng thời gian 1950. Tôi còn nhớ hồi bé mỗi lẫn đi qua pharmacie Thẩm Hoàng Tín là chạy tót vào leo lên bàn cân và hít hơi thơm phưng phức của thuốc tây hay của Hà Thành hoa lệ.

GiaDinhHoHoang

Hàng trước từ trái: Cơ Long,Châu Qui, cụ Thượng bà bế Cơ Trường,Cơ Định, cụ Thượng Hoàng, Cơ Minh

Hàng sau từ trái: Cơ Quảng, Châu An

Dòng kế có một ông con trai ở lại ngoài Bắc là:

– Đại tá Hoàng Cơ Quảng (1928 – 1994) cùng thời với các tướng Hoàng Minh Thảo, Vũ Lăng nhưng chỉ đạt tới hàm đại tá vì lý lịch gia đình quá nặng nề. Sau này ông viết sử nhưng chưa xuất bản thì đã mất. Con trai ông là Hoàng Kim Đồng (đã từng bị khiển trách vì dự định thuê trực thăng đi tìm xác chú ruột Hoàng Cơ Minh) và Hoàng Phương Đông, phó tiến sĩ toán lý (rất giỏi IT) cùng vợ là Phạm Thanh Vân (cán bộ ngoại giao) đã định cư tại Hoa Kỳ.

Hai bà con gái định cư ở Hoa Kỳ:

– Nhà giáo Hoàng thị Châu An (1930) (lấy kỹ sư kiêm nhà văn Đỗ Thúc Vịnh đã từng làm tổng thư ký bộ canh nông và được giải thưởng văn học) là mẹ của BS. nhãn khoa Đỗ Hoàng Ý(có bà vợ là Ngô Thị Quý Linh, tác giả nhiều sách phổ thông về lịch sử văn hóa giáo dục rất hữu ích cho giới thanh thiếu niên hải ngoại) và ông Đỗ Hoàng Điềm, chủ tịch đảng Việt Tân.

– Luật sư Hoàng thị Châu Qui (1937),một vị nữ lưu rất năng động, là linh hồn của hội cựu nữ sinh Trưng Vương, có 4 người con đều là bác sĩ, nha sĩ, luật sư, kiến trúc sư. Bà hay về thăm làng Đông Ngạc cùng với chồng là KS. hàng không Cung Tiến Công.

keve17

Ba cựu nữ sinh Trưng Vương:Hoài Phương,Việt Hương và Châu Qui

Bốn anh em trai di cư vào Nam và di tản sang Hoa Kỳ là:

1. Đề đốc Hoàng Cơ Minh (1935–1987) là một người con hiếu thảo, thương yêu đùm bọc anh chị em, một học sinh xuất sắc, đậu xong tú tài ghi tên học chứng chỉ toán đại cương thì xảy ra cuộc chia đôi đất nước. Ông cho rằng học khoa cử thì bao giờ mới phục vụ đất nước được nên tình nguyện vào hải quân ngay khi di cư vào Nam. Ông là một chiến sĩ dũng cảm, một sĩ quan ưu tú, lập nhiều chiến công. Trong mọi chiến dịch, ông luôn sát cánh với quân sĩ và là chiến sĩ tiên phong trong trận mạc. Phó đề đốc Hoàng Cơ Minh là một tướng lãnh: cần kiệm liêm chính và có đầy đủ 3 đức: nhân, trí, dũng. Trong biến cố 30.4, ông không hèn kém chạy trốn một mình hay huênh hoang phét lác mà bình tĩnh lái tàu cứu đồng đội, cứu đồng bào thoát ra khỏi nước và cùng chịu cam khổ với mọi người đến đảo Guam chứ không nhận ân huệ leo lên trực thăng mà Mỹ ban cho các bại tướng VNCH. Di tản sang Hoa Kỳ, ông lại từ chối cái job ngồi viết quân sử mà Mỹ tặng cho các tướng lãnh VNCH làm kế sinh nhai để lấp liếm sự phản bội đồng mình của mình. Ông chấp nhận làm lao động chân tay, làm nghề thợ sơn, vẽ tượng Phật để có thời gian đi khắp nơi vận động thành lập “Mặt Trận Kháng Chiến” đông tiến trở về quê hương làm nốt nhiệm vụ còn dang dở của người chiến binh VNCH. Với dòng máu và truyền thống cách mạng của Hoàng Tăng Bí, Hoàng Minh Giám, Phan Văn Trường làng Đông Ngạc, khoảng thời gian 1945 mới 10 tuổi, ông đã lập đảng cách mạng với đám tí nhau trong làng (theo lời kể của BS. Phạm Gia Lữ) và sau này khoảng thập niên 70, ông đã lập “Mặt trận quần chúng Việt Nam tự giải phóng” hoạt động bí mật tại miền Nam, trong số quân nhân và dân sự tham gia có BS. Nguyễn Đan Quế, một người đối kháng nổi danh trong nước bây giờ. Ông chủ trương không thể chỉ tranh đấu bằng mồm mà phải phối hợp với hành động quân sự nên cùng một số đồng chí, dứt bỏ cuộc sống gia đình yên vui trên đất Mỹ mà đông tiến về vùng biên giới giáp Lào, Thái lập chiến khu chiến đấu vào đầu thập niên 80. Sau nhiều trận giao tranh, ông và các đồng chí đông tiến bị phục binh vây hãm. Tuyệt vọng, ông dùng súng tự sát ngày 28.8.1987 tại vùng biên giới Hạ Lào,theo lời một đồng đội còn sống sót kể lại với người em vào thăm anh trong tù CSVN. Đối phương được nhẹ nhõm vì nhổ xong một cái gai còn đồng hương đồng cảnh cùng một chiến tuyến sao nỡ vô tình, sao nỡ lấy thành bại mà luận anh hùng.

Mặt trận kháng chiến sau một thời gian im lặng đã công bố cái chết của ông và tiếp tục hoạt động chính trị dưới cái tên đảng Việt Tân. Ông chết đi để lại một vợ ba con nay đã trưởng thành (kỹ sư, dược sĩ, luật sư). Bà Ngô Bích Vân, phu nhân đề đốc, không chấp nhận chồng mình đã chết, vẫn kiên thủ sống trong căn nhà cũ để chờ một ngày đề đốc gõ cửa trở về. Chúng ta, dù bất đồng chính kiến, dù ở bên kia chiến tuyến cũng nên thắp một nén hương lòng cho người dũng sĩ vong thân và dành một giọt lệ thương cảm cho người góa phụ trinh kiên. Mặt trận kháng chiến với sự hy sinh của các chiến sĩ Đông Tiến và chủ tướng Hoàng Cơ Minh đã viết nên một trang sử bi hùng cho cuộc nội chiến quốc cộng ủy nhiệm đầy oan khiên thảm khốc của dân tộc Việt Nam.

2. Anh là luật sư Hoàng Cơ Long (1934) tham gia Mặt Trận kháng chiến Hoàng Cơ Minh và tiếp tục hoạt động với đảng Việt Tân tới năm 2005 thì cùng với BS. Trần Xuân Ninh ly khai vì bất đồng ý kiến trong việc đảng Việt Tân muốn liên kết với phong trào dân chủ trong nước hay đi xa hơn nữa với quốc nội.

3. Em trai út là Bác sĩ Hoàng Cơ Trường (1942 – 1982), trong lúc còn là sinh viên Y khoa Sài Gòn, cùng với Nghiêm Phú Phát và Hà Quốc Bảo, lập ra đoàn văn nghệ thanh niên Nguồn Sống. Cũng như phong trào thanh niên Gió Khơi, Nguồn Sống đã đem lại sức sống mới cho thanh niên sinh viên học sinh Sài Gòn trong đường hướng về nguồn khoảng thời gian cuối thập niên 60 đến thập niên 70. Khi ra trường, anh trở thành một quân y sĩ trong binh chủng thủy quân lục chiến, chiến đấu trong các mặt trận ác liệt như Hạ Lào và Mùa hè đỏ lửa. Di tản sang Mỹ anh thi cử trở lại tiếp tục nghề y và tham gia Mặt Trận kháng chiến với ông anh Hoàng Cơ Minh. Đương trong tuổi thanh niên sung mãn thì bạo bệnh cướp đi bao giấc mơ đẹp nhất của đời anh. Anh là một phiên bản của đề đốc Hoàng Cơ Minh về cả hình hài và chí khí lại thêm tính quảng giao và tài thuyết phục. Khi nghe hung tin về người em Hoàng Cơ Trường, tôi lặng người đi như vừa mất một góc đời thanh niên của mình.

4. Em trai kế là tiến sĩ hóa học Hoàng Cơ Định (1940) kém ông 5 tuổi, tốt nghiệp đại học Lille bên Pháp, về nước làm giảng sư đại học khoa học Sài Gòn rồi làm giám đốc trường hóa học kỹ thuật Phú Thọ. Từ thưở còn ấu thơ, Định luôn theo sát ông anh to lớn dũng mãnh để được đùm bọc che chở. Cho đến khi trưởng thành tuy mỗi người một lãnh vực khác nhau nhưng hai anh em vẫn thân thiết yêu thương nhau. Ông anh Minh là thần tượng của ông em Định.

1943-Minh&Dinh

Hai anh em Hoàng Cơ Minh (phải) và Hoàng Cơ Định (trái)

Cho nên gặp lúc xảy ra một vài chuyện lủng củng trong nội bộ ban lãnh đạo Mặt Trận kháng chiến, ông Định phải cáng đáng mọi việc cho ông anh thường xuyên vắng nhà. Từ đó ngôi sao Hoàng Cơ Định đã rõ nét dần trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại. Sau khi đề đốc Hoàng Cơ Minh tử trận, ông Hoàng Cơ Định đã góp phần lèo lái mặt trận chuyển qua giai đoạn hoạt động thuần túy chính trị. Với sự tiếp tay của thế hệ trẻ: Hoàng Tứ Duy, ủy viên trung ương Đảng, là con trai ông và Đỗ Hoàng Điềm, chủ tịch Đảng là cháu gọi ông bằng cậu ruột, đảng Việt Tân có chiều hướng thoáng hơn, gần với quốc nội hơn. Trình độ học vấn đã giúp ông thêm khiêm tốn cởi mở và hiểu rằng muốn làm việc lớn phải quy tụ được sự đóng góp của nhiều người. Thêm vào bản chất cực kỳ kiên nhẫn và khi cần dám có những quyết định đột phá, ông Hoàng Cơ Định sẽ tránh được các tai họa mà anh ông đã vấp phải.

Đầu năm nay (2009) tôi về thăm làng Đông Ngạc hai lần. Lần đầu bạn sử gia Bùi Thiết từ Hà Nội dẫn đi thăm Chèm, Vẽ, Nhật Tảo, … lần thứ hai bạn thiếu tướng Chu Phác giới thiệu về Đông Ngạc gặp ông thôn trưởng, tác giả cuốn sách về khoa bảng làng Đông Ngạc và một dân làng là một cựu thượng tá 4 lần vượt Trường Sơn. Các ông này cố ý đưa tôi đến thăm nhà thờ họ Hoàng trước để cho xem di ảnh đề đốc Hoàng Cơ Minh mặc quân phục ngay bên cạnh di ảnh đại tá QĐND Hoàng Cơ Quảng vận thường phục. Các ông cũng chỉ cho tôi xem căn phòng bác sĩ Hoàng Cơ Bình bị quản thúc cho đến khi qua đời vào năm 1988.

keve06

 

Cụ Thượng Hoàng Huân Trung (trên) Cụ Thượng bà(trên), thân mẫu

thân phụ đại tá Hoàng Cơ Quảng (giữa), tiến sĩ Hoàng Thị Nga (dưới trái)

đề đốc Hoàng Cơ Minh (dưới trái) và và bác sĩ Hoàng Cơ Bình (dưới phải)

bác sĩ Hoàng Cơ Trường (dưới phải)

keve05 keve05

Bên trái: căn phòng quản thúc Cây cầu bắc qua hồ sen

BS. Hoàng Cơ Bình, trước mặt dinh thự Hoàng đại tộc

bên phải: nhà thờ Họ Hoàng

Tôi cũng được đưa đi thăm trường trung học do bác sĩ Bình giúp tiền xây lên,dân làng gọi là “Trường ông Bình”.

Sau chiến tranh,vợ chồng tôi đã đi thăm các chiến trường xưa…Hồn tử sĩ gió ù ù thổi:

suốt từ Điện Biên Phủ:đồi Him Lam với hầm chỉ huy của đại tá De Castries,

chientruong01 chientruong02

tượng đài chiến thắng sông Lô với bến Bình Ca,

chientruong03

Con đường số 4 từ Đông Khê đến Thất Khê dọc theo dòng sông Kỳ Cùng,

chientruong04 chientruong04

qua sân bay Phượng Hoàng bối cảnh là ngọn đồi Charlie,

địa đạo Vịnh Mốc,Quảng Bình….. rồi vào đến……. cổ thành Quảng Trị.

 

chientruong05 chientruong06

Chúng tôi cũng đi thăm các nghĩa trang liệt sĩ suốt từ mộ Phạm Hồng Thái, Hoàng Hoa Cương, Quảng Châu (góc phải), mộ Nguyễn Thái Học, Yên Bái (góc trái),

molietsi01

nghĩa trang Trường Sơn,

molietsi04 molietsi03

 

nghĩa trang Hương Hóa (Khe sanh)

molietsi03

vượt biển ra Côn Đảo thăm mộ Nguyễn An Ninh và mộ Võ thị Sáu

molietsi05

và cuối cùng chúng tôi tới thăm nghĩa trang Biên Hòa.

molietsi02

Đương lớ ngớ ngước nhìn hàng chữ “vị quốc vong thân”trước cổng thì mấy anh bộ đội canh gác chạy ra hỏi: “Hai bác vào thăm mộ ai đấy ?”. Tôi trả lời: “Tôi muốn thăm tất cả mọi người”. Các anh vui vẻ dẫn tôi đi thăm, chỉ chỏ đây là mộ đại tướng Đỗ Cao Trí, gia đình đã chuyển hài cốt đi nơi khác, kia là … và hạ giọng nói: “Hai bác ạ, ngoài chiến trường nghe súng nổ thì mình cũng phải nổ súng, chết rồi nằm xuống thì cũng là đồng bào thôi, hai bác cứ tự nhiên nhé!”. Pho tượng người chiến binh ngồi: “… gục lên súng mũ bỏ quên đời” không còn nữa. Quanh tôi vẫn còn mồ mả, bia mộ hạ sĩ này, trung úy nọ ngổn ngang … hương khói vắng tanh, ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh…Than ôi! Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi…Xưa nay chinh chiến mấy ai trở về!

Sử sách của các triều đại thì thêm bớt theo lập trường chính sách, người dân thì có lịch sử truyền khẩu: “… ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ”.

Hồi chiến tranh đến giai đoạn khốc liệt nhất, có tháng tôi phải tới thăm viếng các gia đình có chồng con tử trận đến 3 lần, phong trào sinh viên phản chiến nổi lên tại các trường đại học, nhiều sinh viên bị giam giữ tra khảo. Trong chuyến vào thăm các trò trong tù, một cô sinh viên nằm thoi thóp nắm tay tôi nghẹn ngào nói: “Thầy ơi ! Hai bên đánh nhau, mình không đánh ai thì họ lại đánh mình”.

Chạnh nghĩ đến bản thân, 2 bên bỏ tù tôi đến 3 lần mặc dầu mình chẳng đánh ai hay xúc phạm đến ai … Nghĩ mà thương cho thân phận làm người … Việt Nam.

Giai Thoại làng Đông Ngạc

Làng Đông Ngạc có vài giai thoại rất lạ nên đọc để biết, biết rồi để suy gẫm:

– Giai thoại “Con ngựa chúa Trịnh và Bãi Hoa”.

Bãi Hoa là vùng đất ngoài đê đối diện với làng Vẽ, hàng năm vào mùa nước sông Hồng dâng lên cao, đều bị tràn ngập nên chỉ trồng được ngô, khoai, dân nuôi tằm. Bãi Hoa trước kia thuộc làng Vẽ sau tách ra thành Hoa Ngạc, đổi tên thành Đường Ngạc rồi Liên Ngạc như bây giờ …

Và sau đây là câu chuyện:{ cụ Đỗ Thế Giai làm quan có nhiều công lao với Chúa Trịnh. Khi cụ ốm nặng, chúa Trịnh Doanh đi ngựa đến thăm, có quân lính giữ ngựa đi theo, chẳng may ngựa sụt xuống bãi sông bị chết, chúa bắt vạ dân làng phải đền một con ngựa như thế. Dân làng lo lắng không biết chỗ nào mà mua ngựa đền. Đỗ Đại Vương thương dân xin Chúa Trịnh cho đền tiền. Chúa bắt mổ bụng ngựa lôi hết ruột ra, lấy tiền nhét vào bụng ngựa bao giờ cho đầy mới thôi. Tiền lúc đó là tiền đồng chất mãi không đầy mặc dù cụ đã đem tiền của mình ra gom với dân làng cũng không đủ. Chúa bắt dân làng phải cắt đất bãi Hoa (nay là thôn Liên Ngạc) cho Chúa làm thực ấp. Bãi Hoa từ đó là đất của Chúa Trịnh…..}

Những kẻ có quyền hành lớn thường hay THAM: nghèo gì một con ngựa, lấy đất đai rồi thì có giữ mãi được đâu. THAM quá hóa SI (ngu dốt) hay NGU quá hóa THAM. Đó là căn bệnh chung của những kẻ có quyền. Mấy ai khi nắm quyền hành trong tay mà biết dùng cơ hội đó để giúp đỡ, ban phát cho người khác để lại ơn phước đời đời cho con cháu.

  • Giai thoại “Triều đình nọc đánh sĩ phu yêu nước tại Văn Miếu”: {Năm 1856 thực dân Pháp đánh chiếm Đà Nẵng rồi tiếp theo đánh các tỉnh miền đông Nam Kỳ . Triều đình chống trả yếu ớt và vội ký hiệp ước 1862 dâng 3 tỉnh miền đông Nam Kỳ cho đế quốc Pháp để cố giữ ngai vàng ô nhục trong suốt gần 100 năm nô lệ giặc Tây. Cả nước phẫn nộ. Khắp nơi nhân dân nổi dậy chống thực dân Pháp. Năm 1864, tại trường thi Hà Nội nổ ra cuộc “Bãi Thi” được các sĩ tử hưởng ứng, trong đó có 10 sĩ tử làng Đông Ngạc, đòi triều đình cho vào Nam đánh Pháp lấy lại 3 tỉnh miền Đông. Cuộc bãi thi làm náo động kinh thành Huế. Triều đình thẳng tay đàn áp. Người lãnh đạo cuộc bãi thi này là tú tài Phạm Gia Tự, người làng Đông Ngạc, bị bắt và bị đem ra Văn Miếu nọc đánh.}

Đây là lần thứ hai triều đình nhà Nguyễn đánh đòn sĩ phu. Lần trước năm 1803, Gia Long đem các tiến sĩ triều Lê làm quan với Nguyễn Huệ ra nọc đánh tại Văn Miếu Hà Nội, trong số đó có tiến sĩ Ngô Thời Nhậm bị đánh đến chết. Lần này sĩ phu Đông Ngạc bị cường quyền nọc đánh tại Văn Miếu vì tội yêu nước.

Kẻ cầm quyền hèn nhát nghĩ rằng nước mình thế yếu không cự nổi nên vội nhượng bộ cắt đất, vội hàng giặc. Họ quên rằng trong tất cả các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam tự cổ chí kim có bao giờ dân ta được quân bình lực lượng với giặc:

– Một nghìn năm nô lệ giặc Tàu (tương quan lực lượng thì Tàu như cái áo, ta chỉ như cái đai) một trận Bạch Đằng Giang, ta giành lại Độc Lập.

– Ba lần đế quốc Mông Cổ xâm lăng (một đoàn quân bách chiến bách thắng chiếm quá nửa thế giới), ta như châu chấu đá xe mà cả 3 lần dân ta đánh bại Mông Cổ.

– Với một đoàn quân, gồm cả dân quê mới tuyển trên đường ra Bắc, Nguyễn Huệ đã đánh tan hơn 20 vạn quân Thanh.

– Một trăm năm đô hộ giặc Tây, cuộc kháng chiến chống Pháp khởi đầu bằng gậy tầm vông mà kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ.

– Cuộc chiến chống Mỹ: 3 anh lính VC (thì cũng là VN) gầy yếu leo lên cây đu đủ, cây đu đủ không gãy mà đại sứ Hoa Kỳ Martin phải cuốn cờ lên trực thăng phi tẩu.

Thế nước yếu lấy gì mà chiến chinh…..HY SINH – Toàn dân VN thời nào cũng sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ Tổ Quốc nhưng bọn thống trị không muốn buông nhả các đặc quyền đặc lợi của chúng vì: THAM – NGU – HÈN (với ngoại bang) ÁC (với đồng bào) nên ta đã từng mất nước. Ôn lại chuyện ngày xưa để suy gẫm chuyện ngày nay. Xét việc đã xảy ra để phòng việc sẽ xảy ra.

Kết Luận:

* Đông Ngạc, một làng mà tộc họ nào cũng có người đỗ đại khoa: ít là một người, nhiều như họ Phạm có đến 11 vị tiến sĩ, có người đậu tiến sĩ hai lần như Phan Phù Tiên, có gia đình ba đời liên tiếp đậu tiến sĩ (Hoàng Nguyễn Thự qua Hoàng Tế Mỹ đến Hoàng Tướng Hiệp), có gia đình bảy người đỗ đại khoa từ Phạm Lân Đính (tiến sĩ năm 1514) đến Phạm Quang Ninh (tiến sĩ năm 1731), có người 10 tuổi đã đỗ tú tài (khoa Nhâm Thìn, 1772) như cử nhân Phạm Gia Sủng.

* Cái trân trọng đối với các vị khoa bảng đó không ở chỗ chức tước cao mà ở chỗ họ cống hiến các tác phẩm cho đời:

– Tiến sĩ Phan Phù Tiên với “Đại Việt sử ký”, “Việt âm thơ tập”, “Bản thảo thực vật toát yếu”.

– Tiến sĩ Lê Đức Mao với bài ca trù cổ kính “Bát giáp thưởng đào văn” hiện còn lưu tại đình làng.

– Tiến sĩ Phan Lê Phiên với 4 tập “Càn nguyên thi tập” (gồm 200 bài thơ thời Lê Mạt) và cuốn “Đại Việt lịch triều đăng khoa lục”.

– Tiến sĩ Hoàng Nguyễn Thự với “Nhập thị Phú Xuân kinh thi tập”.

– Cử nhân Phạm Quang Sán với “Bần phú phương ngôn” gần 100 vần toàn bằng các câu phương ngôn.

– Bảng nhãn Phạm Quang Trạch với “Nam chưởng ký lục” (nói về bang giao giữa ta và Ai tao).

– Tiến sĩ Phạm Quang Dung và tiến sĩ Hoàng Tế Mỹ đều là chánh sứ các phái bộ ta sang Trung Quốc và đã ghi chép việc bang giao giữa 2 nước.

– Tiến sĩ Phạm Gia Chuyên với “Quốc Sử lược biên”.

– Tiến sĩ Nguyễn Hữu Tạo (1844) với cuốn “Lê công hành trạng” (viết về Lê Quí Đôn) “Giới quân sĩ ca” và “Hành quân tức sự”.

– Tiến sĩ Phạm Gia Ninh (1731) với “Trầm hương quân thứ lục” (kinh nghiệm đối phó với sự lấn chiếm biên giới phía Bắc nước ta).

– Cử nhân quận công Đỗ Thế Giai (1745) với bài khải đề đạt với Chúa Trịnh “chính sách sử dụng quan lại, thưởng phạt công minh, đạo trị dân để được no ấm, an cư lạc nghiệp”.

-Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh(1862-1905),mẹ người ngõ Ngác làng Đông Ngạc,làm quan đến án sát để lại các thi phẩm”Thanh Tâm tài nhân thi tập” (Đường luật),”Hương Sơn nhật trình ca”(lục bát) và nổi tiếng nhất là bài hát nói”Hương Sơn phong cảnh ca”( Đệ nhất động hỏi rằng đây có phải……..Thoảng nghe qua một tiếng chày kình).

– Tú tài Nguyễn Hữu Tiến (1874 – 1941) với vở tuồng “Đông A song phụng”, bản dịch “Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ, lược dịch “Đại Nam liệt truyện” thành cuốn “Danh thần lục”, “Mạnh tử quốc văn giải thích”, “Luận ngữ quốc văn giải thích”, “Giai nhân dị mặc” (lần đầu tiên tiểu sử Hồ Xuân Hương được công bố).

– Phó bảng Hoàng Tăng Bí (1910) với vở tuồng “Đệ Bát tài tử hoa tiên ký”, “Nghĩa nặng tình sâu” (truyện Mỵ Châu – Trọng Thủy), “Thù chồng nợ nước” (Hai Bà Trưng khởi nghĩa).

– Phê bình gia Vũ Ngọc Phan (mẹ người trong ngõ Ngác, Kẻ Vẽ) với đại bộ”Nhà Văn Hiện Đại”.

– Luật sư Hoàng Cơ Thụy (1912 – 2004) với đại bộ “Việt sử khảo luận”.

* Về khoa Sư phạm:

– Tổ Phan Phù Tiên, bác sĩ quốc tử phụ trách Quốc Tử Giảm, trường đại học đầu tiên, nơi đào tạo biết bao nhân tài đại khoa bảng.

– Các thầy đồ mở trường dạy học, nhiều người chỉ đỗ tú tài cử nhân mà lại đào tạo được bao ông Nghè ông Bảng.

– Phó bảng Hoàng Tăng Bí cùng với anh em nhà họ Phan: Phan Tuấn Phong, Phan Trọng Kiên, Phan Văn Trường mở trường Đông Kinh Nghĩa Thục để mở mang dân trí và gây lòng yêu nước.

– Giáo sư Hoàng Minh Giám mở trường Thăng Long, cái nôi của trí thức cách mạng yêu nước.

* Về khoa học kỹ thuật: ngoài các bậc tiền bối như TS. Hoàng Thị Nga, BS. bộ trưởng Hoàng Tích Trý, GS.TS. Hoàng Thủy Nguyên, tiên phong trong ngành virus Việt Nam, thành công việc nghiên cứu sản xuất vaccin phòng bại liệt cứu hàng vạn trẻ em và thanh toán virus bại liệt cho Việt Nam, lớp hậu sinh có BS. Nguyễn Thiệu Hiệp mới ngoài 40 vừa nhận chức giáo sư thượng hạng về phẫu thuật (Chair Professor of Surgery) tại đại học y khoa Harvard kiêm giám đốc viện nghiên cứu phẫu thuật mổ các thai nhi trong bụng mẹ bằng người máy (robotic surgery).

* Về chính trị: phó bảng Hoàng Tăng Bí, tiến sĩ Phan Văn Trường, bộ trưởng Hoàng Minh Giám, thủ hiến Hoàng Cơ Bình, phó thủ tướng Phan Quang Đán, phó phủ tướng Phạm Gia Khiêm đều là những nhà cách mạng, những nhà chính trị nổi tiếng trong nước, mỗi người một hoàn cảnh, một con đường, một số phận.

* Về binh nghiệp:

– Tuần phủ kiêm tán trương quân vụ tỉnh Tuyên Quang là tiến sĩ Hoàng Tướng Hiệp (anh ruột ông nội đề đốc Hoàng Cơ Minh) tổ chức chiến đấu chống giặc (Pháp hay Cờ đen ?) bảo vệ thành Tuyên Quang. Thất bại, tiến sĩ Hoàng Tướng Hiệp rút lên Hà Giang rồi sang Trung Quốc và đã uống thuốc độc tuẫn tiết tại phủ Khai Phong thuộc Vân Nam.

– Đề đốc Hoàng Cơ Minh rời bỏ gia đình yên ấm, rời bỏ bang California đầy sữa và mật, một vùng đất hứa như một giấc mơ của nhân loại để: “giã nhà đeo bức chiến bào” đem đám tàn quân về vùng ven biên tổ quốc, cố tâm làm trọn sứ mạng còn dang dở của kẻ chiến binh. Bị vây hãm khốn cùng, ông đã dùng súng tuẫn tiết như tổ phụ Hoàng Tướng Hiệp nơi biên cương Nam Lào:

“… Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi, chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Hồn về Sầm Nứa……. chẳng về xuôi”.

Tất cả … tất cả đều phát sinh từ một làng nhỏ bé của nước Việt Nam.

Liệu trên mặt địa cầu này có khoảng không gian nào chỉ rộng bằng Kẻ Vẽ mà có những cống hiến của những con tim, những khối óc… to lớn như thế không?

Liệu câu nói ĐỊA LINH NHÂN KIỆT có đủ xứng đáng để miêu tả Làng Đông Ngạc chưa ?

Viết xong 3 giờ sáng ngày 14 tháng chín năm 2009

tam

BÙI DUY TÂM

Lời Cảm Ơn

Kẻ viết trân trọng cảm ơn quý bạn sau đây đã hướng dẫn và cung cấp tài liệu để viết bài này: sử gia Bùi Thiết, thiếu tướng Nguyễn Chu Phác, thượng tá Lê Kim Dục,sử gia Nguyễn Văn Yên, BS.Trần Ngọc Sanh, BS. Phạm Tu Chính, BS. Phạm Gia Lữ, thẩm phán Phan Quang Tuệ, trưởng tộc Hoàng Uông Lễ, LS. Hoàng Thị Châu Quy, TS. Hoàng Cơ Định, trung tá Hoàng Song Liêm và tác giả các cuốn sách sau đây đã được tham khảo, trích dẫn trong bài này: xã Đông Ngạc, Làng cổ truyền Việt Nam, Văn hóa khoa bảng làng Đông Ngạc, Làng xã ngoại thành Hà Nội, Cổng làng Hà Nội xưa và nay, Hoàng Nguyễn Thự, Đông Hoàng gia sử, Hồi ký Trần Thư, Phê bình các nhà văn hiện đại.

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *