LÀNG MỘ TRẠCH

BÚT KÝ BÙI DUY TÂM Địa linh nhân kiệt Uncategorized

MỘ TRẠCH

LÀNG TIẾN SĨ

Bùi Duy Tâm

* Đặc điểm

Làng Mộ Trạch mệnh danh là Tiến Sĩ Sào (ổ tiến sĩ) hay Làng Tiến Sĩ. Với số 36 tiến sĩ, Mộ Trạch đã bỏ xa các làng khoa bảng khác (Đông Ngạc – Hà Đông/Hà Nội, Hành Thiện – Nam Định, La Hà – Quảng Bình, An Đồng – Hà Tĩnh, Võ Liệt – Nghệ An,…).

Khoa thi Bính Thân (năm 1656) trong số 3.000 sĩ tử đi thi chỉ lấy có 6 Tiến sĩ. Riêng Làng Mộ Trạch đã có 3 Tiến sĩ. Vua Tự Đức đã hạ bút phê: “Mộ Trạch nhất gia bán thiên hạ” (Một làng Mộ Trạch đã bằng nửa thiên hạ).

Các khoa bảng của Mộ Trạch làm quan to rất nhiều trong triều đình. Người ta thường nói: “Mộ Trạch họp làng tại kinh đô”.

Làng Mộ Trạch, một làng cổ ngót 1200 năm

* Vị trí – Dân cư

Làng Mộ Trạch còn gọi là Chằm Thượng (hai bên là Chằm Hạ và Chằm Trung). Cả vùng gọi là làng Chằm (vùng đất trũng) thuộc xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương cách Hà Nội chừng 50 km trên quốc lộ số 5, đường Hà Nội – Hải Phòng, tới ngã ba Quán Gỏi, đi chừng 10 km nữa sẽ tới. Làng Mộ Trạch với 1.000 nhân khẩu trước năm 1945 và tới nay thì có khoảng 700 hộ với dân số chừng 3.000 người. Dân cư đa số nghèo thuần nông, cày cấy, dệt vải, nhưng rất hiếu học. Làng lập ra các “quán khảo văn” để sát hạch trình độ các thí sinh trước kỳ thi và hướng dẫn các thí sinh về các lề lối, đề tài hay hỏi trong các khoa thi.

Thần tổ Vũ Hồn và sự hình thành ấp Khả Mộ (tức làng Mộ Trạch ngày nay)

Các cuộc chiến tranh phía Nam Trung Quốc, khoảng 300 năm trước Công nguyên, đã đẩy lui dân tộc Bách Việt về phía Nam và phân ra làm 4 quốc gia:

1. Đông Việt sau đổi thành Ngô Việt ở vùng Triết Giang.

2. Mân Việt sau vẫn là Mân Việt ở vùng Phúc Kiến.

3. Nam Việt sau đổi là Đại Việt ở vùng Quảng Đông và Bắc Quảng Tây.

4. Lạc Việt sau thành Giao Châu và kế đó là Đại Cồ Việt ở vùng Vân Nam, Quảng Tây, Bắc Bộ và Trung Bộ ngày nay. Đến năm 960 nhà Tống thống trị toàn cõi Trung Hoa thì từ đó trên bản đồ chỉ còn lại Lạc Việt tức là Việt Nam bây giờ.

Vào khoảng đầu thế kỷ thứ 9 có một vị quan Trung Hoa đời Đường là Vũ Công Huy, (chính thất là Lưu Thị Phương) đã ngoài 60 tuổi chưa có con trai, lại chán ghét cảnh quan trường nên đã từ quan đi chu du khắp nơi.ố Vốn là một nhà địa lý chính thống, khi đến nước Nam, thấy phong thủy một mảnh đất vùng Chí Linh – Hải Dương rất đẹp có thể: “bách nhạn hội sào” (100 đống hình tròn chầu xung quanh một đống to và cao nhất), ông bèn quay về đem hài cốt cha là Vũ Công Oanh sang táng vào kiểu đất đó. Được kể lại đó là mộ táng treo: xương đựng trong tiểu sành có xích sắt cột vào 4 cột đá trong một hầm xây bằng gạch có lỗ thông hơi. Hầm ấy bị sập khoảng năm 1885 – 1889 và bị lấp đất thành một đống to cao hơn mặt ruộng một đầu người, nay gọi là Đống Dờm (làng Mạn Nhuế, vùng Chí Linh nay thuộc huyện Nam Sách hay Bình Dương Hải Dương bây giờ). Tại đây đã xảy ra 3 lần xâm táng:

– Đầu triều Lê có người nhờ thầy phong thủy tìm đất để táng mộ tổ, đào lên thấy một bia đá đề “Đường An, Khả Mộ, Vũ thị tổ mộ” nghĩa là: “Mộ Tổ họ Vũ ở huyện Đường An (tên ngày xưa của huyện Nam Sách (hay Bình Giang bây giờ), ấp Khả Mộ (tên ngày xưa của Mộ Trạch) người

Bia cao: Dựng 1937, khắc văn bản của Công sứ Massimi (bằng tiếng Pháp) và văn bản của Tổng đốc Hải Dương (bằng tiếng Việt), xác nhận quyền bảo vệ mộ Tổ của con cháu họ Vũ.

Bia thấp: Xác định vị trí phần mộ với dòng chữ “Mộ Trạch Vũ Thị Tổ Mộ”

đó báo cho dân làng Mộ Trạch biết rồi bỏ đi tìm mộ nơi khác. Bia đá nay còn trên Đống Dờm, cạnh bia lớn đề chữ “Vũ Tộc Tổ Mộ” do dân làng mới dựng lên để bảo vệ khu Mộ Tổ.

– Hai lần xâm táng sau vào triều Gia Long và gần đây năm 1937 đều được triều đình nước Nam và viên Công sứ Pháp Hải Dương tên là Massimi, xử thắng cho làng Mộ Trạch và công sức cho hương lý Mạn Nhuế phải trông nom cả đống di mộ, không để ai xâm phạm.

Hiện nay một bia đá cao 1m vẫn còn sừng sững trên gò cao Đống Dờm khắc lời phê của triều đình “Hoàn phụ vi phần” (được nhận cả đống làm mộ) và nguyên văn bản chữ Pháp công văn của viên Công sứ Massimi cùng hai bản dịch sang chữ Hán và chữ Quốc ngữ:

Công văn số 4525 ngày 5/3/1937

Kính gửi ông Tổng đốc tỉnh Hải Dương,

Việc họ Vũ làng Mộ Trạch tỏ ý muốn mua khu đất công số 1147, gọi là Đống Dờm ở làng Mạn Nhuế, phủ Nam Sách, trong khu đất ấy có di xác Vũ Hồn (thực ra đó là mộ Vũ Công Oanh, ông nội của Vũ Hồn).

Việc mua bán ấy không thể được.

Nhưng tôi cũng cho làng Mạn Nhuế biết rằng phải trông nom và phải chiếu điều 245 luật hình với di xác một vĩ nhân đã có nhiều bằng sắc phong thần, không có sự xâm phạm đến ngôi đất Đống Dờm ấy được.

Vậy sức cho các làng này chi tuần.

Sao thượng tả (TP) Chánh công sứ Hải Dương

Vũ Đại Ký tên: Massimi

Sự kiện trên cho ta thấy trong đám quan cai trị thực dân Pháp cũng có nhiều người có tâm trí thực sự văn minh để tôn trọng di tích lịch sử của dân thuộc địa bản xứ. Nhưng phải biết rằng dân mình có biết quý trọng tổ tiên của mình trước rồi ngoại nhân mới lưu tâm giúp đỡ đúng như câu phương ngôn Tây: “Ta phải giúp ta trước rồi trời mới giúp ta được” Tinh thần dân tộc mà giữ vững thì đất nước chẳng bao giờ sợ mất.

Sau khi ổn định việc đặt mộ phần cho cha, Vũ Công Huy kết hôn với người con gái 24 tuổi người làng Mạn Nhuê tên là Nguyễn Thị Đức, tính tình ngay thẳng, nói năng dịu dàng vốn con nhà nho, dòng dõi thế phiệt. Bà sinh một trai vào đêm ngày mùng 8 tháng giêng năm Giáp Thân (804), đặt tên là Vũ Hồn (nghĩa là hồn nhiên, ôn hòa, thông minh). Vũ Hồn, lên 7 tuổi đọc được kinh truyện, sử sách, năm 12 tuổi học rộng biết nhiều, giỏi làm thơ Đường luật, ngoài ra còn hăng say tập phi ngựa, bắn cung; đến năm 16 tuổi (năm Canh Tý, 820) đi thi đình độ đại khoa. Vua Đường khen ngợi là người có tài bậc nhất trong thiên hạ, xứng đáng là trạng nguyên và phong làm Lễ bộ Thượng thư Tả thị lang (đứng đầu các quan văn); năm Canh Thân 840 được thăng chức Đô đài Ngự sử; hơn 1 năm sau lại phong chức: “An Nam Đô hộ sứ” (841 – 843). Ông về Mạn Nhuế viếng Mộ Tổ (ông Nội) ở Đống Dờm rồi tiếp tục lộ trình thấy khoảng đất đẹp phát khoa danh đời đời nên đắc ý cắm đất, mộ dân lập ấp, đặt tên là Khả Mộ (ấp đáng mến mộ). Sau sát nhập với thôn Lạp Trạch (đất làm nón) hay Chằm Trạch (đất trũng) kế bên nên đổi tên là làng Mộ Trạch bây giờ.

Bắt chước người xưa “lấy việc được phụng dưỡng cha mẹ già một ngày còn hơn làm đến chức Tam công” (tức quan to nhất trong triều) và cũng vì nội bộ nhà Đường rối ren. Năm Giáp Tý 644 ở tuổi 40, ông dâng sớ từ quan, đưa mẹ già về cố hương, đất Khả Mộ để săn sóc mẹ, mở trường dạy học (nay là đình làng Mộ Trạch), bốc thuốc chữa bệnh cho dân, sống với người vợ Việt Nam, gây dựng cơ nghiệp lâu dài. Khi mẹ chết, ông cùng dân làng rước linh cữu mẹ về an táng tại quê cũ, làng Kiệt Đặc, phủ Thanh Lâm nay là xã Văn An, huyện Chí Linh – Hải Dương cũng là nơi Chu Văn An về ở ẩn mở trường dạy học. Mộ Trạch mỗi ngày một đông dân hơn và phát triển trở thành một làng có truyền thống hiếu học, tuân theo lễ nghĩa.

Sau khi mãn tang mẹ được vài năm, người đang ngồi dạy học không bệnh mà mất năm Quý Dậu 853, thọ 49 tuổi. Dân làng chọn một gò đất cao phía Bắc làng làm nơi an táng – khi hạ huyệt mây ùn ùn kéo tới, trời tối sầm mưa lớn rồi mưa tạnh, mây tan mặt trời chiếu sáng lại, kiến và mối đùn đất lên đắp cho ngôi mộ thêm to – Vua phong là Thượng đẳng phúc thần, dân làng tôn làm Thành hoàng làng và Thủy tổ/Thần tổ họ Vũ – Hằng năm cứ đến ngày mồng tám tháng Giêng Âm lịch dân làng lại mở hội để tưởng nhớ ngày sinh và công đức của người. Trải qua các triều đại xưa Trần, Lê, Nguyễn, Thành hoàng làng Mộ Trạch được các vua ban cho 12 sắc phong.

Đến khi Vũ Hồn phu nhân mất, dân làng rước linh cữu an táng tại đống “Mả thần” cùng nơi với Vũ Hồn, gọi là Song táng.

Từ khi Vũ Hồn mất (853) đến năm 1226 (đời Vũ Nạp, cuối Triều Lý), trong sử sách hay bia phả không nhắc tới Vũ Hồn và làng Mộ Trạch – ta có thể coi như là thời kỳ thất truyền.

Miếu, Đình, Chùa, Giếng cổ, các Mộ Tổ và các Quán Văn

Ngôi Miếu cổ:

Trước ở ven đường sau thôn, tại xứ ông Hỡi sau (1658 – 1662) dời về xứ mắt Rồng phía Bắc thôn, Miếu thờ Thần Tổ, được trùng tu nhiều lần (lần sau cùng 2002 – 2003). Phía sau miếu đã xây dựng một nhà bia nhằm tôn vinh truyền thống văn hiến của dòng họ, nhà 8 mái cong, 5 gian, 2 chái. Phía bên phải miếu (từ ngoài nhìn vào) xây dựng một nhà 4 mái cong để lưu giữ các vật truyền thống và thư viện. Phía bên trái miếu, xây dựng 1 hạ đường 4 mái cong làm nơi hội họp. Trước miếu 2 giếng mắt rồng được nạo vét xây lại. Cổng tam quan mới xây dựng có tháp chuông.

Miếu cổ là một cảnh đẹp

Miếu thờ Vũ Hồn

Nhà Bia vừa xây dựng phía sau Cổ Miếu nhằm tôn vinh

và phát huy truyền thống văn hiến của dòng họ

Ngôi đình cổ

Đình làng Mộ Trạch trước ở đầu thôn, khoảng 1658 – 1662 dời vào giữa thôn – lúc này đình dựng tạm bằng gác gỗ, lợp cỏ, tục gọi là đình Đòn, xong hội làng lại dỡ bỏ. Năm 1697 mới dựng lại đại đình, cột kèo nguy nga (hiện còn văn bia). Ngôi thứ trong đình bố trí cho 6 giáp: Bên Đông 3 giáp, bên Tây 3 giáp. Thời sau lại phân chia thành 18 giáp: phía Đông 9 giáp, phía Tây 9 giáp. Việc ăn uống ở đình phân chia theo ngôi thứ: 4 góc trong ngoài và giữa đình đều chia hai bên nam nữ ngồi riêng – xem hát xướng cũng phân theo đẳng cấp.

Khoảng năm (1740 – 1741) đình bị bọn giặc cỏ thiêu rụi. Đến năm 1757 dân làng mới dựng lại được một ngôi đình to lớn hơn, cột bằng gỗ lim, mái lợp ngói, tường gạch vây bốn mặt tráng lệ hơn xưa nhiều. Sau làm thêm hành lang, tả vu, hữu vu. Hàng năm tổ chức cúng tế xướng ca.

Ngôi chùa cổ

Chùa thờ Phật gọi là chùa Diên Phúc có vị Phật Bà tối linh – tục truyền ông Vũ Nhân Trung người làng Mộ Trạch, từng là Hiền sát sứ tại đạo Yên Quảng (Quảng Yên ?) ngoài hải đảo có một danh lam thờ tượng Phật Bà 2 mắt, 12 tay. Một đêm ông mộng thấy vị Phật ấy đến phán bảo “Chị nghe làng quý đệ là chốn danh địa vùng trung châu, nay chị không muốn ở chốn hải đảo xa xôi này nữa, vậy ngày được trở về quý đệ nên đưa chị theo.” Ông y lời chở tượng về bản chùa phụng thờ, người làng đến cầu phúc đều linh nghiệm. Trước và sau chùa trồng 5 đại thụ cao ngất um tùm: cây như tán lọng, cây như voi nằm.

Chùa cổ Diên Phúc làng Mộ Trạch

Giếng cổ

Phía Đông Nam chùa có cái giếng khơi trúng mạch nước ngầm, nước trong có vị ngọt, vào năm khô hạn, giếng nước vẫn đầy. Trên bờ có đến thờ thần Long Tỉnh rất thiêng. Khoa thi nào trong làng có người thi đỗ Tiến sĩ thì trước đó đều thấy cá lớn nổi lên bơi lội trên mặt nước. Ngạn ngữ nói: “Tam Sơn (thuộc huyện Đông Ngàn, Bắc Ninh) rắn hiện, Mộ Trạch cá bơi hay yểng nói lắp” là những điềm báo có người đỗ đạt cao.

Ngày xưa kể khi lập đô dựng ấp, trước tiên phải xét âm dương bói tìm mạch giếng rồi mới định cư. Giếng làng Mộ Trạch chu vi 40 trượng mà sâu cũng chừng nửa đó, khuấy lên nước không vẩn đục.

Miếu, Chùa Diên Phúc, Giếng nước đã được Hoàng giáp Vũ Cán (khoa 1502) xếp vào 8 cảnh đẹp của làng Mộ Trạch (được vịnh trong tập thơ “Tùng hiên bát cảnh”).

“Diên Phúc tuyền tỉnh”, giếng nguồn chùa Diên Phúc.

Giếng khơi ở phía đông nam chùa, mạch nước không bao giờ cạn.

Mộ tổ phát tích: Đống Dờm

Tại xóm Viên Phụ, xã Mạn Nhuế, huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương có ngôi mộ tục gọi là Đống Dờm. Đó chính là nơi Vũ Công Huy đã đem hài cốt gia tiên là Vũ Công Oanh sang táng vào đó. Vào thời Lý – Trần mộ bị thất truyền, đến Lê Sơ có quan Tham chính Trần Xuân Yến được thầy địa lý Nguyễn Trọng Diệu dẫn tìm cát địa để táng mộ gia tiên, khi đến chỗ này đào sâu xuống thì gặp một mộ chí bằng đá khắc dòng chữ “Đường An huyện, Khả Mộ xã, Vũ thị Tổ mộ” nên báo cho người làng Mộ Trạch biết rồi đi tìm nơi khác.

Khu mộ Đống Dờm đã được dân làng Mộ Trạch chăm sóc, bảo vệ hết sức chu đáo – cuối năm 2003 đã xây đường vào bằng bê tông, gạch, có bậc lên mộ rộng rãi, thuận lợi, không còn cảnh đường lầy lội như hàng bao năm nay.

Đống Dờm ở xã Mạn Nhuế, Nam Sách, Hải Dương,

nơi cát táng hài cốt gia tiên Thủy Tổ Vũ Hồn

Ông Cao Quỳnh, cháu 17 đời của Cao Vương (Cao Biền) đến nước Nam xem khắp các địa danh, khi qua cổng làng Mộ Trạch, chỉ tay nói với mọi người: “Chỗ này là ổ tiến sĩ (tiến sĩ sào) đó”.

Mộ Tổ bà Nguyễn Thị Đức

Theo ngọc phả, thân mẫu Thủy Tổ Vũ Hồn là bà Nguyễn Thị Đức được táng tại trang Kiệt Đặc, huyện Thanh Lâm (nay là Chí Linh) tỉnh Hải Dương. Cách đây mấy năm, một nông dân đào ao gặp ngôi mộ này đã di chuyển đến chỗ khác. Mộ trước khi lộ thiên còn nguyên trong quan, ngoài quách. Dân làng đã xuất tiền mua lại đất của chủ cũ và đã chuyển mộ cụ Tổ bà Nguyễn Thị Đức trở lại vị trí gần nguyên huyệt, xây dựng lăng mộ và miếu thờ.

Mộ Tổ Mẫu Nguyễn Thị Đức, thân mẫu Thủy tổ Vũ Hồn

ở Kiệt Đặc, xã Văn An, huyện Chí Linh, Hải Dương

Thần lăng (Mả Thần)

Nơi hợp táng Thủy tổ Vũ Hồn và bà Vương phi tại phía Bắc thôn (Đông Bắc giáp Trạch Xá) gọi là Thần lăng, ngày nay gọi là Mả Thần.

Khu mộ Thần Tổ Vũ Hồn

Phần mộ song táng, trải qua hàng ngàn năm không phân biệt được vị trí mộ Tổ Ông, Tổ Bà. Bên cạnh có mộ Quế phu nhân Nhữ thị Nhuận, vợ ông Vũ Phương Đẩu.

Năm 1994 có con cháu cung tiến xây lại lăng mộ và khu tường bao quanh. Năm 2003 có người xây kè đường vào Mả Thần cao ráo, sạch đẹp. Khu lăng Thần vừa được cải tạo trong năm 2011 thành nơi xứng đáng với ngôi mộ của Thần tổ.

Các Quán Văn hay Quán Khảo Văn

Qua các thời đại Mộ Trạch có những Quán Văn để tao nhân mặc khách ra hóng gió ngắm trăng hay để khảo hạch các sĩ tử trước kỳ thi Hương.

– Quán Tứ Đạt: Bên trái làng là Thanh Long gần đấy có quán Tứ Đạt, ngoài cửa Đông tục gọi Ngõ Bốn, vốn là một nơi bốn mùa đều tươi đẹp. Trong bài vịnh “Hóng gió ở quán Tứ Đạt” có câu:

“… nhẩn nha ngồi quán đón hương đồng

Ngập đầu tục lụy quên bằng hết

Rát mặt buồn phiền trút sạch không…”

Quán Đồng Quan: Ngay trước làng là nơi các bậc cao sĩ thường tụ hội, đàm luận kinh sách, thưởng ngoạn trăng thu.

“Ra quán Đồng Quan ngắm trăng…

Thi hứng trào dâng tựa Tô Đông Pha mơ hạc tiên bay qua

Đất trời sông núi như thu trong đáy mắt

Hà tất đến Lam Kiều tìm thần tiên!”

– Gò Chi Long: Bên phải làng là Bạch Hổ bầy ra 3 cái đống, gần đấy có bãi cát Chi Long vươn ra bảo vệ cho làng. Các vị Tiến sĩ từ kinh đô về trong khi chờ đợi dân làng nghênh đón, thường che lọng ngồi chơi, ngắm nhìn nước non, vui vẻ nói cười:

“Kinh quốc quy lai trác cẩm vinh

Chi Long ỷ các ánh phong tình

Giang sơn dịch động ưu du hứng

Phân tử nan thăng cố cựu tình”

Dịch nghĩa:

“Từ kinh đô đất nước trở về áo gấm vinh quy

Nơi Chi Long cắm lọng hóng gió ngày quang mây tạnh

Non sông luôn đổi thay càng tăng hứng du ngoạn

Tình cũ với quê cha đất tổ khó lòng quên được”

– Bạch Công Cừ (Sông Đào): Trước làng có dòng nước chảy ngang tên là Bạch Công Cừ tục gọi là Sông Đào. Từ đời nhà Hán ông Bạch (Bạch Công) đã đào kênh để tưới ruộng vườn, bởi vậy mới gọi là Bạch Công Cừ (kênh ông Bạch). Mộ Trạch ruộng thấp đất ẩm (chằm=đất trũng) nhưng lại xa cách sông núi. Gặp nắng hạn có mối lo khô cạn, phải lúc mưa nhiều lại có họa ngập úng, khiến dân tình khốn khổ. Hiến sát Vũ Nhân Trung tâu xin triều đình cho khơi thông dòng mương từ Mộ Trạch tới Kênh Hai khiến 2 nguồn nước giao lưu theo thủy triều lên xuống. Mùa khô có nước tưới, mùa mưa có lối thoát. Từ đấy đồng ruộng Mộ Trạch theo thời mà trồng trọt. Ven sông có bến đò, có Hòn đá Buộc voi, người đời sau nhân đó bày ra trò du chơi đêm trăng trên Sông Đào.

– Quan Kỳ Anh: Mé ngoài cổng phía Nam có Quán Kỳ Anh là nơi chư vị quan lớn đã về chí sĩ cùng đám thiếu niên anh tuấn thường mở “ hội nghênh dù”, gặp gỡ vui chơi thanh thản. Đây cũng là nơi làng khảo hạch các sĩ tử trước khoa thi Hương.

– Quán Linh Ứng: Thái giám triều Mạc Ly Quốc công Nguyễn Thế Ân (người thôn Hạ) từng dựng quán đúc chuông để thờ Đạo giáo, đặt tên quán là Linh Ứng vì hồi đó nước nhà có loạn Trần Cảo ( khởi nghĩa chống Lê Tương Dực 1516), khi ra trận nhờ cầu đảo được linh ứng, trước sau ông đều thắng trận. Sau khi ông mất, người làng thấy quán này trấn phương Tốn [Đông Nam] bèn vung búa rìu trong chớp mắt phá tan tành, chuông đem về chùa thôn Hạ.

– Quán Đống Gạch: Xa chút nữa có quán Đống Gạch là nơi khách vãng lai nghỉ chân, bên cạnh có cây si cổ thụ, cành lá um tùm rợp bầu trời. Gò đất ở đây cao và tròn. Xưa truyền rằng người nhà Minh giấu của tại đó, thường có con vịt vàng hiện ra, hễ thấy người thì chạy biến vào trong gò. Đã có người trong làng đào bới nhưng chẳng thấy gì.

– Cầu Ông Trạng Ở hướng Đinh, có bút Trạng nguyên (dài 20 trượng rộng 1 sào), bên cạnh có Nghiên mực. Ngày xưa (1505) Trạng nguyên Lê Nại có dựng một gian quán ven đường làm nơi hóng mát, tục gọi là Cầu Ông Trạng.

– Hoàng Oanh quán: nền lũy rộng rãi, non nước bao quanh, trước kia tại đây mỗi khi sắp mở khoa thi Hương, làng thường sát hạch những người đi thi.

Hương ước làng Mộ Trạch (Mộ Trạch Xã Cựu Khoán)

Quốc gia có đạo trị bình để giữ kỷ cương, làng xóm cần có quy định khoán ước để xây dựng nền nếp thuần hậu của xóm làng. Hương ước làng Mộ Trạch ra đời năm 1666 (có 30 điều) cho đến nay (1974) có 23 lần ghi thêm điều bổ sung, cuối cùng cộng lại có 104 điều. Xin chép lại vài ba điều làm tiêu biểu:

Điều 1: * Nếu vị nào đỗ tiến sĩ, trúng tuyển vào Đông các, thăng tước vị Quận công, đi sứ nước ngoài về, là chí sĩ vinh quy thì giáp chiểu theo dân số trong giáp mình mà thu tiền gạo làm cỗ mừng gồm: một con lợn, 1 chĩnh rượu bằng 2 quan tiền, 1 mâm xôi nếp bằng 100 thùng gạo rồi chuẩn bị chu tất các nghi trượng của đám rước như hương án, lọng (1 đôi), cờ quạt (1 đôi), chiêng trống, gậy đỏ và độ 60 người đi theo để khiêng vác nghi trượng ấy, cùng nhau đến chùa Vô Ngại huyện Đường Hào để rước mừng. Lễ đáp 1 con trâu, 10 chĩnh rượu bằng 20 quan tiền.

* Viên nào hàng năm được thăng chức hoặc dự vào hàng quan triều thì cỗ bàn như trên không giảm nhưng số nghi trương và đi đón bớt đi một nửa và đi tới chợ huyện Hoa Đường (làng Lương Đường ngày nay) để rước mừng như nghi lễ đã định. Lễ đáp lại phải có một con trâu sống, 6 chĩnh rượu bằng 10 quan tiền.

Điều 4: Đường đi trong làng xóm đều xét phần đất của ngõ mình chia cho người trong ngõ bồi đắp, sao cho vững chắc, gọn gàng, đẹp đẽ, tiện lợi cho sự đi lại. Đến thượng tuần tháng 3, xã trưởng, thôn trưởng cùng nhau khám xét lại nếu thấy ngõ nào đắp quá thấp, bị sũng nước, hoặc có đắp nhưng giả dối qua loa đều phải đem ra xét xử:

– Bỏ trống không đắp chịu phạt 1 con lợn bằng 2 quan tiền, 1 vò rượu bằng 5 quan tiền.

– Nếu làm rối không thật thì phạt 1 con lợn nhỏ bằng 1 quan tiền, 1 vò rượu nhỏ.

Qua hàng năm mỗi ngõ đều có chỗ thêm bớt nhưng cũng phải đợi đến thời hạn 5 năm mới được điều chỉnh phân bố lại để cho lực dịch giữa các ngõ được đồng đều, không được chênh lệch nhau để thấy rõ sự nghiêm chỉnh của hương ước.

Điều 6: Cấm mọi người trong làng đi thưa kiện lên quan trên mà không trình bày với xã trưởng. Ai làm sai sẽ bị phạt trầu rượu.

Điều 8: Xung quanh nhà đã rào dậu, đắp tường để ngăn trộm cắp. Ai tự phá dậu trèo tường mà vào thì bị phạt 3 quan tiền. Người trông thấy mà cáo giác thì thu của phạm nhân 5 mạch để thưởng. Thấy mà không tố cáo thì bị phạt như số tiền thưởng cho người cáo giác.

Điều 10: Người nào vô cớ chặt trộm cây, bẻ măng, lấy quả xanh, đánh trộm cá ao ban đêm thì bị phạt 3 quan, còn ban ngày thì phạt một quan rưỡi, đồng thời phải bồi thường thiệt hại cho người chủ. Ai trông thấy mà không cáo giác sẽ bị phạt ngang tiền thưởng cho người cáo giác.

Điều 14: Hàng năm cứ đến kỳ nông vụ các xứ đồng đều phải giữ nước để tưới nhuần lúa má. Người nào tự tiện tháo nước để bắt cá sẽ bị phạt 1 con lợn bằng 1 quan tiền, 1 vò rượu và trầu cau. Ai trông thấy mà cáo giác thì thu 5 mạch của người sai trái. Trông thấy mà không cáo giác cũng bị phạt ngang tiền thưởng.

Điều 15: Trong thôn đường lớn rộng 8 thước (3.20m) 2 bên có rãnh nước rộng 2 thước (0.80m) để tiện việc đi lại. Nếu ai xâm chiếm thì phạt 1 con lợn bằng 1 quan tiền, 1 hũ rượu và trầu cau, lại phải trả lại phần đã xâm chiếm.

Điều 23: Theo nghiệp nho, nếu cha ông ngày trước từng bị can phạm, thì con cháu không được đưa vào sổ thi cử.

Điều 26: Người nào đã phạm lỗi nếu biết tự thú thì giảm tội 1 bậc

Điều 27: Mỗi khi có việc cần chỉ nghe 3 hồi trống hoặc chuông, các quan viên, văn thuộc, xã trưởng, thôn trưởng, trưởng lão đều phải đến đình đủ mặt để họp bàn. Qua một lục lại đánh 3 hồi trống hoặc chuông nữa, nếu ai vắng mặt là phải nộp tiền phạt trong vòng 1 ngày phải nộp đủ để việc thi hành khoản ước được nghiêm.

Điều 28: Người nào đi làm với nha lại, âm mưu lấy văn bằng để được miễn dịch, hay nam nữ đi lại với nhau làm điều ám muội, xã điều tra bị phạt một con trâu, 1 chĩnh rượu bằng 10 quan tiền.

MỘ TRẠCH VŨ TỘC

Từ khi nhà Đường mất đến hết thời Ngũ Đại (Hậu Lương, Đầu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu) là 54 năm, Tống 300 năm, rồi đến đời Nguyên cũng là thời nước ta dưới triều Trần, tất cả khoảng 400 năm, luôn luôn xảy ra binh lửa, gia phả thất truyền bởi vậy Mộ Trạch Vũ tộc phả chỉ có thể ghi từ Thủy tổ Vũ Hồn (thế kỷ thứ 9) qua thời gian thất truyền (khoảng 4 thế kỷ) đến Vũ Nạp (thế kỷ 13) mà Triều Trần đã phong tặng chức Tăng Thống là Tổ thứ nhất.

Đời thứ I: Vũ Công, tên húy là Nạp, cha của Nghiêu Tá và Hán Bi, ông từ nhỏ theo Nho học, uyên thâm kinh điển nhà Phật, lấy đức hạnh và nhân nghĩa dạy con. Hai con kế tiếp đỗ đạt, ông nhờ ấm mà được tặng chức Tăng Thống (triều Trần là quan tam phẩm). Nghĩa đen của chữ Ấm là bóng rợp che chở, “phong ấm” là chế độ phong tăng chức tước vinh dự cho ông bà, cha mẹ, vợ con người làm quan có công với triều đình, “Dĩ tử ấm tặng…” nghĩa là lấy ấm của con mà tặng chứ không phải do bản thân mình.

Đời thứ II: Con trưởng của Vũ Nạp là Vũ Nghiêu Tá đỗ Đại học sĩ (đời trần, tức là Tiến sĩ) làm quan đến Nhập nội Hành khiển.

Con thứ của Vũ Nạp là Vũ Hán Bi cùng đỗ khoa Đại học sĩ với anh cả Nghiêu Tá và cũng làm quan đến Nhập nội Hành khiển.

Đời thứ III: Vũ Nhữ Mai (trưởng nam của Nghiêu Tá)

Đời thứ IV: – Vũ Bá Khiêm (trưởng nam của Nhữ Mai)

– Vũ Trọng Phục (thứ nam của Nhữ Mai)

– Vũ Quý Tế (con út của Nhữ Mai)

Về con cháu của Hán Bi, Trọng Phục và Quý Tế, phả cũ không ghi nên có thuyết cho rằng phàm là họ Vũ mà không thuộc NGŨ CHI đều là hậu duệ của các ông Hán Bi, Trọng Phục và Quý Tế.

TIỀN NGŨ CHI: Từ đời thứ 5 lấy 5 người con Vũ Bá Khiêm làm Thủy (Khởi) tổ phân làm 5 chi NGŨ CHI hay TIỀN NGŨ CHI :

* Chi thứ nhất: Huyện thừa Vũ Tùy (trưởng nam của Vũ Bá Khiêm) truyền đến đời cháu thứ 14 Vũ Văn Châu thì dứt.

* Chi thứ hai: Tổng chánh Vũ Tấn (thứ nam của Vũ Bá Khiêm) có từ đường là Đức Nghiệp Đường rồi đổi ra Đôn Hiếu Đường.

* Chi thứ ba: Thượng thư Vũ Hữu (con trai thứ 3 của Vũ Bá Khiêm) có từ đường là Hiểu Đức Đường.

* Chi thứ tư: Thái bảo Vũ Tráng (con trai thứ 4 của Vũ Bá Khiêm) đến cháu đời thứ 15 thì di cư về xã Vạn Đồn, huyện Thụy Anh, Nam Định (nay thuộc về Thái Bình).

* Chi thứ năm: Đình úy Vũ Phong (con trai thứ 5 của Vũ Bá Khiêm) ông là Thủy tổ của Lê Trạch Đường (ngoài cổng làng phía Nam).

5 chi vừa kể trên gọi là TIỀN NGŨ CHI.

Đình úy Vũ Phong đời thứ 5, khởi đầu chi thứ 5 (thuộc TIỀN NGŨ CHI) đến cử nhân Vũ Quốc Sĩ, đời thứ 9 (chi thứ 5) sinh được 5 con trai với bà Vũ Thị Thứ. Nhà nghèo ông bà không ở làng, gánh con đi bộ lên ở phố Đình Ngang rồi trọ ở chùa Báo Thiên. Ông mở trường dạy học, bà buôn bán tần tảo, nuôi dạy 5 con trai, cả 5 đều làm nên sự nghiệp.

HẬU NGŨ CHI- Ông Sĩ là khởi tổ của HẬU NGŨ CHI:

* Chi thứ nhất: Quận công Vũ Tự Khoái (sinh năm 1598, trưởng nam của Quốc Sĩ) [đời thứ 10].

* Chi thứ hai: Đình Nguyên Hoàng Giáp Vũ Bạt Tụy (sinh năm 1602, con trai thứ 2 của Quốc Sĩ) [đời thứ 10], chính là người khai khoa cho làng Mộ Trạch thời Lê Trung Hưng, vào phủ Chúa làm Bồi tụng. Ba đời liền đỗ đạt được vua ban cho từ đường 2 chữ Thế Khoa (nối đời đỗ đạt) mà chính ông là Thủy Tổ.

* Chi thứ ba: Vũ Duy Chí (sinh năm 1605, con trai thứ 3 của Quốc Sĩ) [đời thứ 10], Thượng thư bộ Binh, bộ Lễ, Tham tụng Tể tướng, tước Quận Công. Năm 72 tuổi, ông về hưu, có người hỏi “Tướng công làm quan đến tột đỉnh, sao ông không xây nổi nhà lầu, cũng chẳng có ruộng vườn cho con cháu”. Ông đáp: “Khi làm quan nếu lấy sự buông thả theo tiền tài lợi lộc đâu phải là khó, nhưng tôi muốn lấy sự trong sạch để nối nghiệp nhà mà dạy bảo con cháu biết dựng tòa nhà lễ nghĩa, trồng thửa ruộng sách vở, hưởng phúc ấm của thơ văn như thế giàu sang hơn tiền bạc của cải nhiều”. Ông là Thủy Tổ Quang Chấn Đường.

* Chi thứ tư: Vũ Phương Trượng (sinh năm 1608, con trai thứ 4 của ông Quốc Sĩ) [đời thứ 10], thọ 80 tuổi, được tặng Thượng thư bộ Hình, tước Quận công, Thủy tổ Vĩnh Bảo Đường.

* Chi thứ năm: Tiến sĩ Vũ Cầu Hối (sinh năm 1613, con trai thứ 5 của ông Quốc Sĩ) [đời thứ 10], Phủ doãn phủ Phụng Thiên. Thọ hơn 60 tuổi.

MỘ TRẠCH VŨ TỘC BÁT PHÁI PHẢ: ghi chép về các thế hệ ở thôn Thượng, xã Mộ Trạch, tổng Thì Cử, huyện Đường An. Chia ra làm 8 phái = BÁT PHÁI:

* PHÁI GIÁP (phái thứ nhất)

Đời 1: Vũ công (tên hiệu là Chân Nhân) sinh con là Quỳnh [đời thứ 2] nhà ở thôn Tây, chỗ ngồi việc làng (hương ẩm) thuộc giáp Bình Chính.

* PHÁI ẤT (phái thứ hai)

Đời 1: Vũ Công sinh Nhân Trung [đời thứ 2], nhà xưa ở Ngõ Nam, chỗ ngồi hương ẩm ở giáp Xuân Chính.

* PHÁI BÍNH (phái thứ ba)

Đời 1: Vũ Công, sinh 4 con là mỗ…, mỗ…, mỗ… và Bô [đời 2], hương ẩm ở giáp Đoan Chính.

* PHÁI ĐINH (phái thứ tư)

Đời 1: Vũ Công (hiệu là Huyền Ân), sinh con là Cương Trực [đời thứ 2]

* PHÁI MẬU (phái thứ năm)

Đời 1: Vũ Công (tên húy là Quốc Trung) sinh con là Thọ Ích [đời 2]

* PHÁI KỶ (phái thứ sáu)

Đời 1: Vũ Công (tục truyền đây là hậu duệ của Hán Bi) sinh con là Kính [đời 2].

* PHÁI CANH (phái thứ bảy)

Đời 1: Vũ Công (hiệu là Ngu Tính) nhà ở thôn Tây, sinh con là Dụ Hiên [đời 2]

* PHÁI TÂN (phái thứ tám)

Đời 1: Vũ Công (hiệu Thuần Trai) sinh con trai (hiệu là Lễ Tính) [đời 2].

Suốt 845 năm thi cử từ thời Lý Nhân Tông mở khoa thi đầu tiên (1075) đến năm 1919 khoa thi cuối cùng thời Khải Định, trong số 166 người đỗ Tiến sĩ họ Vũ toàn quốc (có thể đều từ họ Vũ – Mộ Trạch ???) thì riêng làng Mộ Trạch có 36 tiến sĩ và 1 Trạng nguyên (29 người họ Vũ, 7 người không phải họ Vũ nhưng lại là rể họ Vũ).

DANH SÁCH 36 TIẾN SĨ LÀNG MỘ TRẠCH :

Trước khi có khoa thi tiến sĩ: làng Mộ Trạch đã có Vũ Nạp và Tạ tướng công đỗ Ất khoa Tam giáo (1247) và chính 2 cụ là những người cắm lá cờ tư văn đầu tiên của làng.

Thời Trần: 3 Tiến sĩ (1226 – 1400):

1. Vũ Nghiêu Tá đỗ Thái Học sinh khoa Giáp Thìn (1304)

2. Vũ Hán Bi đỗ Thái Học sinh (1304) cùng khoa với anh trai là Vũ Nghiêu Tá và cả 2 đều là con trai Vũ Nạp.

3. Lê Cảnh Tuân: khoa Tân Dậu (1381)

Thời Lê sơ: 12 Tiến sĩ (1427 – 1400)

1. Vũ Hữu: trạng toán, năm Quý Mùi 1463 (Hoàng giáp)

2. Vũ Đức Khang: năm Nhâm Thìn 1472 (Hoàng giáp)

3. Vũ Quỳnh: năm Mậu Tuất 1478 (Hoàng giáp)

4. Vũ Nguyên Trinh: năm Tân Sửu 1481

5. Vũ Đôn: năm Đinh Mùi 1487 (Hoàng giáp)

6. Vũ Hằng Trình: năm Quý Sửu 1493

7. Vũ Cán: năm Nhâm Tuất 1502

8. Lê Nại: trạng ăn, năm Ất Sửu 1505 (Trạng nguyên)

9. Lê Tư: năm Tân Mùi 1511 (Hoàng giáp)

10. Vũ Lân Chỉ: năm Canh Thìn 1520

11. Nhữ Mậu Tô: năm Bính Tuất 1526

12. Lê Quang Bí: năm Bính Tuất 1526

Thời Mạc: 2 tiến sĩ (1527 – 1592):

1. Vũ Tình: năm Nhâm Tuất 1562

2. Vũ Đường: năm Ất Sửu 1565

Thời Lê Trung Hưng: 19 tiến sĩ (1592 – 1787)

1. Vũ Bạt Tụy: năm Giáp Tuất 1634

2. Vũ Lương: năm Quý Mùi 1643 (Hoàng giáp)

3. Vũ Trác Lạc: năm Bính Thân 1656 (20 tuổi)

4. Vũ Đăng Long: Bính Thân 1656 (21 tuổi)

5. Vũ Công Lượng; Bính Thân 1656 (22 tuổi)

(Khoa 1656 cả nước chọn 6 tiến sĩ, riêng làng Mộ Trạch đỗ 3 tiến sĩ. Vua Tự Đức xem đến danh sách các tiến sĩ đã phê: “Nhất gia bán thiên hạ”, nghĩa là “Một nhà (hay một làng) bằng một nửa nước”)

6. Vũ Công Đạo: năm Kỷ Hợi 1659

7. Lê Công Triều: 1659

8. Vũ Cầu Hối: 1659

9. Vũ Bật Hài: 1659

10. Vũ Duy Đoán: năm Canh Thìn 1664

11. Vũ Công Bình: 1664

12. Vũ Đình Lâm: Canh Tuất 1670 (Hoàng giáp)

13. Vũ Duy Khuông: 1670

14. Vũ Đình Thiều: năm Canh Thân 1680

15. Vũ Trọng Trình: năm Ất Sửu 1685

16. Nguyễn Thường Thái: năm Quý Mùi 1703

17. Vũ Đình Ân: năm Nhâm Thìn 1712

18. Vũ Phương Đề: năm Bính Thân 1736

19. Vũ Huy Đỉnh: năm Giáp Tuất 1754

(Khoa 1775: Mộ Trạch có 2 phó bảng: hai anh em ruột là Vũ Huy Tấn và Vũ Huy Tiến)

CÁC GIA ĐÌNH KHOA BẢNG

* Có gia đình “tam đại Tiến sĩ” là: Vũ Bạt Tụy, Vũ Duy Đoán, Vũ Duy Khuông.

* Có 4 cặp cha con đều chiếm bảng vàng:

1. Vũ Bạt Tụy – Vũ Duy Đoán (thuộc Thế Khoa Đường).

2. Vũ Duy Đoán-Vũ Duy Khuông (3 đời liên tiếp với Vũ Bạt Tụy).

3. Vũ Lương – Vũ Đình Lâm

4. Lê Đỉnh – Lê Quang Bí

* Có gia đình 5 ông cháu có tên khắc trên bia đá Văn Miếu:

1. Vũ Hữu đỗ Hoàng giáp năm 1463

2. Vũ Lương đỗ Hoàng giáp năm 1643

3. Vũ Đình Lâm đỗ Hoàng giáp năm 1670

4. Vũ Trọng Trình đỗ Tiến sĩ năm 1685

5. Vũ Đình Ân đỗ Tiến sĩ năm 1712

Hiện nay ở Mộ Trạch vẫn còn lưu truyền câu đối sau để khích lệ các thế hệ:

“Tổ phụ tử tôn tiến sĩ đệ

Thiên địa nhật nguyệt Thế Khoa Đường”

(Nhà thờ Thế Khoa Đường – chi 5)

TRẠNG DÂN GIAN (hay DÂN PHONG) của LÀNG MỘ TRẠCH

Mộ Trạch có 05 người có biệt tài: Lê Nại (Trạng Chữ kiêm Trạng Ăn), Vũ Hữu (Trạng Toán), Vũ Huyến (Trạng Cờ), Vũ Phong (Trạng Vật) và Vũ Cương Trực (Trạng Chạy).

* TRẠNG TOÁN – VŨ HỮU (1443 – 1530) [Đời 5, Thủy tổ chi 5 trong Tiền Ngũ Chi), đậu hoàng giáp năm 1463. Đời Lê Hiển Tông ông làm quan đến Lễ bộ Thượng thư (tước hầu) và được nhà Mạc phong Thái Bảo (đi cầu phong cho Mạc Đăng Dung làm An Hưng Vương).

Vũ Hữu rất ham thích và có biệt tài về toán học. Bên cạnh Lương Thế Vinh, Vũ Hữu là một ngôi sao sáng trong lịch sử toán học nước ta. Ông đã hệ thống hóa hình học, sổ học, viết thành sách toán học nổi tiếng “LẬP THÀNH TOÁN PHÁP” Vua Lê khen là “Thần Toán” ban cho 100 mẫu ruộng. Sách này sau được Vũ Quỳnh, người cùng làng, soạn lại, gọi là “Đại Thành Toán Pháp”. Sử ghi rằng khi tu bổ thành Thăng Long, ông Vũ Hữu tính toán mọi chi phí và nguyên liệu, kết quả thực hiện không hề thừa thiếu 1 viên gạch. Vũ Hữu làm Thượng thư 6 bộ, qua 7 đời vua từ Lê Sơ tiếp đến nhà Mạc, thọ 87 tuổi. Cả đời làm quan liêm khiết được người đời mến phục. Con cháu của ông nhiều người đỗ đại khoa: Hoàng giáp, Tiến sĩ. Hiện nay văn miếu Quốc Tử Giám Hà Nội còn bia đá khắc tên ông và 5 người cháu của ông.

* TRẠNG CỜ – VŨ HUYẾN [Đời 8, chi 3 (Tiền Ngũ Chi)] cháu Hoàng giáp Vũ Đôn (đời 6, chi 3 (Tiền Ngũ Chi), nổi tiếng đánh cờ giỏi từ ngày còn bé. Thuở ấy có viên chánh sứ Tàu vốn là tay chơi cờ có tiếng, thách thức vua ta đấu cờ. Vũ Huyến tổ chức đánh cờ ngay giữa thanh thiên bạch nhật nơi sân rồng, chỉ có 2 người cầm lọng đứng hầu mỗi bên. Trận đấu kết thúc, viên chánh sứ Tàu thua vua ta luôn 3 ván. Số là Vũ Huyến, giả làm lính hầu cầm lọng cho vua. Trên chiếc lọng có lùi sẵn một lỗ để ánh sáng lọt qua chiếu thẳng xuống bàn cờ thành 1 chấm sáng nhỏ, ánh sáng chiếu vào quân cờ nào thì vua đi quân cờ ấy, ánh sáng đi đến đâu thì đặt quân cờ đến đi đến đó. Nhờ thế vua ta đã thắng và ban sắc phong Vũ Huyến là Trạng Cờ cùng ban thưởng nhiều vàng bạc, châu báu.

* TRẠNG VẬT – VŨ PHONG [đời 5, Thủy tổ chi 5 trong Tiền Ngũ Chi], dáng người thấp lùn, chân tay ngắn cũn cỡn (tướng ngũ đoản) nhưng có những động tác nhanh như cắt và thân hình, chân tay mềm dẻo uyển chuyển như mèo. Nghe nói ở kinh đô có tổ chức hội vật, Vũ Phong liền khăn gói lên xem chơi. Sới vật được trang hoàng lộng lẫy, cờ xí, tán lọng rợp trời vua cũng thân chính tới dự vì là buổi kết thúc. Vũ Phong nhìn lên sới vật thấy một người cao lớn, bắp thịt cuộn lên như những đoạn dây thừng khổng lồ, đương đi lại dương dương tự đắc như thách thức mọi người. Vũ Phong bước thẳng đến trước mặt vua, quỳ tâu xin được tỷ thí với đô vật đương kim vô địch đang trên sới. Nhà vua và quần thần đều phì cười khi nhìn thấy Vũ Phong dáng người loắt choắt không bằng nửa đô vật kia và khuyên can không nên rồ dại. Vũ Phong cứ khăng khăng đòi tỉ thí. Cuối cùng vua cũng chuẩn tấu. Ba tiếng trống lệnh vừa dứt, Vũ Phong cúi thấp người xuống, bất ngờ luồn qua háng đối thủ, lấy vai đội hẳn y lên và bằng một động tác thuần thục quật ngã y xuống sàn. Rồi nhanh như cắt, Vũ Phong nhảy tót lên bụng đối thủ, dồn hết sức lực vào cánh tay như hai gọng kìm sắt, đè dí hai vai đối thủ xuống sàn. Sự việc xảy ra quá nhanh khiến mọi người ngỡ ngàng kể cả quan chủ khảo. Nhà vua rất hoan hỉ, sắc phong cho chàng làm Trạng Vật và ban cho chức Cẩm y vệ úy Chỉ huy sứ.

* TRẠNG CHỮ kiêm TRẠNG ĂN – LÊ NẠI

Lê Nại (còn gọi là Lê Đỉnh) thuở nhỏ rất chăm chỉ học hành. Năm ông 27 tuổi, đi thi đỗ ngay Giải nguyên nên được quan Thượng thư Vũ Quỳnh là người cùng làng mến, gọi gả con gái cho. Nhà quan Thượng thư nhiều sách vở nên Lê Nại được ông cho sang ở để tiện tra cứu học hành. Nhưng suốt từ ngày ở rể Lê Nại chỉ vào ra thơ thẩn chứ không để ý gì tới sách vở cả. Cụ Thượng rất lấy làm lạ, mới sang hỏi ông thân sinh của chàng rể: “Tôi thường nghe nói cậu ấy chăm chỉ học hành, thế mà sao từ khi sang bên nhà tôi thì không hề thấy cậu nhìn gì tới sách vở?” Thân phụ Lê Nại bèn hỏi lại: “Thưa bác, vậy từ ngày cháu sang bên quý phủ thì sự ẩm thực (ăn uống) thế nào?” Cụ Thượng đáp: “Theo lối thanh đạm của nhà nho thì mỗi bữa ăn cũng chẳng mấy tí”. Phụ thân ông cười đáp: “Sức ăn của cháu nó khác với người thường, thế mà tướng công cho ăn ít ỏi vậy, hoặc giả cháu chưa vừa lòng mà không dám nói?”

Cụ Thượng nghe ông thông gia thực thà nói vậy, nên về dặn vợ cứ mỗi bữa tăng gấp đôi suất ăn cho rể. Bắt đầu từ đấy Lê Nại mới cầm sách đọc qua vài lượt. Khi nấu lên nồi ba thì Lê Nại học đến nửa đêm. Bấy giờ, cụ Thương mới biết con rể của mình quả là người khác thường, từ đó cụ bắt người nhà cứ lấy nồi năm để nấu cho con rể ăn. Quả nhiên Lê Nại ăn đủ, nên học suốt đêm không hề chợp mắt, lại thường ngâm nga tán tụng mình rằng:

Mộ Trạch tiên sinh, ăn khỏe nổi danh

Mười lăm bát cơm, mười hai bát canh

Khôi nguyên chiếm bảng, trên cả quần anh

Bởi nhiều súc tích, nên phát tung hoành.

Thế rồi đến khoa thi Ất Sửu (1505) triều Lê Uy Mục, ông thi Hội chiếm bảng, vào thi Đình liền đỗ Trạng nguyên. Sau đó làm quan lên đến chức Tả thị lang bộ Hộ. Người ta thường đồn đại về ông, yêu mến nên gọi là Trạng Ăn hay Trạng nguyên Cơm.

* TRẠNG CHẠY – VŨ CƯƠNG TRỰC

Phả của phái Đinh họ Vũ làng Mộ Trạch chép: đời thứ 2 của phái có Vũ Cương Trực còn có tên là Khổng cùng 3 người bạn trong làng là Trấn, Đống, Đột chơi với nhau rất thân. Ngày ngày thường tập chạy đuổi nhau, cả làng không ai chạy nhanh bằng. Làng gọi là 4 kẻ hào. Ông Khổng có sức trội hơn. Bấy giờ có quốc cữu, cậu của vua nhà Mạc ở Dương Kinh, Cổ Trai, Kiến Thụy mỗi khi về kinh đô Thăng Long, qua quán Tuyển Cử thường bắt dân làng phải cử người ra thay phu khiêng võng. Bốn kẻ hào làng Mộ Trạch xin đi khiêng võng định tâm cho quốc cữu một bài học để chừa thói hống hách, dọa nạt dân thường. Được làng cử lên quán Tuyển Cử, bốn phu khiêng võng vừa để đòn lên vai đã rảo bước rồi chạy như bay bỏ xa toán lính hầu. Đến chợ Đan Thi tổng Trường An, huyện Đường Hào bên đường có một chiếc giếng cổ. Bốn người khiêng quốc cữu đến gần giếng, Vũ Cương Trực cất lên tiếng hát: “Dênh dang là cái dênh dang” như một hiệu lệnh, bốn người cùng lấy đà hất quốc cữu xuống giếng và quát to: “Mát chăng hở cậu”. Đoạn bốn người bỏ chạy như bay. Quốc cữu suýt chết đuối, lóp ngóp mãi mới bò lên được bị ướt như chuột và ra sức kêu lính đến nhưng lính hầu vẫn còn ở rất xa. Quốc cữu được một phen hú vía từ đó không dám hạch sách dân làng bên đường nữa. Từ đó dân làng gọi Vũ Cương Trực là “Tẩu Trạng nguyên” (Trạng Chạy).

Nữ Danh Nhân của Mộ Trạch

Về thời Lê – Trịnh làng Mộ Trạch có 3 bà nổi tiếng:

1. Bà Vũ Thị Thứ (còn có tên là Thầm) chính thất cử nhân Vũ Quốc Sĩ, sinh 5 con trai. Nhà nghèo. Ông bà không ở làng, gánh con, đi bộ lên ở phố Đình ngang rồi trọ ở chùa Báo Thiên. Ông mở trường dạy học, bà buôn bán tần tảo, nuôi dạy 5 con trai, cả 5 đều làm nên sự nghiệp, có nhiều công tích trong sự nghiệp bảo vệ đất nước đó là: Vũ Tự Khoái, Vũ Duy Chí, Vũ Bạt Tụy, Vũ Phương Trượng, Vũ Cầu Hối. Ông Sĩ là khởi tổ của Hậu Ngũ Chi.

2.Vũ Thị Vàng (Mộ Trạch) nuôi dạy ba con: một đỗ Trạng nguyên, một Tiến sĩ, một Cử nhân v.v..

3. Bà Lê Thị Oanh con gái Tiến sĩ Lê Công Triều, bà học rất thông minh. Triều đình không cho nữ đi thi. Bà mở trường dạy học. Học trò của bà nhiều người đỗ Cử nhân, Tú tài và Tiến sĩ.

4. Bà Nhữ Thị Nhuận, con gái Chiêm sứ đốc dung công Nhữ Tiến Duyệt, cháu Thượng thư Thái phó Nhữ Đình Hiền. Bà là vợ Cử nhân Vũ Phương Đẩu, bà nuôi dạy hai con gái: Vũ Thị Vực lấy Đại tướng quân Phạm Ngô Cầu, Vũ Thị Diễm lấy Tiến sĩ Bồi tụng Vũ Miên. Bà được chúa Trịnh Doanh giao cho vào Thanh Hóa để mua quế, về chữa bệnh cho nhà vua, với hai vạn quan tiền mua quế. Thấy dân đói, bà phân phát cả cho dân. Sau bà lấy tiền của nhà đi mua quế cho vua. Hai năm sau có quốc mẫu của triều Thanh, dùng quế của chúa Trịnh đưa sang cống. Quốc mẫu nhà Thanh khỏi bệnh, phong cho bà: “Lưỡng quốc quế hộ, thượng quận phu nhân”. Nhân đấy, chúa Trịnh phong cho bà: “Đốc dung công, chức hiển cung đại phu”, giữ chức Chiêm sử viện. Lại ấn phong cho thân mẫu bà là: “Lê Thị, chức cẩn phu nhân” và phong chồng bà là “Hiển cung đại phu, chiêm sử viện”.

Bà có công lớn trong việc dụ dân nổi loạn vì đói kém, mất mùa ở Thanh Hóa. Vùng bà trước đi mua quế, quân triều đình dẹp mãi không yên. Bà tình nguyện xin đi dẹp loạn, lúc đầu vua không tin sau thấy bà nhất định xin đi – triều đình mới chấp thuận và vua ban cho thanh phương kiếm, một lá cờ tuyết mao, 500 người, ngựa, lương thực, lá cờ lớn đề ba chữ “Nhữ thị Nhuận”. Quân bà đi đến rừng ngang, dân trông thấy ba chữ trên cờ hò reo: “Mẹ ta, mẹ ta, thương xót ta cũng chính là người ấy!”. Nhân dân kéo ra chào mừng bà. Bà mở tiệc chiêu đãi suốt 3 ngày và khuyên dân trở về làm ăn, nói với các tù trưởng quy thuận triều đình, chức không mất, dân được yên, mẹ làm được việc cho triều đình, thế là cả vùng tránh được tai họa đầu rơi, máu chảy. Sau việc này, vua ban thưởng cho bà 20 mẫu ruộng làm ruộng lộc điền. Năm 1757, bà bỏ tiền ra hàng nghìn quan xây dựng đình làng Mộ Trạch. Đình làm xong không nhận tiền của ai đóng góp. Có Tiến sĩ đến xin góp tiền bà cười và bảo: “Xin đa tạ, đợi khi thiếu sẽ tính sau”. Bà còn đem 10 mẫu ruộng công đức, để lấy hoa lợi làm lễ cúng tế hàng năm. Tính bà rất hào hiệp, khẳng khái. Dân làng kính trọng bà và phong bà là Hậu thần. Đình làng còn bia đá ghi công bà. Mộ bà bên cạnh mộ Thần tổ Vũ Hồn trong địa phận Mả Thần.

MẸ của DANH NHÂN

Những người con gái họ Vũ (chưa có chứng cớ thuộc gốc Vũ Hồn Mộ Trạch) xuất giá, làm mẹ, đã sản sinh cho các thế hệ những người con danh tiếng:

1. Vũ Nương Nương (Vụ Bản, Nam Định) sinh ra Trần Nhật Duật. 2. Vũ Thị Tính (Thuận Thành) sinh ra Nguyên phi Ỷ Lan.

3. Vũ Thị Hạch sinh ra Nguyễn Biện, Nguyễn Xí hai tướng nhà Lê. 4. Vũ Thị Ngọc Lễ sinh ra chúa Trịnh Căn.

5. Vũ Kim Chi sinh ra Đào Duy Từ.

THẦY THUỐC GIỎI

* Các thầy thuốc Đông y giỏi họ Vũ – Mộ Trạch:

Triều Lê sơ, Mộ Trạch có 5 thầy thuốc giỏi nổi tiếng:

1. Vũ Tấn (thư mạc, cử sĩ) anh của Vũ Hữu (Trạng Toán).

2. Vũ Toàn Trai, làm thái y viện chánh ngự y, chăm sóc sức khỏe cho vua.

3. Vũ Tế Hiến: thái y viện, phó ngự y vua Lê Tương Dực.

4. Vũ Tiến Trai: làm Tế sinh đường khán chẩn.

5. Vũ Đức Thiện: chức Nghệ An đạo Thái bộc tự khanh, thầy thuốc có tiếng của vua Lê Cung Hoàng.

Các quan võ làng Mộ Trạch

* Danh sách các quan võ làng Mộ Trạch:

1. Vũ Nạp: (phó tướng của Trần Quốc Bảo) 3 lần chống quân Nguyên Mông năm 1288 – chiến thắng Bạch Đằng Giang – bắt Ô Mã Nhi.

2. Vũ Chí Thắng: đi theo Trần Quốc Toản – vẽ bản đồ chiến trận, ghi địa hình, sông núi, mức nước…

3. Vũ Nguyên: Tham gia quân của Hưng Đạo Vương.

4. Vũ Hán Bi: Dẹp Chiêm Thành được phong Tả tướng công.

5. Lê Thiếu Dĩnh – Lê Thúc Hiển: Hai anh em tham gia khởi nghĩa của Lê Lợi – Nguyễn Trãi: đánh quân Minh (1427).

6. Vũ Dự: Do việc Lê Nghi Dân giết vua Lê Nhân Tôn để cướp ngôi, Vũ Dự đã cùng một số người diệt bọn làm phản, trả lại ngôi báu cho Lê Thánh Tông (1460).

7. Vũ Trác Oánh xưng Minh Công cùng Nguyễn Tuyển và Nguyễn Cừ, Nguyễn Hữu Cầu phù Lê chống Trịnh (1527 – 1528).

8. Vũ Quỳnh, Tiến sĩ kiêm võ quan.

9. Vũ Phong, Cẩm uy vệ có công đánh Chiêm Thành.

10. Vũ Duy Chí Tể tướng.

11. Vũ Duy Hài dẹp giặc ở Đầm Hồng.

12. Vũ Bật Nại: võ tướng.

13. Nguyễn Thế An: đánh giặc Trần Cao.

14. Vũ Huy Chí: tế thế kinh bang, đánh Mạc.

15. Vũ Huy Liễu: được phong tước quận công.

16. Vũ Đặng Dụ: võ tướng.

17. Vũ Xuyền: tướng đánh quân Xiêm.

18. Vũ Xứ: võ tướng.

19. Vũ Vĩnh Phu (con Vũ Hữu, chắt ngoại của Phạm Ngũ Lão).

20. Vũ Vĩnh Tiến (con Vũ Vĩnh Phu).

21. Vũ Duy Uy: võ tướng của Lê Lợi.

22. Vũ Đức Phong: võ tướng.

23. Vũ Đình Trác: võ tướng.

* TƯỚNG QUÂN VŨ NẠP

Vũ Nạp (còn có tên Vũ Nại) sinh ở làng Mộ Trạch, huyện Đường An, phủ Hồng Châu, trấn Hải Dương. Ông là cụ tổ họ Vũ làng Mộ Trạch (con cháu cụ Vũ Hồn). Ông đỗ Tam giáo (thời ấy chưa có Tiến sĩ) khoa Ất Tỵ (đi thi lấy tên là Vũ Vị Phu). Ông có 2 bà:

– Bà cả người làng Mộ Trạch, sinh hai trai là Vũ Nghiêu Tá, Vũ Hán Bi (Vũ Nông). Hai anh em đỗ tiến sĩ đồng khoa năm Giáp Thìn, đời Trần Anh Tôn.

– Bà hai là Ngô Thị Ngại, người làng Tràng Kênh nay là thị trấn Minh Đức, Thủy Nguyên, Hải Phòng, sinh 2 con trai. Con cả là Vũ Đại nên Vũ Nạp còn gọi là Vũ Đại (lấy tên con trai cả).

Ông Vũ Nạp làm quan đời Trần Thái Tôn với chức Tăng thống, Hàn lâm viện (1247 – 1258). Thời gian này tướng quân Trần Quốc Bảo được Quốc Bảo và đã ba lần tham gia chống quân xâm lược Nguyên Mông. Khi chủ tướng Trần Quốc Bảo bị thương và mất, ông đưa thi hài tướng quân Trần Quốc Bảo về chôn cất rồi tiếp tục thay thế Trần Quốc Bảo chỉ huy đội quân của mình trong trận quyết chiến Bạch Đằng giang, bắt hai tướng giặc là Trương Văn Hổ và Ô Mã Nhi (năm 1288).

Sau trận này ông Vũ Nạp được phong “Đồng giang hầu tá tướng quân”. Ông về nghỉ ở quê thứ hai và mất ngày 4 tháng 1 âm lịch. Mộ ông ở ven sông Thái, làng Tràng Kênh, hiện nay còn đền thờ.

* Vũ Quỳnh (1452 – 1516). [Cụ tổ phái GIÁP]: văn võ toàn tài, là người hiếu thảo uyên bác, 26 tuổi đỗ Hoàng giáp khoa Mậu Tuất (1478), làm quan đến Thượng thư bộ Công, bộ Lễ, bộ Binh, kiêm Quốc Tử Giám tư nghiệp, sử quán tổng tài:

– Nhà sử học: Hoàng giáp Vũ Quỳnh là nhà sử học xếp hàng thứ tư sau Lê Văn Hưu (Đại Việt Sử Ký, 1272), Phan Phù Tiên (Đại Việt Sử Ký tục biên (1455)) và Ngô Sỉ Liên (Đại Việt Sử Ký toàn thư, 1479). Năm 1511 Vũ Quỳnh với cương vị sử quán Đô tổng tài, vâng lệnh vua Lê Tương Dực soạn bộ “Đại Việt thông giám thông khảo” thường được gọi tắt là “Đại Việt thông giám” (tựa của Nguyễn Công Trứ) hay “Việt giám thông khảo”, chép từ Hồng Bàng đến năm đầu Lê Thái Tổ gồm 26 quyển. Nguyễn Công Trứ cho biết qua lời tựa của ông bộ sử của Vũ Quỳnh chép từ Hồng Bàng đến 12 sứ quân, tách làm ngoại kỷ, từ Đinh Tiên Hoàng đến Lê Thái Tổ Cao Hoàng Đế bãi triều đại định thiên hạ làm bản kỷ (khác quan điểm với Ngô Sĩ Liên). Sở dĩ Vũ Quỳnh lấy triều Đinh mở đầu phần bản kỷ vì Đinh Tiên Hoàng đã “thống nhất bờ cõi” sáng chế triều nghi, định lập quân đội – vua chính của nước Việt ta bắt đầu từ đây.

– Nhà Văn: “Lĩnh Nam trích quái” nguyên của Trần Thế Pháp sưu tầm biên soạn các truyện dân gian trong thời Lý và Trần. Bản “Lĩnh Nam trích quái” hiện nay do Vũ Quỳnh và Kiều Phú sửa chữa lại sách gồm 22, 23 tập chép lại các truyện cổ dân gian.

Nhà Toán Học: “Đại hành toán pháp” trước tiên là “Lập thành toán pháp” do Vũ Hữu soạn, sau Lương Thế Vinh định lại và Vũ Quỳnh chỉ là người soạn lại sách này.

Nhà Thơ: Phan Huy Chú khen thơ của Vũ Quỳnh: “Lời thơ thanh thoát, đọc lên rất hay”.

Võ Tướng: Làm quan đến Binh bộ Thượng thư, gặp lúc có giặc, ông bị hại. Con rể ông là Trạng nguyên Lê Nại, trong bài văn tế ông, có những câu sau:

“…khi làm quan ở Đông Hải lấy ân huệ tín nghĩa phủ dụ dân chốn biên xa.

Hồi trấn giữ miền Bắc Bình thế thận trọng bình tĩnh dẹp yên nạn giặc biên giới…

…khi giữ chức Tổng tài quốc sử lại cặm cụi như Hồ Hán dốc chí tu soạn sách Xuân Thụ.

Cớ sao Hoàng Thiên chẳng chiều lòng, để đến nỗi đêm đen bỗng lâm vào hoạn nạn.

Rường nhà gãy khiến kẻ sĩ trong thiên hạ bao người thốt lời thương tiếc.

Tấm gương vỡ đến nhà vua chốn cửu trùng cũng phải than thở xót xa”.

* Tạo sĩ họ Võ Tá làng Hà Hoàng gốc Mộ Trạch: Võ cũng có Cử nhân Tiến sĩ (Tiến sĩ võ = Tạo sĩ). Trong quá trình 500 năm (các đời Trần, Hồ, Lê, Mạc) và sau này là nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn đều có các kỳ thi Tạo sĩ, Cử võ rất nhiều chưa có thống kê đầy đủ. Nhưng riêng trong thời gian 60 năm dưới thời Hậu Lê (1725 – 1785) mở 19 khoa thi Tạo sĩ, đậu được 122 người trong đó họ Vũ (Võ) 20 người, nhưng riêng họ Võ Tá làng Hà Hoàng huyện Thạch Hà (gần thị xã Hà Tĩnh) Nghệ Tĩnh có tới 16 người đậu Tạo sĩ. Chi họ Võ Tá này có nguồn gốc ở Hoa Đường và Mộ Trạch, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, Hải Dương.

Vùng Thanh Nghệ có câu: “Trảo Nha chi Ngô, Thạch Hà chi Vũ” (họ Ngô ở Trảo Ngô, họ Vũ ở Thạch Hà) và tôn vinh dòng họ Võ Thạch Hà “Thạch Hà thế tướng” có nghĩa dân Thạch Hà đời đời làm tướng. Gia phả họ Võ Tá Hà Hoàng có ghi chép hơn 36 vị võ tướng có võ công hiển hách trong đó có tới 20 quận công thời Hậu Lê.

Nhà thờ họ Võ Tá, Thạch Hà, Hà Tĩnh; trong 60 năm mở khoa thi Võ,

họ Võ Tá có 16 người đậu Tiến sĩ Võ (Tạo Sĩ)

Xin nhắc lại sơ qua về:

* Học Vị Tạo sĩ:

Tạo sĩ là học vị cao nhất về võ khoa đời xưa. Đây là Tiến sĩ Võ và cũng phải trải qua các khoa thi võ nghệ từ thấp lên cao, thường phải đậu Sơ cử (tức là Cử nhân Võ) xong mới được vào thi Bác cử để lấy Tạo sĩ. Qua các kỳ thi Sơ cử (Cử Võ) và Bác cử cũng phải thi viết lý thuyết khá gay go. Do đó Tạo sĩ khá giỏi về chữ nghĩa văn hóa mới đọc được binh thư, kinh điển và làm được văn bài sát hạch trong khoa thi Tiến sĩ Võ. Vì thế, Tạo sĩ tuy rất giỏi thập bát ban võ nghệ và trải qua nhiều pha thi đấu các loại binh khí và được xếp vào hàng võ nghệ cao cường, triều đình và binh bộ còn bắt các thí sinh phải lầu thông kinh sử, binh pháp và sách Tứ Thư, Ngũ Kinh, Bắc Sử, Nam Sử, bằng cách trả lời qua văn bài các câu hỏi rất chi tiết về chính trị, quân sự thời xưa và hiện tại rất ngặt nghèo để thử tài kiến thức, văn hóa của thí sinh võ. Ai có giỏi chữ nghĩa, thông hiểu các sách Tôn Ngô binh pháp, Hổ Trướng xu cơ, Binh thư yếu lược, Kinh, Sử, Tử, Tập,… mới viết được các bài văn nghị luận có cơ sở võ lược, chính trị, quân sự xuất sắc. Như thế Tạo sĩ đời hậu Lê cũng như triều Nguyễn (thế kỷ XVIII – XIX) là các bậc văn võ kiêm toàn. Đậu Tạo sĩ xong thường trở thành các tướng lĩnh và giữ chức vụ quan trọng ngoài biên ải, các trấn, doanh hoặc võ quan cao cấp trong triều đình. Do đó, Tạo sĩ cũng được rước vinh quy bái tổ long trọng không kém gì Tiến sĩ. Tên tuổi cũng được ghi vào sử sách, khắc vào bảng đồng ở Võ miếu để lưu danh muôn đời sau. Nhưng xưa kia, trong xã hội Nho học, thường có quan niệm và thành kiến “trọng văn khinh võ” nên đã có ca dao:

“Văn thì ngũ phẩm đã sang

Võ thì tam phẩm còn mang gươm hầu.”

Các nhà ngoại giao xuất sắc của làng Mộ Trạch:

– Lê Thiếu Đĩnh đi sứ nhà Minh.

– Vũ Cán sinh năm 1474, đậu Hoàng giáp năm 1502, đi sứ nhà Minh với Vũ Tính. Khi về được thăng Lễ bộ Thượng thư, tác giả Tùng Hiên thi văn tập.

– Lê Quang Bí, đi sứ nhà Minh. Khi đi còn tóc còn xanh, khi về đầu đã bạc trắng. Mạc Mậu Hợp xét lòng trung kiên phong chức Thượng thư, tước Tổ xuyên hầu (ví như Tô Vũ đi sứ Hung Nô).

– Vũ Bật Hải đậu Tiến sĩ năm 1654, đi sứ sang Tàu, lúc về làm đến Lại bộ tả thị lang, sau được tăng Thượng thư, tước bá, tác giả “Vũ tộc khoa hoạn phả ký”.

– Hai cha con cùng đi sứ nhà Thanh, Vũ Huy Đĩnh thời Lê Hiển Tôn đi sứ nhà Thanh. Sau đến con là Vũ Huy Tấn thời Tây Sơn – Nguyễn Huệ (1778 – 1802) đi sứ nhà Thanh 2 lần.

Sử sách chép lại như sau:

Xuân Canh Tuất (1790) sứ bộ nước Nam gồm giả vương (Phạm Quốc Trị, cháu Nguyễn Huệ đóng vai vua Quang Trung), Quang Thùy (con trai thứ của Nguyễn Huệ) cùng Ngô Văn Sở, Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn, được Phúc An Khang, tổng đốc Lưỡng Quảng hộ tống sang triều kiến vua Thanh. Cuộc tiếp đón cực kỳ long trọng (mỗi ngày nhà Thanh tiêu tốn 4 ngàn lượng bạc để cung ứng thuyền bè, xe ngựa, phu hầu, yến tiệc cho sứ bộ ta…). Cuối cuốn Tinh Sa kỷ hành (tờ 5) của Phan Huy Ích thuật lại: “…chuyến đi sứ này được vua Càn Long nhà Thanh đặc cách cho quan tổng đốc Lưỡng Quảng đi bạn tống. Thuyền, xe, cờ, quạt choáng cả tai mắt. Đi tới đâu quan lại phải bôn tẩu đón tiếp đến đó, muôn phần vinh hiển. Mùa thu năm Canh Tuất (1790) đến hành cung ở Nhiệt Hà, lại theo xa giá vua Thanh về Yên Kinh, đi Tây Uyển. Trước giờ người mình đi sứ Tàu chưa có lần nào vẻ vang lạ lùng như vậy. Vua Càn Long và triều đình nhà Thanh tiếp sứ bộ Việt Nam vô cùng long trọng. Vua Thanh chế sẵn áo mũ, in sẵn các phẩm ngự tặng, gửi từng quả vải, long sâm, cùng các thứ quà cáp tặng đoàn ta. Hôm phái đoàn về, vua Thanh mở tiệc chiêu đãi, tự mình rót rượu, mời hai vị quan Việt Nam là Vũ Huy Tấn và Phan Huy Ích. Đó là việc chưa từng thấy trong lịch sử bang giao của Trung Quốc.

Về nước nhà, sau khi bái yết vua Quang Trung ở Phú Xuân (Huế) Vũ Huy Tấn đem mũ áo vua Càn Long ban cho cúng thành hoàng làng, áo mũ ấy còn đến CCRĐ (cải cách ruộng đất) năm 1955. Vũ Huy Tấn còn làm bài “Văn tế tướng sĩ phương bắc, chết trận Đống Đa ngày 5 tháng giêng âm lịch” nổi tiếng.

Theo gia phả họ Vũ do Vũ Đình Thứ:

Gia phả họ Vũ do Vũ Đình Thứ, cháu 3 đời của Vũ Văn Dũng, soạn năm Bính Ngọ (1870) có chép việc vua Quang Trung sai sứ đem sắc mệnh này cho Đại đô đốc Vũ Văn Dũng, tạm dịch như sau:

Sắc sai Đại đô đốc Đại tướng quân công thần Vũ Quốc Công làm chính sứ đi nước Bắc kiêm toàn quyền trong việc xin lại hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây để dò ý, cầu hôn một vị công chúa để chọc giận. Cẩn thận đấy! Cẩn thận đấy! (thậm chi! thậm chi!). Hình thế dụng binh ở chuyến đi này cả . Mai đây làm tiên phong chính là khanh đấy. Khâm tai! Sắc mệnh.” (Quang Trung tứ niên, tứ nguyệt, thập ngũ nhật, 1791).

Cứ theo gia phả họ Vũ thuật lại thì năm Nhâm Tí (1792) phái bộ Vũ Văn Dũng sang Tàu và bệ kiến vua Kiền Long (nhà Thanh) để tâu xin hai việc đó. Vua Kiền Long (hay Càn Long) châu phê giao đình nghị rồi sau chỉ ưng cho một tỉnh Quảng Tây để làm đất đóng đô thôi còn việc xin cưới công chúa thì vua Thanh chấp thuận sai bộ Lễ sửa soạn nghi lễ, định ngày cho công chúa sang Nam đẹp duyên với Quốc Vương. Nhưng sau đó, Vũ Văn Dũng nhận được tin chẳng lành: vua Quang Trung băng hà! Vì vậy, mọi việc đều lỡ làng, bọn Dũng ôm hận trở về. Việc khôi phục Lưỡng Quảng tan theo giấc xuân mộng của nàng công chúa Mãn Thanh.

Người làng Mộ Trạch làm quan tại triều đình

Có thể không nói ngoa rằng trải suốt hơn 5 thế kỷ từ triều Trần qua triều Lê, triều Mạc đến thời vua Lê – Chúa Trịnh, các bậc anh tài làng Mộ Trạch (đa số họ hàng ruột thịt họ Vũ hay rể của họ Vũ) từng ra vào, giáp mặt nhau như “cơm bữa” tại triều đình. Xin đơn vị vài trường hợp như:

* Vũ Quốc Sĩ có 5 con trai thì cả 5 cùng làm quan to trong triều vua Lê – Chúa Trịnh; em trai thứ hai là Vũ Bạt Tụy đỗ Đình nguyên Hoàng giáp, con trai thứ năm là: Vũ Cầu Hối đỗ Tiến sĩ, con trai thứ ba là Vũ Duy Chí tuy không đỗ Tiến sĩ nhưng làm tới chức Tể tướng dưới hai triều vua Lê, tổng cộng 10 năm trời (Hiện nay anh Vũ Trọng Chính, hậu duệ đời thứ 19 của Vũ Duy Chí vẫn còn giữ tấm bia do đại học Tiến sĩ Hồ Sĩ Dương, chú ruột bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương, soạn năm 1682)

* 2 chú cháu Vũ Cầu Hối và Vũ Bật Hài đỗ Tiến sĩ cùng một khoa và làm quan cùng 1 triều.

* 3 đời đều đỗ Hoàng giáp, Tiến sĩ và làm quan dưới triều vua Lê Thần Tôn, đó là Hoàng giáp Vũ Bạt Tụy (ông), Tiến sĩ Vũ Duy Đoán (cha) và Tiến sĩ Vũ Duy Khuông (cháu). Vua phục tài 3 ông cháu, phong là dòng họ 3 chữ vàng “Thế Khoa Đường”.

* Thời Lê Trung Hưng có tới 18 người giữ những cương vị lớn. Văn thì vào bậc thái sư, thái phó. Võ thì có Vũ Tự Khoái Trung quận công, Vũ Huy Chí Phương quận công, Vũ Phương Trượng Hương quận công cùng Vũ Đăng Dụ và 20 võ tướng khác đã từng dẹp giặc Chiêm Thành và chống xâm lược phương Bắc.

Thời đó người ta thường nói: “Làng Mộ Trạch họp làng tại Kinh đô”

Truyền thống làm thầy giáo của họ Vũ

Nhà giáo Vũ Hồn là một trong những nhà giáo đầu tiên của đất nước Việt Nam. Ông đã mở trường dạy học ở ấp Khả Mộ, 227 năm trước trường Quốc Tử Giám ở Thăng Long (1070); 487 năm trước trường học của thầy giáo Chu Văn An (1330).

Do con cháu họ Vũ (Võ) được Thủy Tổ truyền nghề dạy học và do truyền thống hiếu học trong dòng họ, nên trong lịch sử thi cử gần 1000 năm thời Hán học (từ 1070-1979), dòng họ Vũ (Võ) trên toàn quốc có 5 trạng nguyên, 1 Bảng nhãn, 7 Thám khoa và 166 Tiến sĩ. Trong số đó có 10 vị họ Vũ đỗ đầu tất cả các khoa thi. Con cháu của ông Vũ Hồn vẫn luôn luôn mang gien di truyền: “Nghề dạy học” có trong dòng máu, do đó đã có nhiều thầy giáo nổi danh trong sử sách Việt Nam cận đại, trong đó có:

– Tiến sĩ Vũ Tông Phan, người cha tinh thần trong phong trào Cần vương chống Pháp, dám mở trường có đông sĩ tử và nổi tiếng ở Bắc Hà, ngay bên cạnh Hồ Gươm, Hà Nội.

– Thầy giáo Võ Trường Toản, thầy giáo đầu tiên trên đất Gia định trong lịch sử 300 năm thành lập Sài Gòn – Gia Định.

– Nhà giáo cách mạng Võ Liêm Sơn, người bạn học với thầy giáo Nguyễn Tất Thành (chủ tịch Hồ Chí Minh) tại Quốc Học – Huế. Nhà giáo Võ Liêm Sơn là thầy dạy của lớp học trò nổi tiếng: Trần Phú, Đào Duy Anh, Trương Tấn Bửu, Hà Huy Tập, Tạ Quang Bửu, Võ Nguyên Giáp.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp, từng là thầy giáo dạy Sử, dạy Văn ở trường Trung học Thăng Long, Hà Nội.

– Nhà giáo Vũ Đình Hòe, vị Bộ trưởng Giáo dục đầu tiên trong Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Quốc dân Đại hội bầu ra ở Tân Trào.

Đi thăm thực tế làng Mộ Trạch

Ngày 14 tháng 12 năm 2010, nhân chuyến về Việt Nam để khởi động công tác sàng lọc và chủng ngừa chống viêm gan B, tôi đi thăm Mộ Trạch, một làng khoa bảng của xứ Đông (Hải Dương) thể theo sự giới thiệu của GS sử học Phan Huy Lê. Đi từ Hà Nội theo đường số 5, trục Hà Nội – Hải Phòng, chừng 50 km tới ngã ba Quán Gỏi, rẽ phải đi thêm mươi, mười lăm phút xe ô tô là tới nơi. Tự hào về truyền thống khoa cử của quê hương, người Mộ Trạch đặt trên cổng làng mình tấm biển “LÀNG TIẾN SĨ” và hai bên cổng làng là hai câu đối.

“Nên thợ, nên thầy vì có học

No cơm, no mặc bởi hay làm”

(Nguyễn Trãi)

Cổng làng Mộ Trạch – xã Tân Hồng – huyện Bình Giang – tỉnh Hải Dương

Hôm nay đi trên đường làng lát gạch nghiêng đã mòn vẹt, tôi liên tưởng tới những bước chân của các ông Nghè ngày xưa khi “vinh quy, bái tổ”. Bên cạnh những nhà mái ngói vẫn còn xen lẫn những nhà lợp rạ, giữa đám du khách thành thị vẫn còn những tốp thiếu niên học sinh quần áo cũ kỹ đơn sơ. Người Mộ Trạch đã quen với nếp suy nghĩ từ ông cha để lại: “Ăn ở sao cho vừa phải, còn tất cả để dành cho học tập”.

Làng Mộ Trạch hiện còn giữ được khá nguyên vẹn đình làng, được công nhận là “Di tích lịch sử”, xây năm 1517, cạnh đó còn dấu vết mờ nhạt của “Cựu quán khảo văn” và “Kỳ anh hội lão”. Kỳ anh hội lão là chỗ sinh hoạt của các cụ hưu trong làng. Cựu quán khảo văn là nơi sơ khảo các thí sinh trong làng trước khi được phép vác lều chõng lên kinh đi thi. Các cụ trong Kỳ anh hội lão làm giám khảo cho các cuộc khảo thí đó. Bây giờ hai nơi này chỉ còn lại nền đất hoang vu còn đình làng một thời đã bị làm nhà kho cho hợp tác xã (HTX) nay mới được khôi phục.

Ngôi chùa cổ Diên Phú còn nguyên vẹn với các cây cổ thụ rễ thật lớn bò dài ra mặt đất như thể voi nằm duỗi chân. Bên cạnh là giếng cổ Long Tỉnh (Giếng Rồng) đường kính 36 mét, tường xây chung quanh. Một cái giếng to nhất và đẹp nhất tôi chưa từng thấy.

Bên trong cổng làng là khu Di tích nhà thờ Thần tổ Vũ Hồn mới xây cất xong khoảng năm 2002. Ngay trước cổng vào đặt 1 bia đá kỷ niệm:

Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Bách niên xuân khánh thọ

Thăng Long thiên tuế thịnh

Đại tướng bách niên xuân.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp vừa tròn 100 mùa xuân trong lúc cả nước cùng Hà Nội đón chào đại lễ 1000 năm Thăng Long.

Sự trùng hợp giữa ngàn năm của thủ đô Hà Nội với trăm năm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một sự kiện hiếm có và kỳ diệu trong lịch sử

Võ công truyền quốc sử

Văn đức quán nhân tâm

(GS.AHLĐ.Vũ Khiêu viết lời văn – Bia dựng ngày 8 tháng giêng năm Canh Dần, 2010)

 

 

Khu di tích gồm 2 giếng tròn, nhà bia, nhà thờ Thần tổ Vũ Hồn, nhà lưu giữ cờ biển Trạng nguyên-Tiến sĩ, tượng bán thân lưỡng quốc tướng quân Nguyễn Sơn (tức Vũ Nguyên Bác) và nhà văn Vũ Ngọc Phan cùng nhiều công trình khác. Trong số đó có một bia đá ghi việc trồng cây lưu niệm (2009) của bà Vũ Thị Phả, phu nhân Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng ủy viên BCHTW Đảng, Thứ trưởng Bộ Công An.

 

Phía ngoài cổng làng là khu Mả Thần, lăng mộ Thần tổ Vũ Hồn; công trình xây dựng khởi công ngày 02/5/2010, dự kiến khánh thành ngày 02/12 Canh Dần (2010). Nhưng lúc tôi tới thăm là ngày 14/12/2010 vẫn còn ngổn ngang gạch ngói chưa xây xong.

 

Họ Vũ từ Thần tổ Vũ Hồn-Mộ Trạch tới ngày nay

Đầu thế kỷ thứ 9, Vũ Công Huy từ quan với nhà Đường đi chu du khắp nơi, đến nước Nam thấy phong thủy một mảnh đất vùng Chí Linh, Hải Dương rất đẹp có thể “Bách nhạn hội sào”, bèn về đem hài cốt cha là Vũ Công Oanh sang táng vào kiểu đất đó, nay gọi là Đống Dờm (làng Mạn Nhuế vùng Chí Linh nay thuộc huyện Nam Sách hay Bình Giang tỉnh Hải Dương). Sau đó Vũ Công Huy lấy một người con gái 24 tuổi làng Mạn Nhuế, tên là Nguyễn Thị Đức. Hai ông bà sống ở Phúc Kiến, năm 804 sinh được một trai đặt tên là Vũ Hồn, 16 tuổi thi đình đỗ đại khoa (820), làm tới Lễ bộ Thượng thư Tả thị lang (đứng đầu các quan văn). Vì thương mẹ phải sống xa quê và nghĩ rằng: “Phụng dưỡng cha mẹ già một ngày còn hơn làm đến tam công, ông đưa mẹ già về cố hương, đất Khả Mộ để săn sóc mẹ, mở trường dạy học (nay là đình làng Mộ Trạch) bốc thuốc chữa bệnh cho dân, sống với người vợ Việt Nam.

Thế kỷ thứ 12, cháu nhiều đời của ông Vũ Hồn, ông là Vũ Nạp văn võ song toàn, làm phó tướng cho ông Trần Quốc Bảo đánh giặc Nguyên, khi ông Trần Quốc Bảo tử trận, ông Vũ Nạp lên thay và đã chỉ huy trận đánh bắt sống hai tướng Nguyên: Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp ở vùng cửa sông Bạch Đằng, khu vực huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng ngày nay. Sau đó ông Vũ Nạp cũng tử trận, hiện còn đền thờ cùng ông Trần Quốc Bảo ở huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng.

Mộ và đền thờ viễn tổ Tướng quân Vũ Nạp xây dựng

dưới chân núi Phượng Hoàng, thị trấn Minh Đúc (Tràng Kênh)

Thủy Nguyên, Hải Phòng

Ông Vũ Nạp sống vào thời nhà Trần có hai người con là Vũ Nghiêu Tá Vũ Hán Bi, hai ông này cùng thi đỗ Thái Học Sinh, ngang với Tiến sĩ (khi đó nhà Trần chưa đặt tên Tiến sĩ) vào năm 1304, vừa tròn 500 năm kể từ khi ông cụ tổ Vũ Hồn sinh ra. Từ đó trong suốt hơn 600 năm cho đến thời Nguyễn, trải qua 14 triều vua, dòng họ Vũ ở làng Mộ Trạch đã có 29 người thi đỗ Tiến sĩ, nếu tính cả 7 người không phải họ Vũ là 36 người, nhưng cũng là rể họ Vũ. Làng Mộ Trạch có gần 2500 khẩu hiện nay đã có 36 người đỗ Tiến sĩ trong các triều đại phong kiến Việt Nam. Kể từ thời nhà Lý, các triều đại phong kiến Việt Nam đã tổ chức thi cử để chọn nhân tài ra giúp nước, và họ Vũ – Mộ Trạch đã đóng góp đáng kể.

Dòng họ Vũ đã có nhiều vị Tiến sĩ có đóng góp lớn cho sự phát triển văn hóa dân tộc. Ông Vũ Hữu đỗ Hoàng giáp năm Quý Mùi 1463 đời vua Lê Thánh Tôn, khi 20 tuổi, là nhà toán học nổi tiếng, để lại tác phẩm “Đại thành toán pháp”. Sử ghi rằng khi nhà vua tu bổ thành Thăng Long, ông Vũ Hữu là người tính toán mọi chi phí, nguyên vật liệu, kết quả thực hiện không hề thừa thiếu một li. Ông Vũ Quỳnh đỗ Hoàng giáp năm Mậu Tuất 1478 khi 26 tuổi, đời vua Lê Thánh Tôn, viết cuốn: “Đại Việt thông giám”, sau này nhà sử học Lê Văn Hưu dựa vào để viết pho sử “Đại Việt sử ký toàn thư”. Ông Vũ Quỳnh còn là tác giả viết lại cuốn “Lĩnh Nam trích quái”. Con rể ông Vũ Quỳnh là Lê Nại thi đỗ Trạng nguyên năm Ất Sửu 1505 khi 27 tuổi, thời vua Lê Uy Mục. Ông Vũ Phương Đề đỗ đệ tam giáp Tiến sĩ năm Bính Thìn 1736, thời vua Lê Thần Tôn – Trịnh Giang, khi 39 tuổi, tác giả pho sách 43 tập “Công dư tiệp ký”. Vũ Duy Khuông đỗ đệ tam giáp Tiến sĩ năm Canh Tuất 1670 thời vua Lê Huyền Tôn, tác giả bộ “Toàn việt thi lục”. Vũ Duy Đoán là bố của Vũ Duy Khuông, đỗ đệ tam giáp Tiến sĩ năm Giáp Thìn 1664, thời vua Lê Huyền Tôn, viết cuốn “Liễu dinh ký”, “Tràng An tập”…Lịch sử cũng ghi lại rằng ông Vũ Dự thuộc dòng họ Vũ – Mộ Trạch vào năm 1459, đã cùng đại thần Nguyễn Xí giết bọn tham quan Phạm Bàn, Phạm Đôn, đưa vua Lê Thánh Tôn lên ngôi, mở đầu thời kỳ Hồng Đức rực rỡ nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Năm 1737 ông Vũ Trác Oánh thuộc dòng họ Vũ Mộ Trạch đã cùng Nguyễn Cừ khởi nghĩa chống lại triều đình Trịnh Giang thối nát, tham quan, ô lại và bị săn lùng tiêu diệt. Ông Vũ Trác Oánh phải lánh về Hành Thiện, Nam Hà ở ẩn, được một gia đình họ Đặng nuôi che giấu. Từ đó ở Hành Thiện xuất hiện dòng họ Đặng Vũ ngày nay.

Chẳng phải ngẫu nhiên mà vua Tự Đức phải phán: “Mộ Trạch nhất gia bán thiên hạ” (riêng làng Mộ Trạch tài năng bằng cả nửa thiên hạ). Khởi nguồn để vua Tự Đức phải “nhả” lời “vàng” ấy chính là vào khoa thi năm Bính Thân (1656), triều vua Lê Thần Tôn (chúa Trịnh Tráng), cả nước chỉ có 6 vị đỗ Tiến sĩ, thì riêng làng Mộ Trạch đã chiếm 3 vị, mà cả 3 vị này tuổi đời đều còn rất trẻ từ 20 đến 22, đó là: Vũ Trác Lạc (20 tuổi), Vũ Công Lượng (22 tuổi), Vũ Đăng Long (21 tuổi). Nghe nói khi thấy người làng Mộ Trạch đỗ nhiều, triều đình có sự ngờ vực, nên bí mật tổ chức rà xét lại việc thi cử. Triều chọn một quan giám khảo ra đề rất khó. Các “sĩ tử” phải tự đào mỗi người một cái hố sâu rồi ngồi vào trong đó để làm bài. Trên mỗi hố đều có úp một cái lồng để ngăn cách hoàn toàn giữa các thí sinh. Riêng viên quan giám khảo thì ngự trên chiếc lều cao để giám sát. Mỗi tờ thi chỉ ghi ký hiệu bí mật chứ không ghi rõ tên thí sinh. Chung cuộc thì các “sĩ tử” làng Mộ Trạch vẫn chiếm phân nửa khiến vua rất hài lòng và tin dùng. Và rồi 3 năm sau, tới khoa thi Kỷ Hợi (1659) vẫn triều vua Lê Thần Tôn – Chúa Trịnh Tạc lại có tới 4 vị làng Mộ Trạch thi đỗ Tiến sĩ: Vũ Công Đạo, sau làm quan Đô ngự sử; Vũ Bật Hài, Bồi tụng lại bộ tả thị lang; Vũ Cầu Hối, tham chính và Lê Công Triều, tham chính.

Hiện nay ở Mộ Trạch còn rất nhiều nhà thờ họ Vũ, trong đó có một nhà thờ lấy tên Thế Khoa Đường, tên do vua Lê phong tặng, để ghi lại việc có 3 người họ Vũ nối dõi liên tiếp đều là con trưởng thi đỗ Tiến sĩ. Đó là cụ Vũ Bạt Tụy, đỗ Hoàng giáp năm Giáp Tuất 1634 triều vua Lê Thần Tôn, khi ông 33 tuổi, 30 năm sau con trai cả của cụ Tụy là Vũ Duy Đoán đỗ đệ tam giáp Tiến sĩ năm Giáp Thình 1664, triều vua Lê Huyền Thôn, khi ông 27 tuổi, và 6 năm sau, con trai của cụ Đoán là Vũ Duy Khuông đỗ đệ tam giáp Tiến sĩ năm Canh Tuất 1670.

Cả dòng họ Vũ chỉ có 1 Thế Khoa Đường, nhưng lại có 2 Ngũ Chi. Tiền Ngũ ChiVũ Bá Khiêm, cháu 4 đời Vũ Nạp, sinh 5 người con đều đỗ tiến sĩ và làm quan to trong triều, trong đó có Vũ Hữu là Trạng Toán, và Vũ Phong là Trạng Vật làm vệ sĩ cho vua. Đến đời Vũ Quốc Sĩ thế kỷ 16 cũng sinh 5 con gọi là Hậu Ngũ Chi có 2 người đỗ Tiến sĩ nhưng cả 5 đều làm quan to trong triều như Vũ Duy Chí làm đến Tể tướng.

Truyền thống “nhân hậu” và “trí tuệ” của tổ tiên họ Vũ (Võ) là di sản tinh thần vô giá cho con cháu. Chính truyền thống “hiếu học” đến phi thường đã sinh ra 36 tiến sĩ làm cho làng Mộ Trạch thành một “làng tiến sĩ” có một không hai của Việt Nam.

Những hậu duệ (thuộc thế kỷ XIX của XX) của dòng họ Vũ /Võ Việt Nam (trong số đó có nhiều vị gốc Mộ Trạch) đã làm rạng danh cho tổ tiên và dòng họ là:

– Tháng 8 năm 1945 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chính phủ lâm thời đầu tiên được thành lập do Quốc dân Đại hội bầu ra ở Tân Trào. Trong số 12 vị Bộ trưởng đầu tiên có 4 vị Bộ trưởng họ Vũ là các vị: Võ Nguyên Giáp (Bộ trưởng Bộ Quốc phòng), Vũ Đình Hòe (Bộ trưởng Bộ Giáo dục), Vũ Đình Tụng (Bộ trưởng Bộ Y tế) và Vũ Trọng Khánh (Bộ trưởng Bộ Tư pháp).

Tướng Vũ Nguyên Bác (tức Nguyễn Sơn): sinh 01/10/1908, mất 21/10/1956, sinh quán tại thôn Kiêu Kỵ, Gia Lâm, Hà Nội, nguyên quán tại làng Mộ Trạch, huyện Bình Giang, Hải Dương. Ông là một vị tướng văn võ song toàn, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu IV, người có công lớn gìn giữ hậu phương trong 4 năm kháng chiến chống Pháp. Ông là vị tướng nước ngoài duy nhất tham gia cuộc Vạn lý trường chinh của Hồng quân Trung Quốc (với tên Hồng Thuỷ), là người nước ngoài duy nhất trên thế giới được nhà nước Trung Hoa phong hàm cấp tướng cũng là người Việt Nam duy nhất được 2 nước phong tướng :“Lưỡng quốc tướng quân”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp: sinh ngày 25/8/1911 sinh quán ở thôn An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, nguyên quán tại làng Mộ Trạch, Hải Dương Ông đã đánh bại 7 danh tướng Tổng tư lệnh của Pháp ở Đông Dương và 4 danh tướng Tổng tư lệnh của Hoa kỳ ở Việt Nam. Cuộc kháng chiến 10 năm chống Pháp kết thúc với chiến thắng Điện Biên Phủ vang lừng thế giới không những đã đuổi Pháp ra khỏi Đông Dương, chấm dứt 80 năm đô hộ mà còn làm sụp đổ cả đế chế thực dân của họ. Rồi lại tiếp 10 năm chiến tranh với Mỹ, năm 1975 trên nửa triệu quân của Hoa Kỳ hùng mạnh nhất địa cầu với tất cả vũ khí tối tân, khủng khiếp chưa từng có, vẫn phải rút quân khỏi Việt Nam. Phillip Davidson, trung tướng tình báo Hoa Kỳ đã phải nói rằng: “Cả đến Nã Phá Luân (Napoleon) cũng phải chào thua Võ Nguyên Giáp”.

– Giáo sư Vũ Khiêu: Sinh ngày 19/9/1916, quê thôn Hành Thiện, huyện Xuân Trường, Nam Định. Giáo sư được phong anh hùng lao động và là nhà văn hóa lớn của Việt Nam, người đã nghiên cứu, sáng tác rất nhiều tác phẩm về nền văn hóa Việt Nam. Giáo sư đã được tặng huân chương Hồ Chí Minh. Ông là con người có tài lại có tình. Ông coi chuyện công danh như gió thoảng, ông coi tình người, tình bạn như của quý trong đời.

– Viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng (1939) quê Mộ Trạch, có nhiều chức danh, học hàm, học vị: giáo sư, tiến sĩ, viện sĩ, một nhà nông học tài danh của Việt Nam.

– Viện sĩ Đặng Vũ Minh: Giáo sư Tiến sĩ Giám đốc Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia (tương đương Viện Hàn lâm của Việt Nam).

– Giáo sư Vũ Như Canh: Từ bé đã học giỏi nổi tiếng như thần đồng, ở trường Bưởi đã học nhảy bốn lớp mà vẫn tốt nghiệp tú tài hạng giỏi, sang Pháp đỗ cử nhân (thủ khoa) sớm hơn hai năm và lấy bằng Tiến sĩ Vật lý. Khi về nước 1953 dạy Vật lý và làm phó khoa trưởng Đại học Khoa học Hà Nội, sau 1954 ông ở lại Hà Nội tiếp tục làm Phó Giám đốc Đại học Sư phạm dưới quyền Giáo sư Lê Văn Thiêm.

Ngoài ra còn có rất nhiều danh nhân khác họ Vũ về mọi lãnh vực trong thời cận đại và hiện đại.

Các nhà văn nhà thơ họ Vũ

Đối với các họ khác (Lý, Trần, Lê nhất là Nguyễn) người ta không kể đến các người cùng một họ vì tuy rất đông người nhưng thuộc về nhiều gốc khác nhau, không cùng chung một thủy tổ. Chỉ riêng họ Vũ dù không quen biết nhau, dù đã tản mát đi khắp nơi nhưng đa số cùng chung một Thủy tổ Vũ Hồn, cùng gốc từ làng Mộ Trạch. Cho nên từ cuối thế kỷ 19 đến nay người ta có thể kể ra một số nhà văn nhà thơ nổi tiếng họ Vũ:

1. Võ Liêm Sơn (1888) bạn học với Chủ tịch Hồ Chí Minh, bậc thầy của nhiều thế hệ. Tác phẩm để lại là “Cô lâu mộng”, tập “Hài văn”, tập thơ “Ngắm non Hồng”.

2. Vũ Đình Long (1896) người đầu tiên biên soạn kịch nói mở đầu cho thể loại này bằng vở kịch “Chén thuốc độc”. Ông đã góp phần xây dựng ngành xuất bản, nhà xuất bản Tân Dân và Tiểu Thuyết Thứ Bảy của ông đã quy tụ được nhiều nhà văn có tiếng thời bấy giờ như là Nguyễn Công Hoan, Lê Văn Trương, Lưu Trọng Lư, Vũ Ngọc Phan,…

3. Vũ Ngọc Phan (1902), đầu tiên chỉ là một nhà báo lành nghề nhưng đã có công dìu dắt rất nhiều nhà văn (trong đó có Tô Hoài. Ông trở thành một bậc đàn anh trong văn giới với bộ sách Nhà Văn Hiện Đại (4 tập) và cuốn Tục Ngữ Ca Dao (tái bản đến 8 lần khi ông còn sống là sự kiện hiếm có trong ngành xuất bản ở Việt Nam). Ông và con trai là Giáo sư Viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng, là hậu duệ thuộc phái Mậu họ Vũ Mộ Trạch.

4. Vũ Trọng Phụng (1911 – 1939) thuộc chi II, Hậu Ngũ Chi họ Vũ Mộ Trạch, là một nhà văn hiện thực xuất sắc với các tác phẩm: Giông Tố, Số Đỏ, Cạm Bẫy Người, Vỡ Đê, Cơm Thầy Cơm Cô,… Nhiều nhân vật trong các tiểu thuyết của ông trở thành điển hình tiêu biểu cho một số tầng lớp trong xã hội. Ông mất khi chưa đầy ba mươi tuổi. Xin hãy nghe nhà văn Ngọc Giao kể lại những ngày cuối cùng của Vũ Trọng Phụng:

“Vũ Trọng Phụng đã làm việc gì đều làm cẩn trọng hết mình. Bản thảo của ông đầy đặn. Ông dùng loại giấy khô học trò, chữ đúng ngòi “ma la”, mực tím, nét rõ ràng. Bản thảo đưa cho Tiểu Thuyết Thứ Bảy dù mấy trăm trang, cũng chỉ viết một lần mà vẫn sạch sẽ. Đó là điều khiến lũ chúng tôi kinh ngạc, khác hẳn bản thảo của nhà văn, nhà giáo Nguyễn Công Hoan chữa bằng mực đỏ, như thầy giáo chấm bài vở học trò. Thợ sắp chữ đọc bản thảo ông Hoan kêu mệt.

Ông Phụng đau bệnh, nhiều khi nằm viết, viết trong cơn đói, giữa cơn ho, cơn sốt. Vậy mà ngòi bút của ông, mỗi dòng, mỗi chữ, hạ xuống giấy, mạnh như kiếm, như dao.

(Ờ mà, Vũ Trọng Phụng của chúng ta, sống như thế đấy, viết như vậy đấy! Phụng ơi!).

Điều đáng lạ nữa là, theo lệ nhà xuất bản, ông viết đúng mỗi trang 32 dòng và mỗi dòng đúng 14 chữ. Ông nói rằng ông không muốn “ăn gian của nhà in một chữ”. Khi đưa tôi năm trang cuối cùng” Trúng Số Độc Đắc”, Vũ Trọng Phụng mệt quá, hổn hển bảo tôi: “Đây là những trang cuối đời tôi. Giao nhớ nói với ông Vũ Đình Long rằng, hôm nay Phụng thanh toán nợ cũ, tôi không nợ Vũ Đình Long (kể cả thế gian này) một dòng, một chữ”. Hồi đó các nhà văn thường lĩnh tiền ứng trước của nhà xuất bản và viết sau. Vì thế nên họ thường cuống lên vì nợ. (Trong số con nợ khổ nhất là Lan Khai, nhà văn “mán xá” quanh năm suyễn nặng, hai vợ, năm con nghèo xơ xác, luôn viết không hề rời bút và phải bám chặt nhà xuất bản). Nhưng Vũ Trọng Phụng dẫu biết mình sắp tắt, vẫn giữ sĩ khí của mình, quyết không nợ, không lụy một ai. Phẩm tiết ấy, đức độ ấy, tài năng ấy đã giúp ông không những không nợ đời mà còn để lại cho đời, nhất là cho những người viết văn như chúng tôi, bao bài học không ước lường được giá. Ngay khi sắp “được” giã biệt cõi đời, Vũ Trọng Phụng vẫn còn nghĩ đến những người ở lại. Hồi đó anh em viết nghèo chúng tôi, đội quân bút lông, bút sắt, hàn sĩ khá đông, đều tập trung tại nhà in Tân Dân 93 Hàng Bông. Tiền nhuận bút ít ỏi không đủ sống. Nhưng vì cái bệnh “sĩ khí” và mang tâm trạng của kẻ “may thuê, viết mướn” nên chúng tôi không bao giờ nói đến chuyện tiền. Vậy mà Vũ Trọng Phụng thoi thóp chờ “đi”, đã cố ngóc dậy nói với chúng tôi là cần phải “làm reo” với nhà xuất bản. Phải viết kiến nghị đòi tăng nhuận bút từ một đồng trang viết (32 dòng, 14 chữ một dòng) lên một đồng hai hào một trang.

Chúng tôi gồm Vũ Trọng Phụng, Thanh Châu, Lê Văn Trương, Trúc Khê, Lan Khai, tôi … tập trung tại nhà Trương Tửu, 53 phố Hàng Gà để viết “yêu sách”. Sau đó chúng tôi “xuống đường” nhằm 93 Hàng Bông thẳng tiến. Tôi đỡ cánh tay Phụng, dìu đi, từng bước, từng bước nhỏ. Nhiều lúc ông dường như muốn ngã. Đến Hàng Da, tôi đùa ông, nói nhỏ: “Đi đấu tranh, cố thẳng lưng lên nào, gắng lên!”. Phụng nổi cáu mắng tôi: “Cậu xoàng lắm”. Đó là câu mắng, lời trách cuối cùng của ông đối với tôi. (Đến nay thoảng nghe câu “xoàng lắm” tôi lại nhớ đến Phụng, nhớ đến câu mắng thân thương ấy, tôi muốn khóc).

Đến nhà in Tân Dân, tôi dìu Phụng leo ba mươi hai bực cầu thang, lên lầu hai gặp ông Vũ Đình Long. Tôi còn nhớ, khi nhận bản yêu sách của chúng tôi, ông Vũ Đình Long mặt tái mét, tay run lập cập (ông vốn bệnh đau tim mãn tính). Cuộc “biểu tình” ấy đã thắng lợi nhờ chàng họ Vũ, người chiến hữu đã đành chịu thua số mệnh, ném vũ khí, ném bút xuống rồi!

Vài hôm sau, có lẽ Vũ Trọng Phụng biết mình sắp chết, nên ông nói tôi đưa ông đến nhà in Tân Dân lần nữa. Tôi hỏi đến làm gì, ông bảo “cứ đi, sẽ biết”. Vào nhà in, Vũ Trọng Phụng xin gặp xếp typô, ông Phú già, Phụng thều thào bảo ông Phú: cho tôi xin vài tờ bản thảo Trúng Số Độc Đắc. Ông Phú đưa chúng tôi ra sọt đựng giấy, (hồi đó, bản thảo đưa in đều là bản thảo viết tay chứ không đánh máy như bây giờ, thợ sắp chữ xong, là vứt vào sọt rác, đốt đi ngay). Vũ Trọng Phụng run tay lục tìm, chọn mấy tờ bản thảo lem luốc đầy tay dầu mỡ của người thợ sắp chữ, cẩn thận bỏ vào túi. Xuống đường, ông nói: “Giao ạ, khi tôi chết, người nhà, khi liệm sẽ đặt đầu mình lên hòn gạch theo thường lệ. Cậu hãy lót mấy tờ bản thảo này lên hòn gạch cho mình được gối đầu lên…”

Năm đó, Vũ Trọng Phụng mới 28 tuổi. Ông mất ở Cầu Mới. Tôi đến và làm theo lời trăn trối của ông.

– Vũ Đình Liên (1913) là một nhà giáo và một nhà thơ. Thơ ông không nhiều nhưng để lại một bài tuyệt tác, bài thơ “Ông đồ” còn sống mãi với thời gian:

Giấy đỏ buồn không nói

Mực đọng trong nghiên sầu …

…Hỡi người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ ?

– Vũ Đình Chi (bút hiệu là Tam Lang) là người viết phóng sự đầu tiên, phụ trách tờ Ngọ báo và viết cuốn “Tôi kéo xe” nổi tiếng. Ông đi thực tế nghĩa là đi kéo ra thực sự để có tài liệu sống mà viết phóng sự. Nghe kể lại là ông đã gặp chuyện dở khóc dở cười khi gặp khách hàng đầu tiên là một tên lính da đen cao lớn, ngồi chễm chệ trên xe, rung đùi, duỗi dài chân, thúc mũi giày săng đá vào lưng ông, quát tháo: “Coolie, plus vite!” (ê culi, nhanh lên!).

– Vũ Hoàng Chương (1916) nổi tiếng với tập “thơ SAY”:

Một trời phấn hương

Đôi người gió sương…

Hàng chân lả lướt

Đê mê hồn gửi cảnh tay hờ…

Say đi em say đi em

Say cho lơi lả ánh đèn…

Đất trời nghiêng ngửa

Thành sầu không sụp đổ em ơi !

Sau 30/4, ông đi tù cải tạo, gần chết mới được thả, về nhà ba ngày thì mất, còn khá hơn học giả Hồ Hữu Tường vừa ra khỏi tù, trên đường về đã chết khi chưa tới nhà.

– Vũ Bằng viết về cuộc đời làm báo trong “Bốn mươi năm nói láo”, về ẩm thực “Miếng ngon Hà Nội” và “Thương nhớ mười hai”. Tôi khen ông sành ăn, ông cười nói: “Có tiền đâu mà ăn ngon, chỉ nghe người nói rồi tưởng tượng ra mà viết thôi”.

– Vũ Mộng Long (1935, bút hiệu Duyên Anh), nhà văn nổi tiếng của miền Nam, chuyên viết tiểu thuyết và truyện cho lớp thiếu niên. Ông cũng nổi danh về lối viết châm biếm trong tuần báo “Con ong”. Sau khi đi tù cải tạo như hầu hết các văn nghệ sĩ miền Nam, ông và gia đình định cư bên Pháp và đã qua đời trong tuổi 60.

– Vũ Quần Phương (1940) vốn là bác sĩ y khoa, lại là một nhà thơ được nhiều độc giả mến mộ, đã từng là chủ tịch liên hiệp hội văn học nghệ thuật Hà Nội, tổng biên tập báo “Người Hà Nội” và thường trực hội đồng thơ Việt Nam.

Tôi được hân hạnh đón tiếp ông bà Duyên Anh Vũ Mộng Long và ông bà Vũ Quần Phương tại San Francisco.

Hiện nay mặc dù xa quê hương, con cháu Thủy Tổ Vũ Hồn vẫn tiếp tục phát huy truyền thống “nhân hậu” và “trí tuệ” của dòng họ, một vài điển hình như Tiến sĩ vật lý hạt nhân Vũ Khắc Thịnh tại Nhật Bản, Tiến sĩ văn học và sử học Đặng Vũ Phương Nghi tại Pháp, Tiến sĩ Kinh tế học Võ Tá Hân tại Singapore, Tiến sĩ hóa học Vũ Đàm tại Mỹ mới trong độ tuổi tam thập (30) đã có những công trình lẫy lừng khiến tổng thống Mỹ phải đích danh mời phụ trách việc thẩm định và cấp bằng sáng chế cho các công trình phát minh về hóa học của Mỹ và thế giới. Xin nhắc lại hai câu cuối bài “Văn tế Thủy Tổ họ Vũ (Võ) nhân lễ hội 1.200 năm tại làng Mộ Trạch của giáo sư Vũ Khiêu:

“Cờ Việt Nam sáng tỏa năm châu

Dòng họ Vũ danh thơm muôn thuở”.

CÁC GIAI THOẠI về HỌ VŨ

Nói một cách khách quan, họ Vũ không phải là hoàng tộc có công khai quốc như các họ Đinh, Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Trịnh, Nguyễn nhưng họ Vũ có cả một kho tàng giai thoại đáng gọi là độc đáo. Chuyện giai thoại ở các dòng họ là rất phổ biến như ta thường nói: “Họ Đinh đánh giặc, họ Đặng làm quan nhưng tập trung lại để thành hệ thống thì quả thực họ Vũ đã có những dấu ấn riêng khá độc đáo:

* Giai thoại Trạng dân gian

Có 2 loại Trạng: Trạng khoa bảng (do vua phong) và Trạng dân gian (do dân phong). Trong lịch sử khoa cử của ta có 47 vị đỗ Trạng nguyên: các họ Trương, Bạch, Đào, Lương, Nghiêm, Ngô, Giáp, Dương, Trịnh, Đặng, Lưu mỗi họ có một Trạng nguyên; họ Đỗ, họ Hoàng mỗi họ có hai Trạng nguyên; họ Lê, họ Phạm, họ Hồ có ba Trạng nguyên; riêng họ Nguyễn, họ Trần và họ Vũ mỗi họ có năm Trạng nguyên. Chuyện Trạng dân gian thì có nhiều giai thoại hấp dẫn hơn nhưng thường mỗi họ chỉ có một ông Trạng dân gian là cùng: họ Nguyễn có Trạng Quỳnh, họ Dương có Trạng Lợn. Riêng họ Vũ có tới năm ông Trạng dân gian: Trạng Ăn, Trạng Cờ, Trạng Vật, Trạng Toán và có cả Trạng Chạy nữa.

* Giai thoại hai chú cháu nhà sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường để lại tại Chùa Đậu (Thường Tín, Hà Nội) hai pho toàn thân xá lợi từ 300 năm (thế kỷ 17) đến nay vẫn còn tồn tại toàn vẹn.

* Giai thoại Vũ Như Tô có tài về kiến trúc, xếp các cây mía làm thành kiểu mẫu cung điện có đến 100 nóc. Vua Lê Tương Dực phong ông làm đô đốc để dựng 100 nóc cung điện lớn và Cửu Trùng Đài. Khi Trịnh Duy Sản đem quân đảo chính đâm chết vua và bắt chém Vũ Như Tô (1517), công trình kiến trúc bị phá bỏ.

* Giai thoại Trạng nguyên Vũ Duệ, thuở nhỏ nhà nghèo không được đi học, phải cõng em đứng ngoài hiên học lỏm chữ nghĩa ông đồ dạy trong lớp, lớn lên thi đỗ giải nguyên rồi trạng nguyên, làm quan giữ tiết, trẫm mình dưới sông hàng chục năm mà vẫn mặc triều phục ngồi yên dưới đáy nước. Vua (Lê Trung Hưng) sai thợ lặn mang thi hài ông lên đem mai táng.

* Giai thoại Tả Ao tiên sinh Vũ Đức Huyền, thuở nhỏ nhà nghèo mồ côi cha, mẹ mắt lòa. Vì thạo bơi lội nên ông cứu sống một thầy địa lý Tàu bị lật thuyền giữa sông. Để đền ơn cứu mạng ông thầy địa lý mang ông sang Tàu truyền nghề địa lý cho. Ông chăm chỉ học tập: ngày đi khắp núi non đồng bằng, đêm về đắp mô hình lập các huyệt để nghiên cứu. Sau khi truyền hết nghề cho ông, thầy địa lý Tàu vùi 100 đồng tiền vào 100 sa huyệt, bảo ông dùng đinh điểm huyệt. Ông điểm đúng 99 huyệt, chi sai 1 huyệt. Trở về nước, ông chữa khỏi mắt cho mẹ và đi khắp nơi để đặt huyệt mồ mả, lấy mạch giếng, lấy hướng đình hướng nhà giúp đỡ mọi người.

Ông được mệnh danh là Tả Ao tiên sinh, thầy địa lý Tả Ao, hay Thánh Tả Ao, vì quê ở làng Tả Ao (huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh) nằm bên hữu ngạn sông Lam, trước mặt dãy núi Hồng Lĩnh, bên cạnh làng Tiên Điền của Nguyễn Du và làng Uy Viễn của Nguyễn Công Trứ. Ông sống ở thế kỷ 17 dưới thời Lê – Trịnh. Nguyên cả đời ông chỉ lo đi để mả cho mọi người mà không chuẩn bị sẵn huyệt cho minh. Khi mẹ ông mất, có một cái huyệt rồng 500 năm mới mở một lần, ông định táng mẹ ở đó nhưng vì gió bão cản trở, không ra chôn được. Khi ông mất chỉ có hai người con gái bên cạnh, ông chọn cho mình một kiểu đất “Nhất khuyển trục quần dương” (một con chó đuổi đàn dê). Ông dặn hai con đào huyệt rồi khiêng mình ra đó táng chỉ 3 ngày sẽ thành ĐỊA TIÊN, nhưng không kịp nên ông bèn chỉ một cái gò ngay bên đường gần bờ ao, là huyệt HUYẾT THỰC, bảo chôn vào đó. Quả nhiên sau này dân trong vùng tôn ông làm phúc thần và vì thế nên ông còn được gọi là “Trạng Bờ Ao”.

* Giai thoại thiếu phụ Nam Xương Vũ Thị Thiết hay Vũ Nương, vợ chàng Trương (huyện Nam Xương, Hà Nam). Thời nhà Hồ Vũ Nương có chồng là Trương Sinh phải đi lính đánh giặc, đêm đêm bồng con chỉ vào cái bóng mình trên tường, bảo là “cha con đó”. Đến khi chồng về đứa bé nói: “ông không phải là cha tôi. Cha tôi khác, chỉ đến vào ban đêm, không bao giờ bế tôi, mẹ đi thì ông ấy đi, mẹ ngồi thì ông ấy ngồi”. Trương Sinh nổi ghen tra khảo vợ đến nỗi nàng phải tự tử. Mãi sau, một đêm đứa bé nhìn cái bóng Trương Sinh in trên tường mới reo lên: “Cha tôi đây rồi”. Bấy giờ Trương Sinh mới biết vợ bị oan, lập đàn giải oan. Dân làng lập miếu thờ. Sau vua Lê Thánh Tông đi qua nghe chuyện kể, làm một bài thơ nổi tiếng:

“ Miếu ai như miếu vợ chàng Trương….

Qua đây mới biết nguồn cơn ấy

Khá trách chàng Trương khá phũ phàng”

* Giai thoại Võ Tánh tự thiêu trên lầu Bát Giác

Võ Tánh, một tướng giỏi của Nguyễn Ánh đương trấn giữ thành Qui Nhơn (Bình Định). Bị vây rất ngặt, Võ Tánh tuy là một tay “Gia Định Tam Hùng” cũng không địch nổi hai danh tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng. Ông nghĩ ra một kế “đổi gạch lấy vàng”: chịu hy sinh mất Qui Nhơn để chuyển mũi tấn công về Phú Xuân. Võ Tánh cùng tổng binh Nguyễn Tấn Huyên lên lầu Bát Giác, dưới chất củi, đổ dầu đốt. Trước đó hiệp trấn Ngô Tùng Châu đã tự nguyện uống thuốc độc tự tử. Cả ba vị tướng nhà Nguyễn cùng chết một ngày. quân Tây Sơn vào chiếm thành Qui Nhơn. Nguyễn Ánh nhân đó dẫn quân ra đánh chiếm được thành Phú Xuân đương bỏ ngỏ. Đúng kế sách “đổi gạch lấy vàng”.

* Giai thoại Võ Tá Sắt nuốt con ngươi

Võ Tá Sắt (làng Hà Hoàng, huyện Thạch Hà) coi trấn Sơn Nam, đánh nhau bị một viên đạn bắn vào mắt làm bật con người ra ngoài. Tá Sắt rút con ngươi ấy bỏ vào mồm nuốt chửng rồi tiếp tục thúc quân đánh rất dũng cảm. Chuyện Võ Tá Sắt nuốt mắt làm ta nhớ đến Hạ Hầu Đôn thời Tam Quốc bên Tàu.

Kết luận về Mộ Trạch, một làng văn hiến bậc nhất

Nói rằng họ Vũ có cùng một gốc Mộ Trạch dù sau này có tản mát đi khắp nơi trong nước là dựa vào sự nhận tổ tiên gốc rễ [Vũ Hồn-Mộ Trạch] của họ Võ Tá (Hà Hoàng, Thạch Hà, Hà Tĩnh), họ Đặng Vũ (Hành Thiện, Xuân Trường, Nam Định) và các nhân vật hiện đại bên văn là GS. AHLĐ Vũ Khiêu, nhà văn Vũ Ngọc Phan, nhà văn Vũ Trọng Phụng bên võ là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Lưỡng quốc Tướng quân Nguyễn Sơn, v.v…

Nhưng trong lịch sử, họ Vũ đã có ở Việt Nam từ thế kỷ thứ nhất với giai thoại Bát Nàn công chúa Vũ Thị Thục Nương là một đại tướng của Hai Bà Trưng. Như vậy những nhân vật họ Vũ vừa kể trong những chương trên có thể một số không phải là hậu duệ của Thần Tổ Vũ Hồn hay có thể không cùng gốc làng Mộ Trạch.

Tuy nhiên chỉ gạn lọc ra các danh nhân sinh sống tại làng Mộ Trạch hay đã khẳng định thuộc gốc Vũ Hồn-Mộ Trạch thì cũng đủ để Mộ Trạch xứng đáng là một làng văn hiến vào bậc nhất nước:

* Một làng có những học giả đạo cao đức trọng

Hoàng giáp Vũ Quỳnh làm quan Thượng thư, Quốc tử giám Tư nghiệp (hiệu trưởng trường đại học ngày xưa), tác giả cuốn Đại Việt Thông Giám (1511), xếp hạng thứ tư sau Lê Văn Hưu (Đại Việt Sử Ký, 1272), Phan Phù Tiên (Đại Việt Sử Ký Tục Biên, 1455) và Ngô Sĩ Liên (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, 1479). Con trai ông là Hoàng giáp Vũ Cán, con rể ông là Trạng nguyên Lê Nại. Cả nước bấy giờ tôn ông là bậc thầy làm khuôn mẫu cho các thế hệ.

– Tiến sĩ Vũ Công Đạo từng làm quan Ngự sử, Thượng thư rồi về nhà dạy học. Học trò ông quá nửa làm quan trong triều, có người đỗ Bảng nhãn, Thám hoa.

* Một làng có nhiều tác phẩm văn học đủ loại

Ngoài “Lĩnh Nam Chích Quái” của Trần Thế Pháp do Vũ Quỳnh chấn chỉnh bổ sung lại, “Công Dư Tiệp Ký” của Vũ Phương Đề, tập thơ Nôm của Vũ Duy Đoán, “Truyền Kỳ Mạn Lục” của Nguyễn Dữ dịch ra văn xuôi Nôm do Nguyễn Thế Nghi còn phải kể đến “Vạn Ngôn Thư” của Lê Cảnh Tuân. Việt Nam có bốn văn kiện [hịch, sớ, cáo, thư] tiêu biểu nổi tiếng nhất là:

▫ Hịch Tướng Sĩ của Trần Hưng Đạo

▫ Thất Trảm Sớ của Chu Văn An

▫ Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi

▫ Vạn Ngôn Thư của Lê Cảnh Tuân

* Một làng có nhiều ông quan lỗi lạc và cương trực

▫ Vũ Duy Chí, không đỗ đạt gì, có tài kiêm văn võ, làm quan đến chức Tham tụng (Tể tướng) dưới triều Lê – Trịnh, có tài điều hành chính sự nổi tiếng nên có câu: “Tể tướng Mộ Trạch, Quốc Lão Liêu Xuyên”.

▫ Tiến sĩ Vũ Duy Đoán và Tiến sĩ Vũ Công Đạo đều làm quan đến Thượng thư rất khẳng khái, cương trực. Ông Vũ Công Đạo có lúc đập đầu vào cột để kháng nghị khiến Chúa Trịnh hoảng sợ.

* Một làng có những chiến công hiển hách

▫ Vũ Nạp là một ông Tổ họ Vũ làng Mộ Trạch, làm phó tướng cho Trần Quốc Bảo, đánh quân Mông Cổ (1258 – 1288). Trận đánh năm 1288, chủ tướng Trần Quốc Bảo hy sinh, ông thay thế cầm quân phá tan giặc và bắt được 2 tướng giặc là Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp.

▫ Vũ Bật Hải, con Vũ Duy Chỉ, có tài văn chương và đồng thời là một chiến tướng, đã lập mẹo đánh tan giặc Minh ở Quảng Tây sang gây hấn vùng biên giới nước ta (thế kỷ 17).

* Một làng có những lãnh tụ nhân dân khởi nghĩa chống triều đình hoang dâm thối nát, tiêu biểu là Cử nhân Vũ Trác Oánh lãnh đạo nhân dân chống lại Chúa Trịnh Giang vì thế cả làng Mộ Trạch bị nhà Chúa đốt phá.

* Một làng có nhiều thầy thuốc giỏi như Vũ Muộn Trai, Vũ Thảo Hiếu, Vũ Như Hiệu, Vũ Trực Hiên, Vũ Đăng Khu. Lại có bà Nhữ Thị Nhuận, vợ ông Vũ Phương Đẩu, đã có công phát hiện ra một thứ quế quí chữa khỏi nhiều bệnh. Mẫu hậu nhà Thanh dùng quế này khỏi bệnh nan y. Vua Thanh phong bà là “Lưỡng Quốc Quế Hộ, Thượng Quân Phu Nhân”. Mộ bà chôn nơi Mả Thần (hay Thần Lăng) cùng với Thần Tổ Vũ Hồn và phu nhân.

* Một làng có nhiều tấm gương trung nghĩa

▫ Lê Cảnh Tuân viết “Vạn Ngôn thơ” nổi tiếng, bị quân Minh bắt đưa về Kim Lăng rồi chết trong ngục bên Tàu cùng với con trai cả (1436).

▫ Hoàng Giáp Lê Quang Bỉ (con Trạng nguyên Lê Nại) được nhà Mạc cử đi sứ bên Tàu. Nhà Minh bắt giam ông đến 18 năm, đem trám mắt không cho nhìn thấy. Ông vẫn giữ khí tiết nêu cao phẩm giá người Việt, dạy học để nuôi thân, được nhiều học sinh Trung Hoa tôn vinh biết ơn. Cuối cùng ông được trở về nước. người đời ca tụng ông. Tập thơ “Tô Công phụng sứ” ví ông với Tô Vũ chăn dê uống tuyết 18 năm ở đất Hung Nô.

* Một làng có những bà mẹ dân dã nghèo nàn vĩ đại tiêu biểu là bà Vũ Thị Thứ, vợ cử nhân Vũ Quốc Sĩ. Nhà nghèo, chồng mất sớm, bà tần tảo nuôi con. Năm người con của bà đều thành đạt:

▫ Con trai đầu Vũ Tự Khoái làm quan Thị Lang.

▫ Con trai thứ 2 Vũ Bạt Tụy đỗ Hoàng Giáp 1634.

▫ Con trai thứ 3 Vũ Duy Chí làm Tể tướng.

▫ Con trai thứ 4 Vũ Phương Trượng làm Thượng thư.

▫ Con trai thứ 5 Vũ Cầu Hối đỗ Tiến Sĩ 1659 làm Hiệp trấn Thanh Hóa.

* Một làng có 5 Trạng dân gian và 36 Tiến sĩ

Một làng nhỏ bé trước năm 1945 không quá một ngàn nhân khẩu mà ngoài một Trạng nguyên vua phong (do khoa cử) có đến năm ông Trạng dân phong (Trạng Ăn, Trạng Chạy, Trạng Cờ, Trạng Toán, Trạng Vật). So với các làng khoa bảng nổi tiếng khác như làng Hành Thiện chỉ mới nổi lên dưới triều Nguyễn với số khoa bảng là 88 vị bỏ xa các làng khác nhưng chỉ có ba Tiến sĩ, làng Quỳnh Đôi tính từ đời Lê đến khi bỏ thi chữ Nho có 12 Tiến sĩ, làng Đông Ngạc đứng thứ nhì trong thời Nguyễn về số khoa bảng (42 gồm Cử nhân, Phó bảng, Tiến sĩ) sau làng Hành Thiện nhưng chỉ có 19 Tiến sĩ kể từ đời Trần đến nay. Riêng làng Mộ Trạch vượt lên trên hết, từ đời Trần đến hết thời Nho học có tới 36 Tiến sĩ thì quả là kỳ diệu, thật sự là một làng văn hiến truyền thống bậc nhất nước Việt Nam, xứng đáng với những danh xưng “Tiến sĩ sào”, “Làng Tiến sĩ” hay “Mộ Trạch nhất gia bán thiên hạ”.

* Một làng là nguyên quán của hai danh tướng Võ Nguyên Gíáp và Nguyễn Sơn Vũ Nguyên Bác

▫ Đại tướng nhân dân Võ nguyên Giáp

Tướng Giáp xuất thân chỉ là một thày giáo dạy sử, không học một trường võ bị nào mà cũng chưa có kinh nghiệm chiến trường trước khi được trao trọng trách chỉ huy toàn quốc chống đế quốc Pháp với sự hỗ trợ của các đồng minh Anh Mỹ. Khi bị chất vấn về việc phong hàm Đại tướng cho ông Võ nguyên Giáp, Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích đó là Đại tướng nhân dân do nhân dân đào tạo. Thật là còn tuyệt vời hơn cả chuyện Tôn Quyền phong Đại tướng cho Lục Tốn, khi đó chỉ được coi như một thư sinh, để cự nhau với Khổng Minh.

▫ Lưỡng quốc tướng quân Nguyễn Sơn Vũ Nguyên Bác,

* tốt nghiệp trường võ bị Hoàng Phố, sống sót trong cuộc vạn lý trường chinh (đi 30 vạn về còn vài ba ngàn người), ba lần bị khai trừ khỏi đảng, ba lần được phục hồi… họa chăng có thêm Đặng Tiểu Bình;

* tư lệnh chiến trường kiêm chính uỷ chiến lược… hoạ chăng có thêm Võ Nguyên Giáp;

* một dũng tướng hàng chục năm chiến đấu vượt thảo nguyên băng đỉnh tuyết sơn mà lại thông kinh kịch Trung Hoa, thuộc làu làu Kim Vân Kiều, hùng biện hàng giờ tiếng Ta tiếng Tàu….mấy ai như Nguyễn Sơn;

* bốn đời vợ bốn dòng con mà vẫn giữ trọn vẹn tình chung thuỷ với mỗi vợ, lòng yêu thương cả đàn con lại còn chống chế độ đa thê chủ trương một vợ một chồng… hiếm ai như Nguyễn Sơn;

* vào tận nhà tù cứu Nguyễn Tiến Lãng (con nuôi Toàn quyền Robin, con rể Phạm Quỳnh, Chánh văn phòng của Hoàng Đế Bảo Đại, Bí thư riêng cho Hoàng hậu Nam Phương), dung dưỡng Trương Tửu, Nguyễn Đức Quỳnh (khuynh hướng dệ tứ quốc tế), trọng dụng các sĩ quan phát xít Nhật Bản thay vì phải đem giết như những tội phạm chiến tranh…cho đến bây giờ mấy ai thực hiện được chính sách đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết như Nguyễn Sơn;

* trong buổi tạm biệt Hồng Thuỷ Nguyễn Sơn về cố quốc, Chủ tịch Mao Trạch Đông, Thủ tướng Chu Ân Lai, Nguyên soái Diệp Kiếm Anh, Nguyên soái Bành Đức Hoài ân cần tiễn đưa. Mao Trạch Đông nắm tay Nguyễn Sơn, âu yếm dặn dò:” Tiểu Hồng là con ngựa hay nhưng e khó ai biết dùng, phải thận trọng, phải thận trọng nhé!”…trên đời này mấy ai được nể vì trọng vọng như vậy;

* khi trở về Việt Nam được nhà nước CHND Trung Quốc biếu 30 ngàn nhân dân tệ (một số tiền rất lớn có thể mua vài ba chục căn nhà ở Hà Nội thời bấy giờ), thế mà ông bà Nguyễn Sơn-Hằng Huân đã mang nộp cho nhà nước VN mặc dầu gia cảnh rất nghèo…điều đó có thể sảy ra trong thời buổi ngày nay không nhỉ?

* là một nhà cách mạng chủ nghĩa quốc tế trung kiên (như lời Võ Đại tướng đánh giá tướng Nguyễn Sơn) lại khuyên bảo đại điền chủ yêu nước Nguyễn Hữu Ngọc ở khu tư hồi năm 1950, hãy trốn đi để tránh cuộc CCRĐ sắp sảy ra (ông Ngọc cho là mình có công nhiều với Cách mạng, không đi, sau bị đấu tố bắn chết, người con là Nguyễn Hữu Thuỳ hiện nay ở khu Bolsa kể lại); khi sắp chết nằm trong bệnh viện Việt Xô được các bạn vào thăm cho biết những thảm cảnh của các nạn nhân nhân văn giai phẩm, ông ứa nước mắt khóc…nếu ông sống đến bây giờ ông sẽ đứng phía nào: phía nhà nước hay phía LS Cù Huy Hà Vũ, phía Đảng hay phía Trung tướng Trần Độ, Trung tướng Đặng Quốc Bảo.

* trong cuốn “Từ thực dân đến cộng sản” của Hoàng Văn Chí (anh em đồng hao với ông) viết rằng: “Nguyễn Sơn sinh thời chủ trương không xin viện trợ Tàu để đánh Pháp vì như thế sẽ bị lệ thuộc Tàu sau này”… nếu ông sống đến bây giờ ông liệu có chấp nhận việc Tàu chiếm Hoàng Sa, tranh chấp Trường Sa và yêu sách Lưỡi Bò hay cương quyết chống lại chủ nghĩa bành trướng.

* khi ông mất mọi người thương tiếc kể cả những kẻ không thích ông, biết bao sách báo viết ca tụng ông hết lời hết ý, nhà thơ chiến sĩ Hữu Loan bật khóc viết điếu văn trong nước mắt, cho Nguyễn Sơn là BẤT TỬ:

“…Một đám tang đi

không bao giờ tới huyệt”

Dân làng Mộ Trạch rước tượng đồng Lưỡng quốc Tướng quân Vũ Nguyên Bác Hồng Thuỷ Nguyễn Sơn về quê nhà nhân ngày giỗ thứ 50 (21/10/1956 -21/10/2006).

 

NGUYỄN SƠN sống như một DANH TƯỚNG chết đi như một PHÚC THẦN

Một vùng quê nhỏ bé, VĂN như vậy, VÕ như vậy… trên thế gian này, mấy nơi như LÀNG MỘ TRẠCH!

Viết xong ngày 01/11/2011

tam

Bùi Duy Tâm

 

Lời Cám Ơn

Trân trọng cám ơn GS. sử học Phan Huy Lê đã gợi ý tôi viết về làng Mộ Trạch, GS. AHLĐ Vũ Khiêu đã giảng giải cho nghe về Tộc Phả Họ Vũ và Trung Tá QĐND Thanh Hà, con gái tướng Nguyễn Sơn (Vũ Nguyên Bác) và bà Hằng Huân, đã cung cấp cho tôi nhiều tài liệu.

Tôi đã dùng tài liệu trong cuốn “Vũ Hồn và Mộ Trạch, Làng Tiến Sĩ” do ban quản lý di tích làng Mộ Trạch, Hải Dương xuất bản (2004), cuốn “Giai thoại người họ Vũ” của tác giả Vũ Ngọc Khánh (2004) và cuốn “Tộc phả họ Hồ” do Vũ Thúy – Võ Văn Liên – TS. Vũ Duy Mền đồng chủ biên (2010). Thành thực cám ơn tất cả các tác giả nói trên.

Bạn Nguyễn Văn Ngân đã chia sẻ với tôi cách đánh giá các nhân vật lịch sử nhất là về tướng Nguyễn Sơn, BS. Dương Đình Châu đã góp ý, sửa chữa, chăm lo việc đánh máy, in ấn cùng với anh Đặng Hải Đường. Chân thành cám ơn các bạn thân quý.

Tôi viết cuốn này nằm trong bộ sách “Địa Linh Nhân Kiệt” của tôi và cũng thể theo lời yêu cầu và sự khích lệ của nhà văn Đỗ Tiến Đức, chủ báo Thời Luận, Los Angeles để đăng trong số Tết Nhâm Thìn 2012.

Bùi Duy Tâm

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *