everest 24 nhỏ

TUỔI 80 LEO CAO ĐỈNH NÚI

Phiêu lưu & Thám hiểm

TUỔI 80

LEO CAO ĐỈNH NÚI

Bùi Duy Tâm

 

 

Từ hồi còn tuổi thiếu niên thanh niên tôi đã vốn không thich đi bộ leo dốc chứ dừng nói đến chuyện leo núi (có lẽ tim tôi không thích hợp với những trò leo trèo). Thế mà ngoài chuyện chinh phục đỉnh Fansipan như trong bái viết dưới đây ở tuổi 78 (tháng 7 năm 2012), tôi còn leo bao đỉnh núi cao của Việt Nam và thế giới:

 

Chùa Đồng trên đỉnh non Yên

Chúng tôi leo lên đỉnh ngọn núi Yên Tử để đứng ngay bên Chùa Đồng vào ngày 28 tháng 3 năm 2012. Đến Chùa Đồng như một nghi lễ khới sự phần cuối đời tôi. Ngày 28 tháng 3 dã khắc sâu trong hồn tôi những kỷ niệm Buồn Vui như những Đỉnh Cao Vực Thẳm của cuộc đời.

Khấn Phật

Chùa Đồng ở độ cao trên ngàn mét (1068 m). Trước kia chưa có cáp treo, phải leo chân rất cực nhọc trong 2 ngày. Hôm đầu chỉ tới lưng chừng núi, phải ngủ lại chùa Hoa Yên để lấy sức sáng hôm sau trèo tiếp lên chùa Vân Tiêu, tượng đá Yên Kỳ Sinh, Bia Phật rồi leo qua nhiều tảng đá lớn mới tới Chùa Đồng.

Hoa Yên là nơi có Tháp Tổ, khu vườn Tháp Huệ Quang, thác Ngự Đội, phiến dá chạm nổi hình 3 ni cô và cây đại cổ 700 năm được trồng từ thời Phật Hoàng Trần Nhân Tông.

Chùa HoaYên

Chùa Đồng 04 nhỏ

Cây đại cổ thụ 700 tuổi Phiến đá chạm nổi 3 Ni Cô

Cây Đại 700 năm

Sáng hôm sau mới leo qua chồi đá thiêng di tích Yên Kỳ Sinh để tới Chùa Đồng. Tục truyền vào đời vua Ngô Quyền có một đạo sĩ tên là Yên Kỳ Sinh (hay An Kỳ Sinh) đến tu hành và đắc đạo ở nơi đây nên các môn đệ gọi núi này là “núi Thày Yên” hay Yên Tử. Một thuyết khác nói trước kia đạo sĩ Yên Kỳ Sinh tu ở ngôi chùa “chùa Thày Yên” hay Yên Tự nay gọi chệch đi là Yên Tử. Khách thập phương cố sờ tay vào chồi đá di tích Yên Kỳ Sinh để được toại điều cầu xin. Chồi đá này chính là Yên Kỳ Sinh hóa thân. Theo truyền thuyết: đạo sĩ Yên Kỳ Sinh xuống núi hái thuốc luyện linh đan. Khi ngang qua khu Hòn ngọc – Mắt rồng bỗng giật mình sửng sốt bởi nhận ra triền núi cao trước mặt giống hệt như mặt rồng, có trán, mắt, mũi, miệng đủ cả. Miệng rồng phát ra thứ ánh sáng kỳ lạ. Bằng con mắt pháp thuật, ông nhận ra đó là viên ngọc rồng do tinh khí của đất trời tạo nên. Ông ta biết vậy, lặng lẽ lên núi. Vài ngày sau, Yên Kỳ Sinh xuống núi, đến chỗ viên ngọc rồng bữa trước. Bỗng một cảnh tượng dị thường đang diễn ra trước mắt. Vạt đất chuyển rung. Một gò đất mới được sinh ra – hòn ngọc trong miệng rồng đã nhả. Khí thiêng phun tỏa mịt mù… Vì quá kinh hoàng với cảnh tượng đó, An Kỳ Sinh vội vã chạy lên núi, nhưng chưa kịp lên tới đỉnh, ông ta đã chết đứng và hóa đá (tượng đá Yên kỳ Sinh hiện còn dựng ven lối đi từ chùa Vân Tiêu đến chùa Đồng).

Từ Tháp Tổ 7 tầng đi lên chùa Đồng, đoạn nào cũng dốc, đá núi lởm chởm thì chỗ tượng thờ An Kỳ Sinh lại bằng phẳng rộng chưa đầy 100m2. Khi đi qua đoạn này, du khách thập phương thường kiên nhẫn đứng lại, chờ đến lượt mình được vào lễ bái chứ không tranh giành nhau như ở chùa dưới.Yên Kỳ Sinh là một vị đạo sĩ chuyên luyện thuốc cứu người nên khi đi qua đây người đi chùa thường lấy một tờ tiền mới, chà lên mình tượng để cầu sức khỏe. Có người mắc bệnh hiểm nghèo, vô phương cứu chữa đến đây cầu xin đã rất linh ứng.

Tượng đá An Kỳ Sinh

Di tích Yên Kỳ Sinh

Yên Kỳ Sinh

 

thien phai truc lam - su ra doi cua phat giao viet nam hinh 1

Tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông ở khu Yên Kỳ Sinh

thien phai truc lam - su ra doi cua phat giao viet nam hinh 2

Chùa Đồng, Yên Tử

Lên đỉnh Yên Sơn, đi trong mây không phân biệt đâu là trời, đâu là đất, đâu là người ở nơi hòa đồng giữa trời đất và người (thiên, địa, nhân). Từ đỉnh Yên Sơn nhìn về 4 hướng là cả vùng Đông Bắc như dải lụa xanh thẳm, cảnh đẹp lạ thường. Từ lâu, chùa Đồng không chỉ mang ý nghĩa về kiến trúc mà xét trên phương diện tín ngưỡng lâu đời, nó có ý nghĩa tâm linh đặc biệt. Chùa Đồng Yên Tử hoàn toàn khác biệt bất cứ công trình đúc kim loại nào trên thế giới, kể cả kiến trúc và điêu khắc mỹ thuật. Đó là vẻ đẹp vừa khỏe khoắn, vừa mềm mại, bay bổng. Theo dân gian, chùa Đồng – Yên Tử là nơi con người có thể cầu viện được “sinh lực của vũ trụ” cho mọi mặt của cuộc đời. Dòng sinh lực vũ trụ này như mọi nguồn hạnh phúc chảy xuống mặt đất làm nảy nở sự sống.

chùa Đồng Yên Tử Chùa Đồng 001

Chùa Đồng 002

Quanh năm đỉnh núi chìm trong mây trắng như các hình chụp trên đây nên núi Yên Tử còn có tên Bạch Vân Sơn (núi mây trắng).

Chùa Đồng 01b nhỏ

Bây giờ có 2 trạm cáp từ chân núi lên tới gần Chùa Đồng, chỉ còn phải đi một quãng mà cũng còn vất vả, phải leo trèo trên những tảng đá khá dốc chứ đâu có bậc xây (dù cả ngàn bậc) như đền Bác Hồ trên đinh Vua núi Ba Vì. Thế mà sao con người dám xây dựng cả một ngôi chùa nặng 70 tấn đồng lên đỉnh non Yên.

Chùa Đồng 01a nhỏ

Duong-len-chua-Dong-Yen-Tu

Yên Tử ngày hội

Chùa Đồng tọa lạc ở đỉnh cao nhất dãy Yên Tử (1.068m). Chùa Đồng (Yên Tử) đã được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam ghi nhận là ngôi chùa đồng lớn nhất và nằm ở độ cao nhất cả nước. Đây cũng là ngôi chùa được xếp vào hàng độc đáo nhất trên thế giới, được ví như một “kỳ quan mới” tại khu danh thắng Yên Tử – hiện đang giữ rất nhiều kỷ lục.

LỊCH SỬ CHÙA ĐỒNG

Nguyên khởi, chùa Đồng do một bà phi của chúa Trịnh dựng vào thời hậu Lê (thế kỷ 17). Chùa được đúc bằng đồng, ban đầu chỉ là một cái khám nhỏ, một người chui không lọt. Đến năm Canh Thân 1740, đời vua Lê Cảnh Hưng, bão làm bật mái chùa, sau bị kẻ gian dỡ phần còn lại chỉ để lại dấu tích các hố cột chôn trên mỏm đá.Vào mùa Đông 1930, bà Bùi Thị Mỹ từ chùa Long Hoa tái tạo chùa Đồng bằng bê tông cốt đồng trên một hòn đá vuông cao quá đầu người ở vị trí chùa Đồng cũ. Đến năm 1993, ông Nguyễn Sơn Nam, một Việt kiều ở Mỹ, cùng các phật tử ở hải ngoại phát tâm đúc lại chùa mới kiến trúc hình chữ Đinh theo dáng một bông sen nở, ngự trên sập đồng chân quỳ dạ cá trổ hình hoa sen cách điệu, đặt ngay bên cạnh ngôi chùa Đồng bằng bê tông xây dựng đầu thế kỷ XX. Theo tinh thần, hai chùa quy vào một khối, không để Phật tử và nhân dân phải thờ hai chùa Đồng cùng một lúc. Ngày 03 tháng 6 năm 2006 dưới sự chủ trì của Tiến sĩ Phật học Đại Đức Thích Thanh Quyết (sau trở thành Thượng Tọa Thích Thanh Quyết) và Ban Quản lý Dự án chùa Đồng, bằng công đức thập phương trong và ngoài nước đã khởi lễ đúc chùa Đồng theo mẫu thiết kế của kiến trúc sư Trần Quốc Tuấn – Viện Bảo Tồn Di Tích. Chùa được khánh thành vào ngày 30 tháng 01 năm 2007, tọa lạc trên đỉnh non thiêng ở vị trí giữa hai ngôi chùa được xây dựng trước đây.

CẢNH QUAN & KIẾN TRÚC CHÙA ĐỒNG

Khi thi công chùa Đồng mới, hai ngôi chùa cũ trên đã được chuyển về bảo quản tại Ban Quản lý di tích Yên Tử, và sau này được chuyển về Nhà trưng bày. Chùa Đồng mới do các nghệ nhân đúc đồng ở Ý Yên, Nam Định thực hiện theo mẫu chùa Dâu Keo (Thuận Thành, Bắc Ninh), nặng 70 tấn, dài 4,6m, rộng 3,6m và chiều cao từ cột nền tới mái là 3,35m. Các hoa văn, họa tiết trên đầu đao, bệ mái mang đậm phong cách đời Trần. Toàn bộ xà ngang, xà dọc đều đúc hình đầu rồng. Bốn đầu chùa hình mái vẩy, trông tựa như hình bông sen đang nở vươn lên, được đục thành nhiều chi tiết khác nhau (hoa văn, họa tiết, mộng mẹo, v.v…) như một ngôi chùa gỗ, sau đó vận chuyển và lắp đặt trực tiếp trên đỉnh Yên Tử. Hai bên chùa có giá treo chuông, khánh. Sau chùa là nhà tăng cho sư an trú lo Phật sự của chùa.

Đường lên non Yên

Ngay sau khi nhà nước hủy lệnh trục xuất, mời gọi về. vợ chồng tôi cùng em Bùi Duy Tuấn tìm đường lên thăm Yên Tử vào tháng chạp cuối năm 1995. Hồi đó đường xá rất khó đi, chúng tôi phải dùng xe mô tô ôm (ngoài Bắc gọi là xe bình bịch).Nhìn từ xa Yên Tử có hình con voi nằm hướng ra biển nên còn có tên là núi Con Voi.

Con Voi

Chúng tôi phải qua các tiền trạm sau:

Chùa Trình (chùa Bí Thượng)

Chùa Trình

Chùa Suối Tắm (tắm gội tinh khiết trước khi lên non Yên)

Chùa Suối Tắm i

Chùa Cầm Thực (bắt đầu nhịn ăn cho lòng dạ thanh sạch)

Chùa Cầm Thực

Chùa Lân (còn gọi là Long Động Tự ở thôn Năm mẫu)

Chùa Lân

Chùa Lân dựng trên ngọn đồi có hình con lân, là nơi tam tổ Trúc Lâm Thiền Phái Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang đến tu hành trước khi lên chùa Hoa Yên.

Chùa Lân ngày xưa có cổng lớn và đẹp nổi tiếng.Chùa Giải Oan ở chân núi Yên Tử. Chuyện cũ kể rằng: khi Trần Nhân Tông xuất giá lên Yên Tử tu hành, một trăm cung phi trước đó hầu hạ ông trong cung, cũng lặn lội theo ông lên Yên Tử. Nhưng vua khuyên họ nên trở về làm lại cuộc đời. Để tỏ lòng trung với vua, một trăm cung phi liền trẫm mình xuống suối Hồ Khê. Một số bị chết đuối. Để giải oan cho linh hồn họ, Trần Nhân Tông cho dựng chùa thờ cúng gọi là chùa Giải Oan. Suối Hồ Khê nơi các cung phi trẫm mình cũng mamg tên suối Giải Oan. Số cung phi thoát chết, vua cho tập trung dưới chân núi, làm nhà cho ở, cấp ruộng đất cho cầy cấy, cho lấy chồng sinh con, lập thành làng Nương làng Ru nay thuộc xã Thượng Yên Công.

Suối Giải Oan

Xung quanh chùa có 5 ngọn tháp, lớn nhất là tháp mộ Trần Anh Tông (con Trần Nhân Tông). Hai bên là tháp mộ Pháp Loa và Huyền Quang. Cạnh chùa Giải Oan có một cây sung cổ thụ (tên chữ là ưu đàm). Hiện nay cây sung bị cụt ngọn. Từ gốc lên chỗ cụt khoảng 15 mét. Thân to tròn và thẳng đứng. Tục truyền khi cây sung còn nguyên vẹn, cành lá sum suê che rợp một vùng. Trần Nhân Tông, sau khi chết hồn thường hiện trên ngọn cây sung này. Một hôm Hải Lượng Đại Thiền Sư Ngô Thời Nhiệm cùng 24 đồ đệ lên thăm Yên Tử, đi qua gốc cây ưu đàm bỗng thấy Trần Nhân Tông hiện trên ngọn cây. Phút chốc Điếu Ngự hóa thành hoa sung . Một bầy chim tới ngậm hoa bay đi rồi trở lại biến ra hoa sung rơi rụng. Ngô Thời Nhiệm liền đọc câu kệ:”Điểu thân phi điểu, Hoa hồn phi hoa, Hoành chỉ nhiên tha, Ngũ nại ngũ hà” (thân chim chẳng phải chim, Hồn hoa chẳng phải hoa, Đi đứng là bởi nó, Tôi có làm chi được)

Vợ tôi ngồi nghỉ trong chùa, chuyện trò với mấy bà vãi để tôi và em Tuấn bắt đầu leo lên vách núi dựng đứng phía sau chùa Giải Oan. Chúng tôi di qua Am Lò Rèn nhưng nay không còn dấu vết.

Danh Sơn Yên Tử

Bà Vãi

Từ đó lên Hòn Ngọc, đường xếp bậc đã quanh co men theo sườn núi. Hai bên lối đi là hai hàng tùng cổ thụ, được trồng từ khiTrần Nhân Tông lên Yên Tử tu hành. Trải qua 700 năm chùa tháp xây bằng gạch đá nhiều cái đã thành phế ích nhưng hàng tùng càng già càng vươn cao, thân và cành tạo dáng phong phú, rễ bám vào vách núi, tàn lá tỏa rộng như chiếc lọng khổng lồ che rợp con đường lên cửa Phật. Tùng Yên Tử có 3 loại chính; Thanh Tùng, Thủy Tùng và Xích Tùng. Xích Tùng là loại rất quí‎, vân gỗ đỏ như son, ở nước ta ngoài Yên Tử ra không nơi nào có. Trên mặt đường cheo leo đến Hòn Ngọc, rễ tùng trồi lên như sống trâu, đan xoắn vào nhau, tạo nên những bậc thang cho khách hành hương

Đường Tùng

Đường tùng

Trong chuyến đi anh em tôi gặp khách hành hương toàn đàn bà, có rất nhiều bà già hom hem mà vẫn hăng hái leo trèo. Thật đáng khâm phục!

Đường Tùng 02

Không chỉ trồng Tùng mà Đức vua – Phật hoàng Trần Nhân Tông còn cho trồng cả Trúc dọc đường lên chùa Hoa Yên. Đường Tùng và đường Trúc là hai con đường song song nhau tạo thành hai lối đi lên và đi xuống. Phật tử có thể đi lên bên đường Tùng và đi xuống bên đường Trúc hoặc ngược lại tuỳ theo sở thích của mỗi người. Trúc mọc thành rừng, là sản phẩm rất độc đáo, đặc trưng của Yên Tử. Trúc có thể sống nơi khô cằn nhưng quanh năm xanh tốt tượng trưng cho ý chí người quân tử, mang sức sống dẻo dai, biểu tượng cho sự trường thọ, vẻ đẹp thanh bạch, tao nhã của tạo hoá. Phải chăng vì lẽ đó Đức vua – Phật hoàng Trần Nhân Tông lấy tên rừng trúc, Trúc Lâm làm tên gọi cho dòng thiền do ông sáng lập.

Đường Trúc

Image result for rung truc yen tu

Image result for rung truc yen tu

ĐỌC THÊM: MĂNG TRÚC YÊN TỬ

Món đặc sản Yên Tử này được mọc tự nhiên trên các dãy núi Yên Tử và có hình dáng hoàn toàn khác so với măng ở các khu vực khác. Măng Trúc Yên Tử không to mập mà thon dài và rất chắc.Tùy nhu cầu của khách mua hàng mà măng trúc ở đây đươc bán theo cân hoặc theo bó. Nói về mùi vị măng trúc nơi đây vừa bùi ,vừa thơm, không quá đắng. Tương truyền các tu sĩ tu hành nơi đây trước đây đã sử dụng măng trúc là món ăn chính.

Măng trúc có thể được chế biến rất nhiều món khác nhau nhưng ngon nhất, thu hút nhất vẫn là món măng trúc chấm muối vừng. Măng trúc sau khi được thu mua đem giữ nguyên cả bẹ tươi rồi đem nướng trên than hoa sau đó được chấm với muối vừng. Bạn có thể thưởng thức món ăn này trên đỉnh Hoa Yên để vừa có thể ngắm cảnh vừa có thể thưởng thức món ăn này. Một điều thú vị nữa là mùa măng trúc thu hoạch cũng chính là mùa du lịch lễ hội

mang-truc-yen-tu mang-truc-yen-tu-1

Nhưng không hiểu sao, qua thời gian, món quà thanh đạm này lại trở thành một món ngon ở Quảng Ninh mà ai cũng tìm tới khi đến Yên Tử. Cây trúc sống sâu trong rừng, chịu nhiều sương gió, giá rét lạnh buốt trên núi. Măng trúc chính là một loại măng rừng Yên Tử, có dáng thon và nhỏ nhưng rất chắc chắn. Măng có vị ngọt bùi, hơi đắng nếu chế biến không kĩ. Ngon nhất là măng được xào với thịt dê hoặc thịt bò non. Để măng khỏi đắng, người nấu phải rửa măng thật sạch, cắt thành các lát nhỏ, có độ ngắn khoẳng 2 đốt ngón tay, bổ dọc và chú ý xào thật kĩ. Để cho món măng được thơm và ngon, người nấu có thể thêm một ít cần tây, hành tươi.
Ngược lại, vào mùa lễ hội kéo dài hết mùa xuân hàng năm, lại có trăm đôi chân dẻo dai khác không hề bước lên cáp treo, mà hàng ngày họ leo bộ lên những bậc cấp, trong đó có những đoạn đường rất cheo leo, là những hòn đá trơn trợt bám vào nhau để kiếm sống bằng nghề săn lùng hái lượm để bán đủ thứ cho khách hành hương. Đối với họ, cánh rừng trúc Yên Tử bạt ngàn và hiểm nguy kia là miếng cơm manh áo. Đó là những người hái măng và bán măng trên Yên Tử. Bên cạnh đó, trong cánh rừng bạt ngàn Yên Tử còn rất nhiều cây cỏ dược liệu, những cây cỏ này cũng được những người khai thác hái, đào… đem ra bán phục vụ khách du lịch. Trong cuộc hành trình đến Yên Tử, việc mua măng trúc hay nhiều thứ khác cũng là cái thú của người hành hương.

Những người bán măng và bán nhiều loại khác như khoai mài, các loại lá thuốc, rễ cây, nấm linh chi và nhiều cây cỏ hái từ trong rừng Yên Tử , bắt đầu bày bán từ mờ sáng, khi có người khách đầu tiên chạm đến miền đất thiêng này. Ngạc nhiên hơn khi lên tới tận con đường đầy gian nan để chạm gặp chùa Đồng, trong mây vờn và không khí lạnh buốt cũng bắt gặp cả mấy chục người bất kể trắc trở, bày hàng trên các gộp đá, mời chào khách mua. Có thể nói là mỗi người bán hàng trên đỉnh núi cao vời vợi của đỉnh Yên Tử cũng đã trở thành một vị bác sĩ khi họ chỉ định rành rọt các loại cây cỏ có công dụng chữa bệnh.

mang-truc-yen-tu-3 mang-truc-yen-tu-2

Măng luộc lên chấm với muối mè có hương vị riêng, khác với măng trong rừng khác. Măng đã được chế biến thành măng ngâm chua trong lọ cho khách tỉnh xa mua về làm quà. Một người buôn bán lý luận rằng nếu không khai thác măng thì rừng trúc Yên Tử khó phát triển. Còn những người quản lý thì không thể ngăn chặn lực lượng cả vài trăm người vào rừng Yên Tử, đủ mọi cách đào xới tìm măng và cây dược liệu. Du khách lại thích thú với đặc sản Yên Tử trong cuộc hành hương của mình…CỨ ĐÀO BỚI NHƯ THẾ NÀY THÌ LIỆU MAI SAU YÊN TỬ CÓ CÒN RỪNG TRÚC KHÔNG? THIỀN PHÁI TRẦN NHÂN TÔNG CÓ CÒN GỌI LÀ TRÚC LÂM THIỀN PHÁI KHÔNG?

HÒN NGỌC ở độ cao 400 mét cách chân núi, là một gò đất rộng phẳng nhô lên cao hơn sườn núi vài mét. Đây là nơi vua quan phải xuống kiệu, đi chân lên chùa Hoa Yên bái yết Trần Nhân Tông. Trên mặt HÒN NGỌC nhấp nhô hơn chục ngọn tháp hình trụ tứ giác, cao sàn sàn 2 mét. Đó là mộ các tăng ni phật tử tu hành và chết ở Yên Tử từ thời Hậu Lê đến đầu thời Nguyễn, trông xa như những Phật tử còn đương cầu niệm .

Hòn Ngọc

THÁP TỔ ( HUỆ QUANG KIM THÁP)

Tháp Tổ (Huệ Quang Kim Tháp) do vua Trần Anh Tông cùng triều đình và Đệ Nhị Tổ Pháp Loa cùng các Tăng sỹ Thiền Phái Trúc Lâm xây dựng vào năm Kỷ Dậu,(1309), sau một năm Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết bàn, là nơi lưu giữ xá lợi của Phật Hoàng.

Tháp Tổ là tháp trung tâm của Vườn tháp Huệ Quang.

Tháp Tổ - Ảnh 1

Tháp Tổ- Huệ Quang Kim Tháp

Tháp Huệ Quang hiện đã được trùng tu nhiều lần. Chỉ có phần nền và bệ tòa Sen phần đế tháp còn giữ được dáng vẻ ban đầu của nó. Hiện nay Tháp Huệ Quang cao 7m, đặt trên một nền đá xanh ghép hai cấp có dạng hình lục giác,

Trong tháp thờ Bảo tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông ngồi Thiền dáng khoan thai, an nhàn tự tại được tạc bằng đá cẩm thạch vào thời Lê Sơ.

Tháp Tổ - Ảnh 2

Bảo tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông

Khu Vườn Tháp Tổ là nơi tụ vương linh khí của Long mạch Yên Tử khởi nguồn từ đỉnh Non thiêng theo hướng Bắc Nam.

Quanh Lăng là những cây Đại, cây Tùng cổ kính và nhiều tháp mộ lưu giữ “Ngọc Cốt” của các Thiền sư tu hành ở Yên Tử trải qua các thời đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn, tọa lạc trong Vườn Tháp Huệ Quang linh thiêng.

Phía sau Tháp Tổ là hai Mắt Rồng tụ thủy thành 2 cái hồ nước, lưu giữ khí thiêng sông núi. Hai hồ nước nằm hai bên tả hữu như chầu vào vườn tháp. Người xưa theo phong thủy gọi đây là cặp mắt rồng. Hai hồ này được Tam tổ Huyền Quang trồng hoa sen. Nhưng không biết từ bao giờ, mắt rồng bên trái bị bồi lấp, chỉ còn là hố đất, cây độc mọc hoang khắp lòng hố. Vì sao mắt rồng này không còn sinh thủy?

Vườn Tháp Huệ Quang

Image result for tháp tổ huệ quang

Vườn Tháp Huệ Quang 01

Theo truyền thuyết “Ngày xưa, giặc phương Bắc sang xâm lược nước ta. Chúng đem theo cả phù thủy, thầy địa lý tìm các huyệt đạo của núi sông nước Việt để yểm bùa trị huyệt. Chúng mưu toan làm nước ta tuyệt diệt hết nhân tài, hồn thiêng sông núi tiêu tan để yên bề đô hộ. Chúng biết Yên Tử là đất thiêng nên tìm mọi cách chọc mù cặp mắt rồng, yểm bùa, trồng cây độc ở ngay chính giữa đáy mắt rồng bên trái nên chỉ còn một mắt phải”.Năm 1998, sư thầy Thích Diệu Nhàn nhiều năm trụ trì chùa Hoa Yên đã có cơ cảm nên tiến hành khôi phục lại mắt rồng bên trái, trả lại hình hài cặp mắt rồng thủa xưa.

Cũng tại vườn tháp Huệ Quang linh thiêng này, cách đây không lâu đã xảy ra câu chuyện có thật mà ông Trần Trương và nhiều người biết đến còn nhắc lại câu chuyện: “Vào cuối năm 1992, có một đội xây dựng nhà khách Yên Tử sau khi làm việc xong rủ nhau đi lễ chùa Đồng. Khi ngang qua tháp Tổ, thấy một hòn đá đặt trên ngọn của một ngôi tháp đổ. Hai cậu thợ trẻ trong đội liền đố nhau: Ai ném trúng hòn đá cho là “tài”! Một cậu vung tay. Hòn đá văng xuống đất. Lên tới chùa Đồng, cả đội mới phát hiện ra thiếu mất một người. Nhưng không ai lo, vì toàn là người địa phương Uông Bí cả. Sau mấy tiếng đồng hồ, xuống núi, về đến tháp Tổ, cả đội ngạc nhiên: Cậu ném đá kia đang ngồi xếp bằng, mặt áp vào tường tháp, hai tay đặt lên đùi, hỏi chẳng nói, gọi chẳng thưa, ngồi im bất động như khúc gỗ! Một cậu vội vã thỉnh sư thầy Diệu Nhàn xuống làm lễ sám hối. Lát sau, cậu thợ trẻ nghịch dại kia mới tỉnh, khóc nức nở rồi lặng lẽ theo anh em xuống núi

 

Chùa Hoa Yên

Chùa Hoa Yên 95

Đường dốc thoai thoải từ Tháp Tổ lên chùa Hoa Yên giữa hoa cúc vàng, hoa đại trắng xum xuê rực rỡ nên đời sau vua Lê Thánh Tông đến Yên Tử đã đổi tên chùa vốn là Vân Yên từ thời Trần Nhân Tông thành Hoa Yên. Trước mặt chùa có cây đại cổ 700 tuổi và bên cạnh chùa có phiến đá chạm nổi hình 3 ni cô ngồi xếp bằng, vòng tay trước ngực, cổ đeo tràng hạt.

Cây Đại Cổ 700 tuỏi

.Hoa Yên là nơi tiếp đón các vua quan trong triều từ Thăng Long lên yết bái Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Hoa Yên lớn nhất trong hệ thống chùa am tháp Yên Tử nên xưa kia còn gọi là Chùa Cả.

Tháng chạp cuối năm 2002, lúc đó đã có cáp treo tới chùa Hoa Yên, tôi đưa cả đại gia đình (vợ Việt Hương, em Bùi Duy Tuấn, con trai Bùi Duy Thiện, con dâu Hồng Lam và 4 cháu nộị Bùi Duy Ân, Bùi Duy Việt, Bùi Duy Hiên, Bùi Duy Vĩ) lên thăm Yên Tử.

Yên Tử 27 Dec 2002

Trần Nhân Tông và Trúc Lâm Thiền Phái Việt Nam

Ông Vua khai quốc của triều Trần là Trần Thái Tông (Trần Cảnh) đã từng bỏ thành Thăng Long lên Yên Tử tìm gặp Thiền Sư Hiện Quang (sau này được Trần Thánh Tông phong làm Phù Vân Quốc Sư) để thỉnh cầu:”Trẫm muốn vào núi thành Phật chứ không cần gì khác”. Nhà sư Phù Vân trả lời: “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng. Lòng lặng mà hiểu, đó chính là chân Phật. Nay, nếu Bệ hạ giác ngộ ngay Tâm đó, thì lập tức thành Phật, không nhọc tìm kiếm bên ngoài. Vua bất đắc dĩ trở lại hoàng cung khi Thái sư Trần Thủ Độ đích thân lên mời về.

Trần Nhân Tông là con vua Trần Thánh Tông, cháu nội vua Thái Tông Trần Cảnh, sinh năm 1258 và mất năm 1308. Thủa nhỏ Trần Nhân Tông thường theo vua cha Thánh Tông lên Yên Tử nghe Phù Vân Quốc Sư giảng kinh Phật.

Trần Nhân Tông được Vua cha là Thánh Tông đặt tên là Phật Kim vì sinh ra có sắc vàng, sau còn có tên là Nhật Tôn rồi mới đổi thành Trần Khâm. Năm 16 tuổi, ông được lập làm Đông cung Thái tử và kết duyên cùng Quận chúa Quyên Thánh, trưởng nữ Hưng Đạo Đại Vương. Ngài được vua cha hết lòng dạy dỗ, soạn Di hậu lục để chuẩn bị cho việc nối nghiệp. Dù đã ở ngôi Thái tử (sau 3 lần chối từ, muốn nhường cho hoàng tử em) nhưng Trần Khâm đã nhiều lần trốn đi tu song không thành. Bốn năm sau, năm 1278, Trần Thánh Tông quyết định truyền ngôi báu lại cho Thái tử Trần Khâm. Trần Khâm lên ngôi Vua tức Trần Nhân Tông năm 21 tuổi, giữa thời gian sôi động nhất của dân tộc ta. Trong vòng 30 năm (1258-1288), dân tộc ta liên tiếp tiến hành 3 cuộc kháng chiến chống một kẻ thù hung hãn nhất thời bấy giờ là quân Nguyên Mông.

Mặc dù một lòng hướng Phật và ham thích Thiền học, Trần Nhân Tông lại là một đấng minh quân kỳ tài và một vị chiến tướng dũng mãnh. Năm 1282, vua Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông chủ trì hội nghị Bình Than là một hội nghị quân sự tìm kế sách chống Nguyên Mông. Trong dịp này Trần Khánh Dư được tha để đái công chuộc tội (thông dâm với con dâu Hưng Đạo Vương, tức công chúa con gái vua Trần Thánh Tông) và có câu chuyện Trần Quốc Toản nhỏ tuổi (16 tuổi) không được vào họp, tức quá bóp nát quả cam trong tay lúc nào không hay.

Năm 1284 được tin quân giặc tập trung ở Hồ Nam tới 50 vạn tên, vua Nhân Tông liền trao cho Trần Quốc Tuấn chức Quốc công tiết chế tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang để lo chống giặc. Ngoài ra Trần Nhân Tông cùng với Thượng Hoàng Trần Thánh Tông còn tổ chức triệu tập các bô lão về họp ở điện Diên Hồng để hỏi ý kiến về đường lối giữa lúc dầu sôi lửa bỏng. Hội nghị Diên Hồng là một đại hội đại biểu nhân dân thời ấy, đã bày tỏ quyết tâm sắt đá của toàn dân đánh giặc đến cùng, đem lại quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc cho muôn dân Đại Việt. Đến năm 1285, với tinh thần bảo vệ dân tộc, tổ quốc của toàn dân, Ngài đã lãnh đạo và chiến thắng cuộc xâm lăng của Nguyên Mông .

Sau đó, quân Nguyên Mông vẫn chưa nguôi ý đồ bành trướng phương Nam, tiến chiếm Chiêm Thành, làm bàn đạp với ý đồ thôn tính Đại Việt. Năm 1288, vua Trần Nhân Tông một lần nữa lãnh đạo toàn dân, toàn quân chiến thắng quân Nguyên.

Cùng với Trần Quốc Tuấn, Trần Nhân Tông đã lãnh đạo nhân dân hai lần đánh bại sự xâm lược của quân Nguyên – Mông, lúc bấy giờ đang làm bá chủ trên khắp hai lục địa Á – Âu vào các năm 1285-1288 nhất là đại thắng trận Bạch Dằng Giang năm 1288. Trong cuộc chiến lịch sử này, Trần Nhân Tông cùng với vua cha chỉ huy đạo thủy binh hỗ trợ đắc lực cho bộ binh. Khi cuộc chiến thắng lần thứ ba kết thúc, đất nước sạch bóng quân thù. Trong buổi lễ trang nghiêm mừng thắng trận, Trần Nhân Tông dẫ cảm khái đọc 2 câu thơ đầy khí phách hào hùng:

“Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,

Sơn hà thiên cổ điện kim âu”

(Đất nước hai phen chồn ngựa đá,

Sơn hà ngàn cổ vững âu vàng)

Năm 41 tuổi, nhà vua nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông lên làm Thái Thượng Hoàng. Một năm sau đó, Ngài cầm quân sang chinh phạt Ai Lao, giữ yên bờ cõi, buộc đất nước Vạn Voi tiếp tục thần phục Đại Việt.

Năm 1301 sau chuyến thăm hữu nghị Chiêm Thành, Thái Thượng Hoàng hứa gả Công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân. Đến năm 1306, Ngài tổ chức hôn lễ cho công chúa và vua Chiêm. Chế Mân đã dâng hai quận Châu Ô, Châu Rí cho Đại Việt làm quà sính lễ. Đây chính là điều kiện giúp cho Đại Việt mở rộng bờ cõi về phương Nam là Thuận Hóa (Huế).

Có lẽ vì thời điểm Trần Nhân Tông nhường ngôi, Trần Anh Tông còn quá trẻ (Trần Anh Tông sinh năm 1276, khi lên ngôi mới 17 tuổi), nên Trần Nhân Tông đã quyết định ở ngôi Thái Thượng hoàng trong 5 năm sau đó trước khi quyết định rời khỏi Hoàng cung lên Yên Tử một lòng tu Phật. Trần Nhân Tông là ông Vua nhà Trần đầu tiên xuất gia theo đúng nghĩa của từ này. Hơn thế, chính Trần Nhân Tông là người đã hợp nhất các dòng Thiền lưu truyền từ trước để sáng lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, một dòng Thiền của riêng Việt Nam.

Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ thế kỉ thứ I trước Công nguyên và đi vào lòng dân tộc với bao thăng trầm. Tuy nhiên, chỉ đến khi xuất hiện Thiền phái Trúc Lâm mà vua Trần Nhân Tông là vị tổ thứ nhất ở thế kỷ 13 thì Phật Giáo Việt Nam mới chính thức có tông phái riêng, nền tảng triết lý, hành đạo riêng với tư tưởng nhập thế đạo đời không tách rời. trước Trúc lâm Yên Tử, các tông phái Phật giáo ở Việt Nam đều do người nước ngoài sáng lập, song đến Trần Nhân Tông, Phật giáo không còn là Phật giáo Ấn Độ tại Việt Nam, cũng không phải là Phật giáo Trung Quốc tại Việt Nam, mà là Phật giáo Việt Nam. Bước chuyển trong quá trình bản địa hóa Phật giáo chính thức được đánh dấu với sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm tại Yên Tử.

Trần Nhân Tông là ông tổ thứ nhất của phái Trúc Lâm. Pháp Loa kế nghiệp là tổ thứ hai (mất năm 44 tuổi). Kế vị là Huyền Quang tôn giả, ông tổ thứ ba của phái Trúc Lâm. Huyền Quang nổi tiếng thông minh, 3 lần đỗ trạng nguyên nhưng không ra làm quan. Ông thụ giới theo Bảo Sái thiền sư. Điếu Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông ngự giá đến chùa, trông thấy Huyền Quang đem lòng yêu mến cho theo hầu cận. Vua Trần Anh Tông khen Huyền Quang là chân tu , không vẩn chút tính dục như nước không gợn sóng, gương không bụi mờ. Mạc Đĩnh Chi tâu:”Người ta vẽ hổ chỉ vẽ được da không vẽ được xương. Cứ thử xem thế nào?”. Vua bèn cho một cung phi vừa đẹp vừa tài tên là Điềm Bích đến Hoa Yên giả đò tầm sư học đạo để thử lòng Huyền Quang. Ít lâu sau Điềm Bích trở về tâu vua tư cách trong sạch của Huyền Quang khiến vua càng thêm khâm phục vị đệ tam tổ Trúc Lâm.

Đến đời sau, Ngô Thời Nhiệm, một đại thần nhà Lê đến Yên Tử học đạo cũng nhận thấy chỉ có Huyền Quang là hiểu được tấm lòng cao đẹp tưởng chừng xuất thế mà đích thực nhập thế tích cực của Nhà Sư Hoàng Đế như ông đã viết:”Người ta thấy Điếu Ngự đệ nhất tổ đến ở chùa Hoa Yên thì bảo là người xuất gia nhưng ta (tức Ngô Thời Nhiệm) biết rằng Đức Ngài chưa an tâm vì phía Bắc vẫn có nước láng giềng mạnh mẽ mà tham lam muốn bành trướng. Cái ‎ ấy không tiện nói ra sợ lòng người giao động. Cho nên nhằm được ngọn núi Yên Tử, phía đông nhìn về Yên Quảng, phía bắc liếc sang Cao Bằng Lạng Sơn, dựng lên ngôi chùa dạo chơi lúc thường mà canh chừng quân bắc phương xâm phạm. Thật là một vị Vô Lượng Đại Thế chi Bồ Tát. Lúc bấy giờ chỉ có Huyền Quang tôn giả hiểu được điều ‎ đó mà theo Ngài”.

Tuy ngồi thiền trong am cỏ Ngọa Vân trên đỉnh núi Yên Tử. Đức Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông đã dùng hào quang định lực của mình mà quán chiếu trong, ngoài, trên dưới, mọi sự với Ngài đều thông tỏ. Không bàn tới yếu tố tĩnh mịch, linh thiêng của ngọn núi này mà xét tới tính khoa học của vấn đề, các nhà nghiên cứu cho rằng: Những quả núi lâu đời như Yên Tử như Hy Mã Lạp Sơn (Tây Tạng), … đều có lực từ trường khá lớn. Những luồng điện này sẽ làm tăng thêm lực cho dòng lưu nhân điện trong thân thể những người ngồi thiền nơi núi đó.

Trên đỉnh núi Yên Sơn, cách biệt với kinh kỳ. Vua Phật Nhân Tông vẫn rõ được triều chính, nhiều lần về triều khuyên bảo vua Anh Tông tu dưỡng tâm tính, kìm bớt lòng dục, xa rời tửu sắc, gìn giữ chân tâm… xứng đáng trở thành bậc quân vương tôn kính. Ngài còn biết rõ được biên cương phương bắc, phương tây và phương nam, có được những quyết sách lớn lao và đúng đắn nhằm gìn giữ tình bang giao giữa các nước láng giềng và Đại Việt, giữ vững nền an ninh chính trị nước nhà.

Cũng chính ông Vua một lòng hướng đến Phật môn này đã từng có những tuyên bố nảy lửa: “Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác”.

Cho nên, việc từ bỏ ngôi vua vào núi để tu hành của Vua Trần Nhân Tông tưởng chừng xuất thế, nhưng đích thực lại nhập thế tích cực. Từ chức vụ cao sang của Nhà Vua, Vua Trần Nhân Tông trở về ngôi tôn quý Nhà Phật. Vua từ cái nhất thời, hữu hạn mà trở về cái vô hạn, vĩnh hằng. Không phải lúc chết, Vua Trần Nhân Tông mới hóa Phật. Danh hiệu Vua Bụt (Phật Hoàng) đã được tôn vinh cho vua Trần Nhân Tông khi Ngài còn tại thế.

Người lớn tuổi nhất

leo đỉnh Fansipan

Cách đây gần 40 năm sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, đất nước đã hết chiến tranh. Tôi và gia đình được giáo sư Tôn Thất Tùng như thể dại diện cho nhà nước, mời ra Hà Nội để thăm lại Thăng Long ngàn năm văn vật là nơi chôn rau cắt rốn cùng trường đại học Y khoa Hà Nội, bệnh viện Phủ Doãn (nay đổi tên là bệnh viện Việt Đức) là nơi tôi khởi sự Y nghiệp. Nhưng tuyệt vời hơn cả là tôi được gặp lại cha mẹ già và các em sau hơn 20 năm xa cách. Phải nói đó là một điều đặc biệt dành cho tôi, một người mới đi tù cải tạo về và còn đương trong chế độ quản chế. Tôi về Hà Nội đúng vào dịp Tết, đầu năm 1976, “chân bước đi trên đường đầy hoa đào rơi, cha mẹ có hay chăng giờ con về”.

Ăn Tết xong ở Hà Nội với gia đình và bạn bè, tôi lên thăm Sa Pa, ngắm nhìn đỉnh Fansipan, nóc nhà của Tổ Quốc. cao vời vợi…

Sau đó tôi phải ra đi lưu vong xứ người để rồi hơn 20 năm sau mới có dịp trở lại Sapa. Sáng ngày 16 tháng giêng năm 2000 vợ chồng tôi ngắm nhìn đỉnh Fansipan trong ánh sáng bình minh từ núi Hàm Rồng với biết bao mơ ước được leo lên đó một lần trong đời. Tìm hiểu việc đó thì được biết phải leo trèo cả tuần lễ rất khó nhọc và nguy hiểm, chỉ có Tây nó leo thôi (hồi đó chưa có tuyến du lịch Fansipan). Tôi đành ngao ngán thèm khát ngắm nhìn đỉnh Fansipan, vẫn cao vời vợi đầy vẻ ngạo nghễ và thách thức.

Đỉnh Fansipan Hàm Rồng Sapa B 16 an 2000

Đỉnh Fansipan vời vợi ngay trên đầu vợ tôi

Đỉnh Fansipan từ Hàm Rồng Sapa A 16 Jan 2000

Hình chụp từ núi Hàm Rồng, Sapa

Tôi đã đi cùng khắp thế giới những nơi núi cao sông dài kể cả Nam cực và Bắc cực. Năm 72 tuổi tôi bước chân lên Bắc cực ngày 20 tháng tư năm 2006, được Trung tâm quản lý Bắc cực Expeditional Center Pollus tại Ice Camp Barneo (do người Nga quản lý) cấp giấy chứng nhận: “BÙI DUY TÂM là người Việt Nam đầu tiên tới Bắc cực”. Việc này đã được truyền hình, báo chí trong nước và ngoài nước loan tin và cho đến nay chưa có ai phản đối. Vậy tôi có lẽ đích thực là người Việt Nam đầu tiên bước chân lên Bắc cực. Thế còn cái đỉnh Fansipan có 3.143m, bây giờ người ta leo lên leo xuống như đi chợ mà tôi vẫn còn phải ấm ức sao, mai mốt chết có nhắm mắt được không hay cứ mở mắt ngướv nhìn đỉnh Fansipan cao vời vợi.

Được nghe kể:

– Có ông Tây nặng 300 kí (chắc là 300 lbs thôi) thuê người khênh lên tận đỉnh Fansipan.

– Có người thanh niên Việt Nam cụt chân, chống nạng leo lên Fansipan. Thế tôi thì sao: nặng có 70 kí, lại còn cả hai chân hai cẳng.

Lại được nghe kể:

– Có đôi nhân tình tán tỉnh nhau đã tới mức “xem trong âu yếm có chiều lả lơi” thì cô nàng ỏn ẻo thưa rằng “chỉ làm việc đó trên đỉnh Fansipan”. Chàng ta năn nỉ xin hạ giá xuống là “Chùa Đồng, đỉnh núi Yên Tử”. Cô nàng bằng lòng và giao hẹn: “Nếu chưa leo tới … thì chưa động phòng”.

– Có đôi nam nữ thanh niên lôi nhau lên đỉnh Fansipan để mi nhau. Hình chụp hai cô cậu áp bụng trên bụng dưới vào tấm bằng hình cái mốc của đỉnh Fansipan có khắc hình ngôi sao. Không nên, không nên, như thế là phạm thượng. Sao không âu yếm ngồi xuống hay đứng bên tỏ tình để đỉnh Fansipan vẫn vời vợi, vẫn là nóc nhà Tổ Quốc.

Thế ra ĐỘ CAO làm cho TÌNH YÊU lên men đến vậy sao !

Tôi quyết định chinh phục đỉnh Fansipan mặc dầu tuổi tác ngót nghét 80 (tuổi Giáp Tuất) và mở mạng ra coi những điều cần biết cho chuyến đi.

– Bảng kê các vật dụng cần mang theo quá dài, còn nhiều thứ hơn cho chuyến đi Bắc cực của tôi.

– Phải kiểm tra sức khỏe và tập luyện chạy dốc nhiều tuần lễ trước khi đi.

– Thống kê cho thấy rất ít người tuổi 50, 60 (U40, U50, U60). Phổ biến nhất là tuổi 20 (U20). Được nghe kể có một ông Tây đã từng là vận động viên Thế vận hội, 72 tuổi, leo tới gần đỉnh mà không chịu leo nốt vì mệt quá phải trở về, mặc dầu chỉ còn 20 phút nữa và người cao tuổi nhất trên 70 cho đến nay vẫn không có ai hay mình chưa biết thì đúng hơn.

– Hiện nay có nhiều cung đường để leo Fansipan

1. Cung trạm Tôn (1.900m) – Fansipan – Trạm tôn: 2 ngày 1 đêm. Đường này ngắn nhất, dễ đi nhất (một lượt là 8.36 km) 8 cây số đường rừng núi không dễ nuốt đâu. Cảnh vật đơn điệu, ngút ngàn rừng núi.

2. Cung Bin Chải (1.260m) – Fansipan – Trạm Tôn: 3 ngày 2 đêm. Đường này khó đi hơn dài hơn với những đoạn đường cheo leo mép vực, với những tảng đá rêu phong trơn trượt.

3. Cung I Cát cát (1.245m) – Fansipan – Trạm Tôn: 4 ngày 3 đêm. Phải nói ngay rất nhiều vất vả trong những ngày nắng còn mùa mưa thì khỏi nói. Đây là đường dài nhất, hiểm trở nhất nhưng cũng là đường đẹp nhất, băng qua những bản làng người H’Mông, Dao rất đẹp, một hành trình dài 19,5km với rừng hoa đỗ quyên, rừng tùng, rừng thảo quả bạt ngàn mê mải. Đi vào mùa xuân thì hẳn phải sững sờ vì cảnh đẹp như tranh vẽ, còn đi vào mùa đông phải xét lại nhất là vào mùa mưa.

4. Cung I Dốc Mít – Bình lư – Fansipan: 6 ngày, rất nguy hiểm, chỉ có dân leo núi lành nghề với đầy đủ trang bị. Chỉ có khách Tây mới dám đi.

Khẳng định là việc bạn leo Fansipan không có người hướng dẫn là cực kỳ nguy hiểm và khả năng lạc là 90%, 10% đúng đường do hên thôi. Có mẹo như sau: Bạn lên Sapa thử đi hỏi các tour leo FAN và bạn sẽ biết khi nào có nhóm leo và bạn lên Trạm trước đợi nhóm đó leo cùng là OK. Tiết kiệm đúng kiểu bụi.

* Kỹ thuật leo núi:

– Khi leo luôn bước đều chân dù đường dễ đi bạn cũng không nên đi nhanh, vì leo núi cần sự ổn định và sức bền.

– Cố gắng tập thở ra bằng miệng hít vào bằng múi.

– Không nên ráng sức, nếu thấy mệt thì nghỉ ngay, vì bạn đi trời lanh rất dễ bị choáng nếu không kiểm soát được mà lủi đại xuống miệng vực thì toi đời. Bình quân đi 3 – 7 phút lại nghỉ.

– Nước chỉ nên uống từng ngụm nhỏ, không uống nhiều một lần, nên ngậm kẹo ngọt hoặc chocolate, hoặc bánh orion để thêm lượng đường trong máu.

– Mỗi khi dừng chân nghỉ thì nhớ quàng khăn ngay để tránh cảm lạnh, tai luôn bịt kín đừng để mây vào bên này bay ra bên kia.

– Khi leo vách đá hoặc lên dốc nhớ kiếm vị trí chắc chân mới bước, đừng mạo hiểm với tính mạng, chú ý leo lên vách đá thì nhớ nhìn phía trên trước hẵng leo kẻo húc đầu vào đá.

– Nếu bạn đi với bạn gái hay vợ thì tốt nhất nên ngủ nam nữ riêng để bảo đảm sức khỏe (lời dặn thật buồn cười ! Leo đỉnh Fansipan mà lại leo đèo “Ba Dội” nữa thì có mà tự tử).

Sau khi liếc qua các chỉ dẫn trên mạng Internet, tôi nhấc điện thoại gọi cho các tour Fansipan. Kinh nghiệm của tôi là phải cố bằng được nói chuyện với hướng dẫn viên (tour guide) mới có được các thông tin cụ thể còn nói chuyện với nhân viên bán tour thì hỏng hết. Giá cả khác nhau khá xa. Tour đầu tiên cho tôi giá 1 triệu rưỡi/ ngày cho mỗi porter (porter nguyên từ tiếng Anh là người khuân vác hay nói đùa là anh “cửu vạn”), một tour khác (nói chuyện trực tiếp với tour guide) cho giá 500.000/porter cho cả chuyến đi. Tôi đòi thuê cáng kiệu như bên Trung Quốc nhưng anh tour guide cười nói đường đi dốc đứng leo chân còn khó làm sao cáng kiệu được. Porter sẽ dìu khách hay cõng những quãng ít dốc, nhiệm vụ chủ yếu của porter là đeo sau lưng những gùi đồ ăn, lều ngủ …, thường nặng nửa trọng lượng của thân họ. Vai trò của người porter quyết định sự an toàn và thành bại của chuyến đi.

Xin đọc vài đoạn trích từ bài rất hay của ký giả Mai Xuân Tùng, báo Tiền Phong về người Porter:

Nghề dẫn đường lên đỉnh Fansipan

Gùi hàng quá nửa trọng lượng cơ thể sau lưng, chân vẫn thoăn thoắt ngược dốc, vượt gập ghềnh đá, tận tụy dẫn đoàn luồn rừng, lên đỉnh núi, đó là những phu vận chuyển hành lý trên nóc nhà Đông Dương Fansipan.

dandg_984ac

Trên vai trĩu nặng gùi hàng các porter vượt qua cung đường dốc đá

Ảnh: Mai Xuân Tùng

Mồ hôi giữa núi lạnh

Chẳng biết việc vận chuyển hàng hóa cho khách du lịch lên đỉnh Fansipan cao 3.143m từ bao giờ đã thành một nghề. Đến nay, ở các thôn, bản dưới chân dãy Hoàng Liên, nhất là ở Sapa, người ta rủ nhau đi thành từng đoàn, từng tốp. Cũng từ lâu, người ta quen gọi những người hành nghề này bằng cái tên Tây chung là porter (người khuân vác). Porter chủ yếu là trai tráng bản địa người Mông.

Cung dễ thở nhất (mà đoàn tôi nối gót lên Fansipan) là từ Trạm Tôn, độ cao 1.900m.

Gọi là dễ nhưng cũng đủ khiến đoàn chín người chúng tôi phờ phạc. Dù ở cung hiểm trở hay dễ thở, thì tiền công của porter cũng ở mức 150.000 đồng/ngày. Người dẫn đoàn như A Lử thì được khoảng 200.000 đồng. A Lử cho hay, giá ngày công ấy đã có từ mấy năm trước đây rồi, giờ chưa tăng. Có tiếng thở dài lẩn nhanh vào sương gió lưng chừng trời.

Những porter trên rẻo cao phần nhiều có thể hình nhỏ. Trên vai lúc lỉu những chiếc gùi khéo đan bằng mây tre chất đầy thức ăn, nước uống, hay lều bạt, túi ngủ hành lý của khách.

Mỗi gùi nặng 30 – 50 kg. Hai quai bện từ những sợi đay thít chặt dính với lớp vải áo mỏng với thớ thịt. Những đôi vai của thanh niên tuổi 16 – 17, thậm chí trẻ như Vàng A Toại (14 tuổi), đã mau chai sần và tím sậm.

Không ít khách du lịch cao to tò mò chọn gùi hàng nhẹ nhất, nhưng chẳng mấy ai nhấc được khỏi mặt đất. Có anh vừa nâng lên đã bị gùi hàng giật ngã ngửa. Muốn làm nghề này phải có sức khỏe, quen địa hình, chịu đựng tốt và thêm lòng dũng cảm. Chỉ cần sơ sẩy trượt chân, không rơi xuống vực đá mất mạng thì cũng gẫy chân, tay như bỡn…

Những khách leo chậm, hay đoàn nhiều nữ thường khiến porter mệt nhanh hơn. A Lử nói: “Đoàn có người đi chậm hay nghỉ thì mình phải chờ hoặc cử người đi kèm. Chờ nhiều chân dễ chùn, vai hay mỏi”. Vì thế, chốt đoàn thường là hai porter khỏe và nhiều kinh nghiệm.

Trong cái nghề nặng nhọc này, bạc bẽo nhất là khi gặp kẻ coi đồng tiền của mình là to, mà thiếu sự cảm thông, tôn trọng. Nhiều người trong đoàn chúng tôi đợt ấy, không khỏi bức xúc khi thấy “đoàn bạn”, mặc quần áo “ngầu”, dường như dân đi “phượt” chuyên nghiệp, luôn miệng văng những câu chửi tục, nặng nhẹ với porter… Cũng có đôi bạn trẻ không biết vô tâm hay cố ý để một porter thồ trên lưng gùi hàng cao quá đầu đứng chờ họ chụp ảnh… “Chúng tôi quá quen và coi như phải chấp nhận khi hành nghề” – A Lử chỉ cười.

Ngày gùi hàng nặng nhọc. Đêm đến không phải lúc nào cũng có giấc ngủ để lấy lại sức. Trong căn lều chật hẹp, đẫm sương, đội vận chuyển chen chúc nhau. A Lử kể, những ngày khách đi đông, không đủ lán ngủ, porter trải bạt ra giữa rừng, thậm chí nằm lăn lóc, co quắp trên mặt đất, ngủ qua đêm.

Tờ mờ sáng ngày thứ hai nơi chặng nghỉ 2.800m so với mực nước biển, nhiều khuôn mặt porter phờ phạc sau đêm trắng, lại thoăn thoắt đôi tay lo bữa sáng cho đoàn. Những đôi tay trần nhúng vào nước suối buốt lạnh để rửa rau quả, bát đĩa…?

A Lử kể: “Có khách thì người ta (công ty) gọi đi. Bình thường mỗi tháng chỉ đi được vài chuyến. Nếu mùa du lịch, đi nhiều thì cả tháng được khoảng hai triệu”.

dandg2_1fd87

Mỗi chuyến đi, các porter nhận được 150.000 đồng/ngày.

Trách nhiệm

Ngoài việc mang vác hành lý, mỗi porter còn phải biết thành thạo nhiều việc khác, từ nấu bếp, chuẩn bị bữa ăn, đến làm trại, sơ cứu vết thương… Ngay những porter nhỏ tuổi như Vàng A Toại (14 tuổi) đã tháo vát, gọn gàng lắm trong việc chuẩn bị bữa ăn cho khách; chặt cành cây đan khung, căng bạt dựng lều khi nghỉ.

Tối, cái lạnh ập xuống nhanh hơn. Thiếu đi ánh lửa ngoài trời (phòng tránh cháy rừng, các đoàn khách và porter không được tự ý đốt lửa) càng làm tăng thêm cái tĩnh mịch, lạnh buốt của khí núi, sương rừng. Nhưng bữa ăn của khách chẳng sơ sài vì đã có những con người trách nhiệm.

Với sự khéo tay, lẫn chu đáo, bữa ăn ở độ cao 2.800 m ấy cũng chẳng kém gì mấy so với quán ăn nơi phố phường: thịt gà, bò xào nấm, canh miến, canh măng…

 

dandg3_79bb7

Các porter chuẩn bị bữa ăn cho đoàn tại chặng nghỉ 2.200m

 

Hầu như các porter lành nghề đều sẵn sàng lúc lên thì cõng hàng lẫn dìu khách, khi xuống đôi khi phải… cõng khách, do bị kiệt sức sau khi đến đỉnh. Niềm vui của họ là khi nhận được sự cảm thông của khách. A Lử bộc bạch, mỗi chuyến dẫn đoàn đi, các anh rất vui khi mọi người cùng lên tới đỉnh và quay trở về an toàn. Cũng buồn lắm, nhưng không thể nào khác, khi có người không thể đi hết hành trình. Trong bao nhiêu năm theo đoàn dẫn khách, A Lử vẫn cứ nhớ, cứ tiếc những lần cùng cả đoàn phải quay về khi gần tới đỉnh do thời tiết xấu.

Tận tụy và trách nhiệm, dường như có một nguyên tắc ngầm của người làm nghề vận chuyển ở đây, không ngồi ăn cùng và chung thức ăn với khách. Đáp lại lời mời của mấy bạn nữ trong đoàn tôi, các porter chỉ cười hiền khô kèm lời từ chối ngắn gọn. Có kinh nghiệm từ những lần leo trước, Triều, một thành viên trong đoàn, ý tứ nhắc mọi người để riêng một phần thức ăn, rau quả cho các porter. Những porter cũng khéo đáp lại thiện chí của đoàn. Cũng hiểu từ sự tận tụy mà cô bạn trong đoàn tôi cười xòa và vui vẻ chờ người trong đoàn khi xin nước từ một porter đoàn khác đi ngược chiều và bị từ chối: “Đây là nước của khách, mình không cho được”…

Chúng tôi rời Fansipan trở xuống khi trời đã ngả chiều. Ngược hướng chúng tôi, cung đường vẫn đậm đầy hình ảnh những người vận chuyển nặng trĩu gùi hàng, lặng lẽ lẫn tận tụy dẫn đoàn vượt dốc băng rừng, ngược hướng lên đỉnh.

Theo Mai Xuân Tùng

(Báo Tiền Phong)

Trước khi leo lên đỉnh non, ta nên biết qua về ngọn núi Fansipan Vị trí: Fansipan nằm trong dãy núi Hoàng Liên Sơn, về phía tây nam thị trấn Sa Pa, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai.

Đặc điểm: Fansipan là ngọn núi cao nhất trong dãy núi Hoàng Liên Sơn với độ cao 3.143m. Đây là một bảo tàng thiên nhiên kỳ vĩ, ẩn chứa cả một thảm thực vật với nhiều loài đặc hữu.

Với chiều dài 280km từ Phong Thổ đến Hòa Bình, chiều ngang chân núi rộng nhất khoảng 75km, hẹp là 45km, gồm ba khối, khối Bạch Mộc Lương Tử, khối Fansipan và khối Pú Luông. Cả mái nhà đồ sộ này ẩn chứa bao điều kỳ lạ, nhưng kỳ lạ và bí ẩn nhất, chính là đỉnh Fansipan…

Dưới chân núi là những cây gạo, cây mít, cây cơi với mật độ khá dày tạo nên những địa danh Cốc Lếu (Cốc Gạo), Cốc San (Cốc Mít)… Từ đây đến độ cao 700m là vành đai nhiệt đới có những vạt rừng nguyên sinh rậm rạp, dây leo chằng chịt. Từ 700m trở lên là tầng cây hạt trần như cây pơmu, có những cây ba, bốn người ôm không xuể, cao khoảng 50-60m, tuổi đời tới vài trăm năm. Pơmu (ngọc am) được mệnh danh là mỏ vàng của Lào Cai. Bên cạnh pơmu, còn nhiều loại gỗ quý hiếm khác như: lãnh sam, thiết sam, liễu sam, kim sam, thông đỏ, hoàng đàn … Các cây lá kim ken dầy với cây gỗ nhỏ trụi, thân luôn sũng nước vì càng lên cao, càng hay mưa có năm cả Fanxipan mưa suốt một tháng liền. Xen lẫn với rừng lá kim, là các loại hoa đỗ quyên, phong lan, hoàng anh rực rỡ. Hầu như bốn mùa, cả Sa Pa đều ngập tràn trong muôn sắc các loài hoa: lay ơn, thược dược, bgô, estcola… là những thứ hoa dưới đồng bằng hiếm có. Riêng hoa đỗ quyên có tới bốn chi với hai chục loài khác nhau. Có nơi đỗ quyên chi chít, rực rỡ cả núi rừng. Ở nước ta có 111 chi phong lan và 643 loài thì riêng Fansipan có tới 330 loài.

Lên cao 2.400m, gió mây quyện hòa với cây rừng, có lúc xòe tay ta tưởng đã nắm được mây. Từ độ cao 2.800m, mây mù bỗng tan biến, bầu trời quang đãng, trong xanh. Chỉ có gió thổi làm cho thảm thực vật phải dán mình vào đá. Phủ kín mặt đất là trúc lùn, những bụi trúc thấp khoảng 25-30cm, cả thân cây trơ trụi, phần ngọn có một chút lá phất phơ, nên loài trúc này gọi là trúc phất trần. Xen kẽ là một số cây thuộc họ cói, họ hoa hồng, họ hoàng liên… Đất xương xẩu trơ cả gốc, gió thổi không ngớt, khí hậu lạnh giá…

Trên điểm cao 2.963 có cột mốc đánh dấu năm 1905 người Pháp đã tới chinh phục đỉnh cao. Lên cao nữa là một khối đá khổng lồ, được kê lên bởi những hòn đá nhỏ tựa chiếc bàn. Đỉnh Fansipan đấy! Tiếng địa phương gọi “Hua-si-pan”, nghĩa là phiến đá lớn khổng lồ nằm chênh vênh. Đỉnh Fanxipan cao ngất giữa trời mây được kết cấu bởi những phiến đá như vậy.

Fansipan được ví là nóc nhà Việt Nam và của Đông Dương sừng sững đang chinh phục lòng ham mê leo núi của các du khách ưa mạo hiểm.

Chỉ còn một việc cuối cùng và quan trọng nhất là chọn tour và tour guide (hướng dẫn viên). Sau khi khảo người, khảo giá 4,5 chỗ. Tôi đã quyết định chọn một tour mà hai anh em ruột người guide (HDV) làm chủ, bố người H’mông, mẹ người Việt, có tên Việt Nam là Kiên, 28 tuổi. Kiên vừa ăn mừng cuộc leo đỉnh Fansipan lần thứ 100. Kiên nói sõi tiếng Việt (lên đến lưng chừng núi mà ngôn ngữ bất đồng thì lôi thôi lắm), không quan tâm đến tuổi tác của tôi (nhiều hãng tour khác đã thẳng tay từ chối khi biết tôi gần 70. Ấy là đã nói dối đến 10 tuổi), có thể tin được qua nhiều lần nói chuyện qua điện thoại (giữa chốn sơn lâm cùng cốc mà bọn họ giở trò uy hiếp thì mình thật vô phương chống đỡ) và hấp dẫn nhất là việc Kiên cả quyết sẽ đưa tôi lên tới đỉnh Fansipan, tuy chưa gặp tôi bao giờ, chỉ suy đoán qua giọng nói mạnh mẽ của tôi.

Vợ tôi vẫn thường theo tôi đi khắp nơi trên mặt đất này nhưng từ 5 năm nay bà bị bạo bệnh Parkinson không đi lại được, tôi sẽ phải đi với một người bạn, thể lực yếu ớt nhưng tinh thần mạnh mẽ, trí óc sáng suốt và tình cảm chân thành. Tôi quí mến và kính trọng bạn tôi. Người là nguồn cảm hứng cho tôi trong chuyến mạo hiểm này như thế mọi việc đã sẵn sàng chỉ còn việc chọn lựa thời gian cho chuyến đi hay tìm hiểu thế nào là mùa đẹp cho việc leo lên đỉnh Fansipan.

“Mùa đẹp” là mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, chuyện tối kỵ cho việc leo núi là trời mưa rào. Thế nhưng không phải ngày nào trong khoảng thời gian này cũng có thể leo núi. Thời tiết cũng đỏng đảnh như cô gái. Có những ngày khô hanh, gió khô thổi từ sườn Tây dãy Hoàng Liên Sơn, những ngọn gió mà người ta gọi là gió Ô Quy Hồ, khô nóng như gió Lào. Với những trận gió này đã từng có những du kháchTây leo núi với độc nhất một chiếc quần lót. Thời tiết này rất nguy hiểm cho du khách vì dễ xảy ra tai nạn cháy rừng. Mà rừng thì bạt ngàn là rừng trúc lùn, khi đã cháy thì khó dập tắt. Thêm vào đó, lá cây rơi xuống lâu ngày tích tụ lại thành lớp mùn rất dày cũng có thể tạo nên những đám cháy ngầm như những trận cháy trong rừng tràm của vùng U Minh trước đây.

Thời tiết đẹp cho chuyến đi chính là một đợt “nghỉ ngơi” giữa hai trận gió mùa Đông Bắc. Gió mùa Đông Bắc, sau khi thổi xuống Hà Nội, lại ngược lên, men theo sườn Đông của dãy Hoàng Liên Sơn mà thổi lên Fansipan, mang theo những luồng không khí lạnh và những trận mưa, từ những cơn sương mù đến những trận mưa rào, mưa đá. Nhiệt độ xuống dưới 00C và nước đóng băng. Thời tiết rất lạnh, những con suối ngập nước mưa mà tuyến đi phần lớn men theo các con suối. Thời gian đăng sơn phải dôi ra vài ngày để dự phòng cho sự thất thường của thời tiết. Nhiều khi phải hoãn lại hay hủy bỏ vì những cơn gió mùa Đông Bắc bất ngờ ập đến.

Có lẽ thời gian lý tưởng nhất để thưởng lãm Fansipan chính là tháng 2. Khi đó, mưa giảm, ít lạnh, hoa đỗ quyên nở rộ, trời trong xanh, có nắng, mây la đà xuống thấp, cảm giác như được “đằng vân” bay bổng. Một ngày nắng “trên đỉnh phù vân” là điều bao người ao ước khi chinh phục Fansipan.

Tháng 7 năm nay (2012) tôi phải về nước để chủ tọa phiên họp “Tế bào gốc trong ứng dụng vào Y Học” tại TP. HCM do Tòa Tổng Lãnh sự Mỹ bảo trợ nhân ngày Lễ Độc lập Hoa Kỳ. Nhân thể tôi muốn thực hiện điều mình trăn trở ao ước từ lâu, chẳng nhẽ phải đợt đến tháng 2 năm tới sao. Đi tháng 7, không sợ cháy rừng, không có gió mùa Đông Bắc, họa chăng vài cơn mưa rào cũng chẳng chết ai. Thế là tôi đi.

Tối Chủ nhật mồng 8 tháng 7, GS. Đào Văn Long tiễn đưa hai chúng tôi ra ga Trần Quý Cáp để lên tàu đi Lào Cai. Lúc chia tay, anh Long còn nói: “Anh nên suy nghĩ lại, lên Sa Pa nghỉ mát cho khỏe, tội gì mà phải mạo hiểm như vậy. nếu xảy ra điều gì thì thật khổ. Anh lớn tuổi rồi!”

Tôi thầm cám ơn anh, một người bạn thật tốt, tốt nhất trên đời. Nhưng đã “buông dây cung, mũi tên bắn đi” tới đâu thì tới. Que sera, sera!

Hướng dẫn viên Kiên đã đón chúng tôi ở sân ga Lào Cai 5 giờ sáng thứ hai 09/7, đưa về Sapa, cho đi ăn sáng. Để đề phòng các bất trắc có thể xảy ra, tôi gọi điện thoại cho Tòa Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ, cho trường Y Hà Nội báo cho biết những thông tin về chuyến đi. Chúng tôi có mặt tại Trạm Tôn lúc 9 giờ. Kiên sắp đặt cho mỗi chúng tôi 2 porter để phục dịch, lại tăng cường thêm 2 porter mới để vác đồ ăn, đồ ngủ đi trước sửa soạn chỗ ăn chỗ ngủ cho trưa nay và đêm nay. Cả thảy 6 porter với HDV Kiên và 2 chúng tôi tổng cộng đoàn 9 người. Rậm đám lắm! 4 porter phục vụ hai chúng tôi tên là Tính (lớn tuổi nhất, chừng 30), Súa, Zam, Hự khoảng 16, 17. Tất cả đều là người H’Mông và đều có vợ con cả rồi. Người H’Mông lập gia đình rất sớm. Chỉ có Tính người đẫy đà một chút còn ba em kia bé nhỏ, gầy cà tong cà teo. Thế thì làm sao cõng nổi ông Mỹ giả cầy hơn 70 kí này nhỉ. Đến lúc này còn biết nói sao. No choice !

Một hướng dẫn viên của đoàn khác đều dọa chúng tôi: “So với Phú Sĩ Sơn Fujiyama, đỉnh núi cao nhất nước Nhật, đỉnh “Fansipan nhà ta” chỉ kém có 600m chiều cao nhưng lại hiểm trở hơn nhiều do có nhiều đèo cao dốc đứng, thêm vào là tính khắc nghiệt và bất trắc của thời tiết. Với tất cả cung bậc của một cuộc chinh phục thật sự, chuyến leo đỉnh Fansipan không “xoàng” tí nào đâu, ông bạn”.

Đến gần 10 giờ rồi. Không muốn chần chừ gì thêm nữa, tôi đứng phắt lên ra lệnh “Khởi hành” như một nguyên soái.

Chúng tôi đi vào trong rừng, thoạt đầu đường thoai thoải dốc có thể nói là còn dễ đi. Xung quanh là rừng thật sự với vô vàn rễ cây bò ngoằn ngèo trên lòng suối, nước trong vắt róc rách chảy. Mùi lá mục quyện với hơi nước. Nắng nhẹ lên cao và chim hót trên tàn cây. Chúng tôi đi men theo một con suối cạn, băng qua mấy thân cây làm cầu bắc qua suối. Rồi bước vào một quả đồi xanh mướt, nhìn xuống Sa pa, nằm êm ả trong thung lũng, nhìn lên những ngọn núi cao vòi vọi, còn xa vời… mà ngao ngán.

Lối mòn trong rừng dẫn chúng tôi bắt đầu lên dốc nhiều hơn và đưa đoàn chúng tôi đi xuyên qua rừng đỗ quyên, không trúng mùa nên hoa chỉ lưa thưa.

Bạn tôi reo lên khi thấy những cây đỗ quyên to cao như cây cổ thụ, cành lá la đà, thân to cỡ một người ôm thật khác xa với cây đỗ quyên trồng trong chậu hay trong vườn nhà. Kiên (người hướng dẫn) cho biết “đến mùa hoa, cả vạt rừng này đỗ quyên nở rộ màu sắc rộn ràng: đỏ tươi, đỏ hồng, đỏ vạch trắng, vàng tươi, xanh trắng, sáng cả góc rừng”. Khí hậu mát ẩm và bóng râm của rừng già chắc thích hợp với loại hoa này. Bạn tôi tiếc không đi vào dịp tháng 2 sau tết để được xem rừng đỗ quyên nở hoa còn tôi thì nghĩ thầm chẳng đi ngay lần này thì chắc bao giờ mới đi được, nhớ lại lần đầu tiên ngắm nhìn đỉnh Fansipan, ước ao thèm muốn đắm say đã hơn 30 năm đúng thời gian của đời người.

Càng lên cao đường càng hẹp, càng gập ghềnh, những con dốc càng ác liệt có chỗ thẳng đứng phải có thang để sẵn cho du khách bám thang leo lên. Có những đoạn không có đường mòn, chúng tôi cứ phải băng rừng, leo đá, bám rễ cây theo chân mấy em porter người H’Mông mà đi

 

May thay sau 3, 4 tiếng leo trèo, vừa thấm mệt thì Lán 1 hiện ra.

Lán 1 ở độ cao 2.200m, nghĩa là chúng tôi mới leo được 400m từ độ cao 1.800m của Trạm Tôn.

Lán 1 là một khu đất bằng rộng khoảng 200 m2, xung quanh là núi và rừng cây nên rất kín gió, cách con suối khoảng 100m. Lán ngủ là một túp lều dựng lên bằng tre và phủ bạt xanh. Bên trong lều hai hàng giường ghép bằng tre cách mặt đất chừng 40cm. Kiên cho chúng tôi ăn bánh mì patê, thịt phó mát và cơm lam. Tôi ngạc nhiên thấy bánh mì ở Sa pa ngon hơn bánh mì Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Chắc lò bánh mì ở đây còn nhiều ảnh hưởng của Tây ngày trước. Chúng tôi gặp một đoàn sinh viên đại học Hà Nội, chừng 10 em rất hồn nhiên vui vẻ. Chúng cười đùa ồn ào vừa phải, chơi trò đứa nọ ngồi sau lưng đứa kia đấm lưng cho nhau thật dễ thương.

Sau nửa giờ ăn uống nghỉ ngơi ở Lán 1, chúng tôi lại lên đường. Mục tiêu hôm nay là phải tới Lán 2 ở độ cao 2.800m trước khi trời tốt. Từ Lán 1 đến Lán 2 là hành trình gian khổ nhất của chuyến đi. Càng lên cao, trời càng sương mù và gió. Sương giăng mắc khắp nơi, bám vào tóc vào áo nặng trĩu, trong khi gió như muốn cuốn mọi thứ lên cao. Khoảng trời xanh biến mất, những cây hoa đỗ quyên mờ dần. Khi đến độ cao 2400m cây cối bắt đầu thấp lè tè. Cũng may là trời râm mát nhiều mây nếu nắng to thì không biết sẽ ra sao vì tôi vốn sợ nóng nhất là khi leo trèo vật vả mệt nhọc chỉ cần le lói chút nắng là nóng mồ hôi ra, thở hổn hển, mệt chết đi được, thì làm sao leo trèo. Vì thế tôi chọn mùa mưa mà đi.

Ở độ cao 2.600m thì toàn thấy một loại trúc tăm mọc hai bên đường. Vượt qua được một đoạn đường trên sống núi, chúng tôi lại bắt đầu lao xuống một thung lũng khác để rồi ngay lập tức ngược lên trả lại độ cao bằng những con dốc ngày càng khó chơi hơn. Hai chúng tôi cứ leo được vài mét là phải dừng lại để thở, chờ khi tim mình dịu lại một chút là phải bước ngay nhiều khi gió lộng như muốn xô nghiêng cả người. May nhờ có các dãy lan can bằng các dóng tre mà vịn không dám bay xuống vực thẳm. Bạn tôi luôn đi sát sau tôi. Mỗi lần thấy tôi thở hổn hển thì nhẹ nhàng kéo tôi cùng ngồi xuống tảng đá bên đường: “Em cũng mệt lắm, kiệt sức rồi anh ạ. Chúng mình phải nghỉ cho hết mệt rồi mới có thể đi tiếp được”. Tôi ngắm nhìn bạn tôi, sao vẫn thấy đi đứng khoan thai, vẻ mặt bình thản, ăn nói dịu dàng như bao giờ. Bạn nói vậy chắc để chia sẻ an ủi mình chăng? Kiên luôn thúc giục: “Xin hai bác đi mau hơn kẻo đêm nay phải ngủ giữa rừng. Mình phải cố gắng tới Lán 2 trước khi trời sập tối. Ban đêm không có đèn, đường đá dốc đứng như thế này, con không biết phải làm sao”. Tôi không nén lòng được, tuy rất mệt cũng phải dặn giọng xuống, nói thẳng vào mặt nó: “Này cậu, cậu muốn phải ngủ lại trong rừng đêm nay hay muốn tôi đứng tim (nhồi máu cơ tim) mà chết ngay bây giờ. Tôi mà lăn ra chết thì các cậu tính sao đây – ném tôi xuống vực hay khênh cái xác chết xuống chân núi”. Thế là cậu ta tịt luôn, hô hoán thằng này thằng nọ dìu, kéo, đội đít, kéo tay, cõng bác Tâm. Chúng nó sợ phải ôm cái xác chết xuống núi thì phải cố lôi kéo cái xác sống lên Lán 2 cho kịp trước khi trời tối…

Tiếng người lao xao từ xa vọng lại, rồi ánh đèn lấp ló sau bụi cây. Cả bọn hét to lên: “Tới nơi rồi”. Thế là đã tới Lán 2, tôi còn sống đêm nay, ngày mai chưa biết ra sao ?

Trời tối mù mịt tôi không nhìn thấy Lán 2 hình thù ra sao, chỉ thấy le lói những ánh lửa và lao xao người ta đi lại. Tối nay chỗ trú của hai chúng tôi là một túp lều nhỏ như vung úp có hai cánh cửa nhỏ để ra vào. Hai chúng tôi sà vào nằm ngay xuống cho dãn xương dãn cốt, nằm im thin thít không còn hơi sức nào mà nói chuyện với nhau cho đến khi Kiên khệ nệ bưng vào mâm cơm tươm tất thịnh soạn đến đỗi ngạc nhiên. Nào là thịt gà rang, thịt lợn xào hành, thịt bò xào nấm, rau cải xoong xào, cà rốt tỉa hoa. Còn sang trọng ngon lành hơn nhiều bữa cơm ở Hà Nội, Sài Gòn hay bên Mỹ.

f 2

Nghe nói trong gia đình người đàn ông dân tộc (Mông, Thái) lo việc đi chợ nấu ăn.

Sau một ngày đi đường với họ tôi mới thấy họ thật là hiền lành. Họ dìu, dắt, kéo chúng tôi thật nhẫn nại dịu dàng. Còn các pha cõng nữa thật là cười ra nước mắt. Thôi để khi khác sẽ nói chuyện đó. Chúng tôi chẳng cần mời mọc nhau, ngốn nghiến ăn liền. Chưa bao giờ ngon miệng đến thế. Ăn vừa xong thì Kiên lại hiện ra mang hoa quả trái cây nước trà để tráng miệng và bưng mâm cơm đi. Ôi chao phục vụ kiểu cách cứ như nhà hàng 4, 5 sao. Nghĩ lại hồi chiều nổi nóng quạt cho nó một trận mà ân hận. Chúng tôi thay phiên nhau ra ngoài rừng làm các thủ tục tiện nghi rồi chui vào túi ngủ làm một giấc tuyệt vời… Đương ngủ ngon bỗng tỉnh giấc vì tiếng mưa rơi lộp độp đập vào mái lều. Mưa to lắm. Tôi nghĩ thầm mưa bây giờ thì tới sáng chắc sẽ tạnh. Yên tâm tôi ngủ tiếp … Một lúc sau bỗng nghe bạn tôi kêu oai oái: “Nước mưa thấm ướt lưng em rồi? Tôi càu nhàu “Ướt lưng thì chui sang đây, để yên cho tôi ngủ đi nào ? Bạn tôi xuống giọng: “Em hổng chịu đâu ?” và nằm yên ngoan ngoãn thức trắng đêm cho tôi tiếp tục ngủ.

Mưa ầm ầm như thác đổ từ 10 giờ đêm qua đến 8, 9 giờ sáng hôm nay vẫn chưa ngớt. Thế là tôi đã được thưởng thức “mưa ngàn, gió núi” , trước đây hồi vượt biên đã được nếm mùi “bão biển”. Vậy là đủ mùi ca “mưa rừng, gió núi, bão biển”. Trong ba chuyện đó thì bão biển là đáng sợ nhất.

Kiên mang quà sáng cho chúng tôi (hai bát mì nước và một đĩa xôi) rồi giục sửa soạn lên đường mặc dầu trời còn mưa. Tính, người porter lớn tuổi nhất cho biết “Hôm nay sẽ khó đi gấp mấy lần hôm qua”. Quả thật, đường lên đỉnh ngày càng khó khăn hơn. Chúng tôi phải đối mặt với những vách đá trơn trượt, những con dốc dựng đứng, những bãi sình lầy lép nhép mút chặt lấy đế giày leo núi của tôi. Có những đoạn phải gò người, chân dò tìm những gô đá khả dĩ leo lên được, tay quờ chỗ bám trên những rễ cây. Lại có những đoạn đường dốc trơn như bôi mỡ, phải đu người bám vào những thân trúc bên cạnh để trượt xuống. Mỗi bước đi là cả một nỗ lực to lớn về thể lực kèm theo một sự quyết tâm cao độ. Sức lực của chúng tôi cứ tụt dần theo những con dốc dựng ngược

f 1

. Càng đi càng thấy đường xa hun hút, càng đi bước chân càng nặng nề. Những ngọn núi cứ trùng trùng điệp điệp hết đèo này đến dốc khác như đội nhau lên mây. Ở độ cao 2.900m, mây mù đã ở dưới chân mà đỉnh núi thì vẫn còn đâu đó… trên trời. Thỉnh thoảng sốt ruột, hỏi Kiên xem còn mấy lần leo đèo xuống dốc nữa. Hắn nói còn một cái nữa … lúc nào cũng nói còn một cái nữa… Thôi không thèm hỏi cái thằng Cuội non đó nữa… cứ cắm đầu, lầm lũi mà đi, không ngước nhìn lên trên nữa. Có lúc tự hỏi sao mình “điên rồ” như vậy – đẩy mình vào một hoàn cảnh dở dang “lên chưa xong, xuống không được”. Nhiều khi chỉ ước có một cái trực thăng bốc mình đi hay nói dại nhảy đại xuống vực cho xong một đời.

Đến độ cao 3.000m thì mưa đã ngớt, những tia nắng đầu tiên trong ngày đã le lói qua tàn cây. Mây trắng la đà dưới chân. Trời xanh ngăn ngắt trên đầu.

 

Phong cảnh thiên nhiên thật hoang sơ, kỳ vĩ: Thung lũng bên dưới đang bừng tỉnh trong sương, một con suối nước trong vắt lấp lánh ánh nắng, nằm ẩn mình dưới tán một cây chè cổ thụ (chè tuyết = trà sùa) gốc 5, 6 người ôm, trên mặt đất rơi rụng bời bời những bông hoa trắng, hoa vàng, hoa tím to bằng cái bát.

f 4

. Xa xa là rừng tùng. Nơi cao nhất bao giờ cũng là chỗ ở của tùng. “Tùng dĩ trượng phu thiên niên kiện, trúc vi quân tử tứ thời xuân” (bậc trượng phu như cây tùng, cây bách nghìn năm vẫn tráng kiện; người quân tử cốt cách ngay thẳng như cây trúc, bốn mùa đều xanh tươi).

f 3

Mây từ dưới dâng lên ngùn ngụt, xóa nhòa cảnh vật… rồi bỗng chốc tan biến để lộ ra bầu trời trong vắt, vàng ươm làm nền cho cảnh mây ôm núi, núi ôm mây. Các em porter người H’Mông, chân đi dép nhựa, giơ ngang hai tay, lao đi vun vút, miệng reo “Sắp tới rồi, sắp tới rồi”. Qua thêm một con dốc, qua thêm một khúc quanh rồi cuối cùng đỉnh Fansipan hiện ra với chóp nhọn kiêu hãnh “FANSIPAN 3.143m”.

Thay vì hét thật to, nhẩy cẫng lên, khóc òa lên hay ôm nhau hôn hít như đa số mọi người, tôi đứng lặng người trên phiến đá chênh vênh “HUASI-PAN”, nắm tay Bạn mà tưởng như đang bồng bềnh trong giấc mơ hoa. Quả thật, tôi đã tới nóc nhà Tổ Quốc, tôi đã đạt thêm một đỉnh cao của cuộc đời.

BÙI DUY TÂM, sinh năm Giáp Tuất với tuổi gần 80 là người cao niên nhất đã chinh phục đỉnh Fansipan.

Đó là lúc 2 giờ trưa thứ ba ngày 10 tháng 7 năm 2012

Tôi xin mượn bài thơ sau đây của một tác giả (mà thật sự tôi không biết tên) để tặng cho người bạn đồng hành như một nụ hôn trên đỉnh Fansipan:

Một thoáng đầu thu, cùng em lên vùng hoang vu

Cùng đứng trên cao đỉnh FANSIPAN

Ở chốn thiên đường đó đất trời đã như để dành

Là dành cho ta giữa đại ngàn ấy

Nào hãy đắm mình trong mây mù xám

Trời mây Sa pa thoáng sương mù bay rồi biến nhanh

bất chợt trời lại sáng cứ như trong mây

chúng ta đùa vui trốn tìm nhau chúng ta tìm nhau.

Fansipan nơi đỉnh cao chót vót

Thông vi vu trong làn gió hương lan

Thác nghiêng nghiêng vùng thần tiên

Lên cao cao mây mù ôm lưng núi

Lên Sa pa thác bạc trắng lưng trời

Kịp trong vòng mây để hôn nhau đó

Rồi mây chợt tan để nắng thu vàng

Dẫn ta đi vào cõi thần tiên.

Fansipan 02

Trong khi cả đoàn bày đồ ra ăn bữa trưa, tôi vẫn đứng trên phiến đá chênh vênh hồi tưởng lại những cơn bĩ cực thái lai của cuộc đời…

Cuộc đời trần gian … quay cuồng chìm nổi

 

HDV Kiên lại giục giã mọi người chuẩn bị xuống núi. À, xuống núi không dễ đâu nhé, cũng trèo đèo đổ dốc hết hòn núi này đến hòn núi khác, leo leo xuống xuống những thành đá dựng đứng, nghĩ đến mà phát khiếp. Nghe kể có đoàn sinh viên Singapore đến Việt Nam để chinh phục đỉnh Fansipan. Một cô trong đoàn đã cố lết được tới đỉnh rồi nhưng nhất định không chịu đi xuống, ngồi khóc gọi điện thoại cầu cứu khắp nơi, đòi thuê trực thăng với giá 5.000 đôla chở xuống núi. Cuối cùng bốn anh em người H’Mông phải cho cô vào túi ngủ rồi thay phiên nhau vác xuống núi (với giá 2 triệu ĐVN).

Phần vì trong lòng phấn khởi, phần vì trời tạnh ráo, chúng tôi trở xuống Lán 2 trước khi trời sập tối. Đêm hôm đó không ngủ lều nhỏ nữa mà ngủ trên sạp bên trong lều lớn cùng với nhiều người (khoảng vài ba chục). Cái sạp tre dốc dốc, tôi nằm cứ bị tụt xuống hoài hoài. Cửa để mở cho dễ ra vào ban đêm, nên gió lùa vào ngay chỗ tôi nằm, lạnh quá không ngủ được, đưa tay sang cầu cứu bạn, bạn tưởng mình có ý bờm xơm, lấy móng tay nhọn, cấu cho một cái đau điếng, phải rút tay về, cả đêm không ngủ được. Trời mưa to bắt đầu từ chập tối cho đến trưa hôm sau. Sáng dậy vẫn phải nai nịt gọn gàng lên đường xuống núi. Đi trong mưa gió tầm tã, đường trơn tuột, không bước nổi phải trượt… trượt đất trượt bùn không vui thú như trượt tuyết đâu. Những quãng ít dốc, đường sá thoai thoải, các em porter thay phiên nhau cõng chúng tôi. Được cõng không sung sướng gì đâu, cứ tưởng tượng cảnh “que tăm khênh củ khoai” thì thấy khốn khổ chừng nào. Đi thì mỏi cẳng, cõng thì mỏi tay và tức thở chưa kể chết khiếp được mỗi khi các cậu bé con đó cõng ông Tây, bà Đầm đẫy đà trên lưng rồi lại tung tăng nhảy từ hòn đá này đến hòn đá nọ trong cơn mưa ngàn gió núi… Nhưng rồi thì chúng tôi cũng bò về được đến Lán 1 để dùng qua loa bữa cơm trưa trên sạp tre. Từ Lán 1 về Trạm Tôn là quãng đường dễ nhất nhưng đối với thương bệnh binh như hai chúng tôi thì vẫn chẳng kém gian nan chút nào. Mấy cậu porter vội về nhà (từ Trạm Tôn về nhà các cậu, phải leo đèo lội suối thêm 3, 4 tiếng đồng hồ nữa) nên hối hả giục giã chúng tôi đi nhanh hoặc các cậu ghé mình cõng chúng tôi chạy ào ào như ma đuổi. Nằm trên lưng các cậu bé tôi đành nhắm mắt thiếp đi vì mệt quá và cũng vì… khiếp quá cho đến khi trở về được ngọn đồi ngoạn mục gần Trạm Tôn. Tính, người porter nhiều tuổi nhất, nhảy cẫng lên reo hò mừng vui khi đưa chúng tôi đi đến nơi về đến chốn bình an và đạt ý nguyện. Nhìn thấy tấm bảng Trạm Tôn xa xa… tưởng như giấc mơ, quay lại thấy bạn tôi đã sát theo sau … theo tôi tự bao giờ và cho đến bao giờ ?

Sau này khi nhắc nhở đến chuyện chinh phục đỉnh Fansipan, bạn tôi cho biết “hậu Fansipan” thì chẳng còn việc gì là khó nữa, cứ nghĩ Fansipan còn vượt lên được thì chuyện gì chẳng vượt qua được. Tôi biểu đồng tình:

“Em lo gì trời gió

Em sợ gì trời mưa

Em buồn gì mùa hè

Em tiếc gì mùa thu

Em cứ yêu đời đi

Như lúc khi còn thơ”.

Viết xong 3 giờ 33 sáng,ngày thứ hai mồng 03 tháng 12, 2012

Tại biệt thự Hương Tâm, bãi biển Hoàng Hôn,TP. Cựu Kim Sơn

 

Bùi Duy Tâm

 

 

Hang Cọp (Tiger’s Nest) Paro Taktsang Bhutan

Hang Cọp với độ cao 3.120 mét nằm chót vót trên sườn núi thuộc tỉnh Paro, nơi có sân bay duy nhất tới nước Bhutan. Tôi không ham đi các đỉnh cao khác bên Âu Châu mà chọn Bhutan vì quốc gia này nằm khuất trên dãy Himalaya. Người dân ở đây được cho là Hạnh Phúc nhất thế giới.

Sau lễ khai giảng khóa đầu tiên cho Y Khoa Tân Tạo (10/9/2013), chúng tôi lên máy bay đi Bhutan. Sáng ngày 13/9/2013 chúng tôi leo lên Hang Cọp. Đường lên núi được cưỡi ngựa (dài 5 km) nhưng khi xuống phải đi chân vì sợ ngựa tuột dốc lao xuống vực thẳm. Đường lên dốc rất nguy hiểm vì rêu trơn và sườn núi dóc nhiều chỗ gần như thẳng đứng. Quãng đường rất ngoạn mục với những lá cờ nguyện cấu ngũ sắc giữa ngàn thông gió vi vút cùng tiếng suối reo chim hót.

Kiến trúc Hang Cọp không có chi ấn tượng, xây đi cất lại vài lần vì các cơn cháy. Vụ cháy gần đây nhất vào năm 1998 do lửa từ ngọn đèn bơ bắt cháy xuống các thảm treo.

Chuyến đi tương đối bình an trừ khi xuống gần cuối dốc tôi bị ngất đi té xuống vài giây (vì huyết áp tụt thấp đột ngột), làm người bạn la hoảng. Không sao! Với cơ thể một ông lão đã bước lên năm thứ 80 của cuộc đời được 5 ngày mà gượng đứng dậy tiếp tục đi ngay thì cũng không đến nỗi tệ lắm đâu!

Tiger's nest nhỏ

Hang Cọp 02 nhỏ

Đền Hang Cọp được xây lần đầu năm 1692 tại nơi được tin là Đại Sư Guru Padmasambhava đã ngồi thiền suốt trong 3 năm, 3 tháng, 3 tuần, 3 ngày và 3 giờ vào thế kỷ thứ 8. Đại Sư Guru Padmasambhava có công truyền Phật Giáo từ Tây Tạng vào Bhutan và là thần hộ mệnh cho đất nước này.

220px-Paro_Padmasambhava 220px-Taktshang_%28Tiger%27s_Nest%29_Monastery%2C_Paro_Valley

Hang nhỏ nơi Đại Sư ngồi thiền có treo bức tranh thảm Guru Padmasambhava, mỗi năm chỉ mở cửa 1 lần cho khách vào coi.

Paro Taktsang Hang Theo truyền thuyết Guru Padmasambhava hay còn gọi là Guru Rinpoche đã bay từ Tây Tạng qua Bhutan trên lưng con cọp cái nên nơi đây gọi là Hang Cọp (Taktsang). Hang nổi tiếng nhất trong số 13 hang cọp mà Đại Sư đã ngồi thiền thuộc vùng Paro nên Hang Cọp này gọi là Paro Taktsang.

Một truyền thuyết khác cho rằng người vợ cũ của một Hoàng Đế, muốn làm đệ tử của Guru Rinpoche (Padmasambahva) nên hóa thành cọp cái cõng Guru từ Tây Tạng qua Bhutan nơi bây giờ gọi là Hang Cọp Paro Taktsang.

Trong dân gian lại có truyền khẩu rằng Tenzin Rabgye, người đã xây ngôi đền năm 1692 chính là Guru Padmasmabhava từ thế kỷ thứ 8 đã tái sinh. Các bạn của Tenzin Rabgye thấy anh ta cùng một lúc ở trong và ngoài hang. Lại cũng thấy trên bàu trời Paro nhũng hình thù lạ và những cơn mưa hoa mà chẳng rơi xuống đất.

Tiger nest 03 nhỏ

Hang Cọp Paro Taktsang là nơi thiêng liêng có rất nhiều người nổi tiếng đến ngồi thiền định như Milarepa, nhà thơ đồng thời là thuật sĩ vĩ đại của Tây Tạng vào thế kỷ 11.

Vòng Cora quanh núi thiêng Kailash, Tây Tạng

Tây Tạng mới là nguồn gốc thiêng liêng nên chúng tôi phải đi Tây Tạng dù bội phần khó khăn hiểm trở, bội phần nguy hiểm chết người. Chúng tôi bay trở lại Kathmandu để đi Tây Tạng. Ngày 22/9/2013 chúng tôi dời Kathmandu với hướng dẫn viên Moti. Khi tới cửa khẩu Nepal-Tibet (mà bây giờ là Nepal-China vì Tàu đã sát nhập Tibet vào China) sẽ có thêm một guide khác người Tây Tạng. Nhà văn Trần Thùy Mai đã viết lại chuyến đi thật tuyệt vời như sau:

Vòng cora quanh núi thiêng Kailash

Trần Thùy Mai

Càng ngày càng nhiều người Việt quan tâm đến Kailash – Ngọn núi tuyết trong dãy Himalaya. Tuy chiều cao (6.638 mét) chưa thể so với Everest (8.848 mét và chỉ ở cách đó có 600km), nhưng Kailash mới chính là ngọn núi thiêng được chiêm bái nhiều nhất trên thế giới.

Đồng thời, đây cũng là ngọn núi nguy hiểm nhất: Hàng năm vẫn có những khách hành hương bỏ mạng trong khi đi quanh núi: Với người dân bản địa, cái chết ở Kailash không phải là một tai nạn, đấy là một ân phước.

Đi Cora quanh Kailash là một kiểu hành hương đặc biệt của người Tây Tạng. Hành trình mất khoảng hai ngày rưỡi, bằng thời gian để trèo lên đỉnh Fansipan của nước ta, và đường đi cũng không khó khăn bằng đường lên Fansipan. Nhưng thực tế cho thấy đi Kailash nguy hiểm hơn rất nhiều lần…

Những người đi cora quanh Kailash đa số không phải là những nhà thám hiểm. Phần nhiều họ đi với niềm tin, và niềm tin đã nâng đỡ họ. Trên đường cora, chúng tôi đã gặp Wang Feng, một nữ giáo viên quê ở Dương Châu. Cô tâm sự: Đi lần này là lần thứ ba, với ước nguyện cầu cho mẹ khỏi bệnh. Không phải chỉ có những Phật tử Tây Tạng mới xem Kailash là núi thiêng, niềm tin ấy đã lan tỏa trong nhiều người từ nhiều quốc gia khác nhau.

Kailash, vì thế không phải chỉ là một ngọn núi cao với thách thức về mặt địa lý, không phải là một nơi mà người ta chỉ cần đi cho biết, chụp hình rồi quay về. Kailash là giao điểm của văn hóa tâm linh Tây Tạng với khát vọng tâm linh của con người trên khắp thế giới.

P1020245.JPG

Khách hành hương Tây Tạng tam bộ nhất bái vòng quanh núi

Từ Kathmandu lên cầu biên giới

Tuy vậy, hội chứng thiếu dưỡng khí trên núi cao là một thứ ai cũng ngán, và tất nhiên ai cũng mong đi an toàn để trở về. Bay đến Kathmandu, thủ đô Nepal, chúng tôi được Satish, một người bạn ở đây mách cho biết: kinh nghiệm dân gian là dùng củ hành, nhai sống hoặc hít khói đốt củ hành cũng rất tốt. Nhưng trên đường cora, làm sao mà đem hành cho tiện, nếu đem thì đem bao nhiêu cho đủ. Hay hơn hết vẫn là uống thuốc ngừa mỗi ngày, thuốc này có bán ở một vài tiệm thuốc tại Kaathmandu với giá khá cắt cổ.

Chiếc xe mười sáu chỗ nóng bức tung lên vật xuống gần nửa ngày trên đoạn đường đầy ổ voi từ Kathmandu lên biên giới phía Bắc Nepal. Xe dừng, Moti bảo: “Các anh chị đã đến biên giới China.” Tôi ngạc nhiên: “Chúng tôi đi Tibet (Tây Tạng) mà?” Moti, người dẫn đường của công ty du lịch ở Nepal nhìn tôi như không hiểu tôi muốn nói gì. Tôi chợt nhớ ra: Tây Tạng đã nhập vào Trung Quốc từ hơn nửa thế kỷ rồi!

Từ lãnh thổ Nepal qua bên kia biên giới là một cây cầu, mỗi nước giữ một nửa. Bên này cầu là Kodari thuộc Nepal, bên kia cầu là Yangmu (hay Zangmu) thuộc Tibet. Hai bên là hai bộ mặt xã hội hoàn toàn khác biệt: Phía bên Nepal chỉ có mấy nhân viên mặc thường phục đứng lờ phờ, còn một nửa cầu bên Trung Quốc thì hai dãy lính Tàu bồng súng đứng nghiêm tăm tắp, mặt lạnh tanh còn hơn hai hàng lính “Uy vũ” trước cửa Bao Công.

phu Tây Tang

Một dân phu Tây Tạng đang thồ hàng qua biên giới

Chokyi, hướng dẫn viên Tây Tạng chờ chúng tôi bên kia cầu. Anh chào đón chúng tôi bằng cách khoác lên vai mỗi người một dải khăn trắng có vẽ hình tám dấu hiệu: cái còi, cặp cá vàng, cái ô, chiếc phướn, hoa sen, cái bình, bánh xe pháp luân và dải lụa thắt nút vô tận. Theo phong tục, đấy là những dấu hiệu tốt lành mang ý nghĩa cầu phước.

Chokyi mới hai mươi lăm tuổi nhưng trông khá già dặn, khuôn mặt khắc khổ rám nắng, chỉ khi cười mới thấy khuôn mặt tươi lên một chút. Trên đường đến Yangmu, anh mở cho chúng tôi nghe tiếng nói của đức Dalai Lama lưu sẵn trong phone của anh. Tôi hỏi anh hiện nay người dân có được tự do nghe lời và treo ảnh của Dalai Lama không, anh im lặng lắc đầu.

Phố núi Yangmu

Trên quãng đường từ biên giới đến Thị trấn Yangmu xe di chuyển rất khó khăn, kẹt kin kít cả dãy dài vì đường rất hẹp mà xe nào cũng muốn lách chạy lên phía trước. Nếu trên cầu biên giới lính Trung Quốc bồng súng đứng canh dày đặc thì ở đây lại chẳng có một mống công an nào, các tài xế cứ thế lay hoay thu xếp với nhau.

P1020461

Trên đường đến Yangmu

Đến chập tối chúng tôi mới đến được Yangmu. Khí hậu đã khác hẳn, cái nóng oi bức ở Kathmandu đã thay thế bởi cái lạnh buôn buốt trên da thịt. Bước vào nhà nghỉ bốn tầng, thấy mỗi phòng kê đến 4 giường, cũng may chăn nệm khá sạch. Sau một ngày đi đường quá ê ẩm, chúng tôi ai cũng ngả lăn ra làm một giấc đến sáng. Đến sáng ở đây có nghĩa là 9 giờ, vì ở đây đã là “Khu Tự trị Tây Tạng” thuộc nước Trung Quốc, phải sử dụng giờ Bắc Kinh, cho nên tuy đồng hồ chỉ 9 giờ mà ngoài trời chỉ mới lờ mờ thôi.

Yangmu là một phố núi, nhà cửa ẩn hiện trong mây mù, làm cho tôi chợt nhớ đến bài hát “Phố núi cao, phố núi đầy sương. Phố núi quanh co, trời thấp thật buồn”. Đây là một thị trấn vùng biên có vẻ ăn nên làm ra, nên người Trung Quốc đã kéo đến ở đông đặc, nhà cửa của người Tàu san sát bên các con đường bên vách núi. Ở đây có nhà hàng ăn uống, có tiệm massage, có internet, có photocopy…Nhà nghỉ có nhà vệ sinh tuy còn lạc hậu nhưng cũng khá sạch. Cứ tưởng đấy chỉ là những tiện nghi thông thường tối thiểu, nhưng chỉ hôm sau khi đi khỏi Yangmu, chúng tôi mới biết đấy là những sự sung sướng không thể nào có lại trong suốt hành trình hơn mười ngày ở Tây Tạng.

Dọc theo Himalaya

Rời Yangmu đến Saga, xe đi qua con đường dài hun hút, càng lúc độ cao càng tăng lên, chẳng bao lâu sau cảnh tượng hai bên đường khác hẳn. Không còn một mống cây xanh nào nữa, chỉ toàn là núi đá, lớp dưới thì gân guốc lạnh lùng, lớp trên chồng chất xa xa với những chóp núi nhọn hoắt phủ tuyết. HDV Tây Tạng ngồi ở ghế trước quay lui bảo :

– Đấy chính là Himalaya!

IMG_0077

Dọc theo Himalaya

Một cảm giác xao xuyến sững sờ tràn ngập trong tôi, không ngờ giờ này mình đang đi dọc theo dãy Hy Mã Lạp Sơn tưởng chỉ có thể nghe nhắc đến trong sách vở.

Quá hùng vĩ, nhưng cũng quá khắc nghiệt. Không một ngọn gió nào lọt qua được dãy trường thành sừng sững này, chỉ có ánh nắng chang chang rực rỡ chiếu lóa trên mặt đất khô khốc đầy đá sỏi và cỏ cằn cỗi khô vàng; Nắng đến nỗi người Tây Tạng luôn phải bịt mặt trong khăn, nhưng đồng thời lại lạnh muốn cắt cả ruột. Trong xe đóng kín, cái lạnh càng lúc càng thấm dần vào, tôi vốn là đứa nhát lạnh nhất trong đoàn, vội vàng lấy áo len, áo phao ra mặc.

Bước vào khách sạn – Chokyi bảo là khách sạn lớn nhất ở Saga- tôi cảm thấy ngạc nhiên vì những căn phòng thấp bé, trên khoảng sân vuông vức khá rộng nhưng không được tráng lát gì cả, chỉ có nền đất với những vết nứt nẻ lỗ chỗ; Càng kinh hãi hơn với cái điều mà không một ai trong số những người đi trước viết lại: Nhà vệ sinh thực sự là một nỗi kinh hoàng, giống y như nhà vệ sinh ở miền Bắc trong những thập kỷ 60, 70. Trời ơi, tôi thầm nghĩ, đến thế kỷ này rồi, giữa một thị trấn hàng ngàn du khách đi qua, trong một khách sạn lớn nhất, mà người Tây Tạng còn phải sống trong những điều kiện như thế này sao? Trong những thiên du ký của các tác giả mà tôi đọc say mê trước đây chỉ có một Tây Tạng huyền bí, sâu sắc, với đời sống tâm linh sâu thẳm. Chưa nghe ai nói đến một Tây Tạng nghèo nàn lạc hậu như thế này. Mọi thứ đều thô sơ và bám đầy bụi bặm.

P1020091

Khách sạn ở Saga

Cũng may, nổi bật lên giữa khung cảnh nghèo nàn ấy, có một thứ rất tốt, tốt đến không ngờ, đó là chăn nệm trên giường. Người Tây Tạng dệt chăn bằng lông trâu Yak, lông cừu nên rất ấm, khăn trải giường lúc nào cũng trắng sạch, tôi không hiểu họ làm sao giặt giũ và giữ sạch được như vậy trong tình hình nước rất khan hiếm. Một điều đau khổ nữa: Trong cả khách sạn không hề thấy cái phòng tắm, cũng không ai nhắc đến khái niệm phòng tắm ở đây. Tất cả mọi nhu cầu vệ sinh, khách phải xoay xở với hai cái chậu và một phích nước để ở đầu giường, thôi có vậy đã là may lắm rồi.

P1020103

Bà chủ khách sạn đang chuẩn bị bữa sáng cho du khách

Saga đầy bụi, bụi mờ cả mắt. Lạnh như kim châm trên da thịt. Ở nước ta, điểm có độ cao nhất là chóp núi Fansipan 3142 mét. Ở Saga, đứng trên mặt đất bằng phẳng đã ngang với độ cao ấy rồi. Trên cao nguyên Tây Tạng này, chúng tôi đang đi trên nóc nhà thế giới.

Buổi sáng, chúng tôi được bà chủ khách sạn chuẩn bị cho món bánh bột lúa mạch cán dẹp rồi áp chảo với mỡ trâu Yak. Để giữ cho lửa cháy đều, bà liên tục xúc vào lò những xẻng…phân ngựa phơi khô. Đấy là thứ chất đốt độc nhất tôi nhìn thấy ở vùng này.

Hồ thiêng Manasarovar

Chín giờ sáng, chúng tôi tiếp tục lên đường, đi về hướng Manasarova.

Từ Saga trở đi, tôi bắt đầu lo lắng cho sức khỏe, vì hai lỗ mũi đã cảm thấy rát, hít thở hơi khó chịu. May quá có đem theo chai thuốc xịt mũi làm bằng bông ngũ sắc, cũng cứu vãn được tình hình. Lại thỉnh thoảng bắt đầu thoáng thấy đau nhói hai bên thái dương. Lại dùng dầu xanh bôi vào, cứ thế suốt hành trình, hai cái chai đó luôn kè kè trong túi tôi. Dù đã đề phòng, việc ăn uống vẫn làm khổ tôi kinh khủng. Từ Yangmu trở đi hầu như tôi không ăn được gì, mặc dù rất cố gắng.

Thiếu ăn, thiếu thở, không được tắm, chống chọi với khí lạnh….Vậy mà chuyến đi vẫn vô cùng kỳ thú, bởi quang cảnh Tây Tạng đẹp một cách kỳ lạ. Không nơi đâu trời xanh hơn ở đây, không nơi đâu nhiều mây trắng như ở đây, không nơi đâu núi cao, vực sâu như ở đây! Cái kỳ vĩ ấy, khắc nghiệt ấy chỉ có thể nhìn và cảm nhận bằng mắt chứ khó tả nổi bằng lời. Nhất là khi đi qua Drongba, vượt qua hai ngọn đèo Lalung cao hơn 5000 mét, nhìn xuống khe sâu là cả một cảnh tượng thần kỳ, tưởng như đang đi trên chín tầng mây biếc.

Khi đến Manasarovar, trời đã xẩm chiều. Thị trấn Manasarovar cao 4.550 mét, được đặt tên theo tên một hồ nước mênh mông xanh biếc. Đây là hồ thiêng, hàng năm cả ngàn người đến hành hương. Manasarovar cũng là hồ nước ngọt ở độ cao nhất thế giới!

MANASAROVAR

Hồ thiêng Manasarovar

Chúng tôi xuống tận bờ hồ. Nước trong vắt, mênh mông như biển, nhìn sang bên kia chẳng thấy bờ. Bên kia hồ là dãy núi Gurla Mandhata với những chóp tuyết trắng xóa. Bên này hồ….Tôi ngẩng đầu lên nhìn về phía đối diện, và chợt thấy núi thiêng Kailash hiện ra! Không thể nhầm lẫn được, bởi tuy chưa đến bao giờ nhưng hình ảnh ngọn núi này, tròn trĩnh, phủ đầy tuyết mịn, với vài gợn lỗ chỗ nơi sườn núi …Trong cơn xúc động tôi chạy trở về nhà nghỉ để lấy máy ảnh, nhưng khi chạy xuống thì Kailash đã biến mất, như một phép lạ chỉ hiện ra trong khoảng thời gian ngắn ngủi. Nhìn về phía ấy chỉ còn mây trắng phau che phủ kín cả chân trời.

Dấu chân Bồ Tát

Sau một đêm ngủ lại ở chỗ gọi là “Holy lake hotel”, mà tiện nghi cũng chẳng hơn gì khách sạn ở Saga nếu không nói là còn tệ hơn, chúng tôi quyết định lên đường sớm. Phải tranh thủ thời gian vì thời tiết đang rất tốt, để lỡ thời cơ nếu gặp mưa thì rất uổng. Chokyi ngăn lại: “Dù vội thế nào cũng phải thăm đền Chiu Gompa. Hồ Manasarovar sở dĩ thành hồ thiêng cũng là nhờ thánh tích này.”

Ngôi đền này rất nhỏ bé, kiến trúc cũng rất thô sơ, nhìn từ đường cái vào thoạt tiên tôi cứ tưởng là một cái lô cốt nhỏ. Khi bước vào, mới hiểu vì sao khắp nơi đến đây chiêm bái: Đấy là một trong những nơi lưu dấu ấn của Bồ tát Padmasambhava (Tức Liên Hoa Sinh), người đã có công đưa Mật Tông Phật giáo từ Ấn Độ vào Tây Tạng. Người dân Tây Tạng vô cùng sùng bái vị bồ tát này, xem là “Đệ nhị Phật”.

Trên đỉnh đồi cao đầy gió, Chokyi kể sự tích Ngài Liên Hoa Sinh:

“Theo lời truyền, vua Tây Tạng vào thế kỷ VIII là Shantarakshita rất mộ đạo Phật, ngài định xây một tu viện lớn nhưng bị các quỷ thần ở trong vùng quấy phá. Cuối cùng theo lời khuyên của triều thần, vua sai người sang Ấn Độ mời Đại sư Liên Hoa Sinh sang giúp. Một trận đấu phép giữa Bồ Tát và vua quỷ đã diễn ra ròng rã trong 7 ngày, ngay trên hồ Manasarovar này. Đến bây giờ dấu chân của Ngài Liên Hoa vẫn còn in lại trên vách đá.” Cũng vì cái dấu chân này mà ngôi đền bé nhỏ thô sơ mới trở thành danh lam hàng đầu của Tây Tạng, thật đúng như người xưa nói : “Chùa đất, Phật vàng”.

IMG_0114

Tu viện Chiu Gompa

P1020135

Dấu chân của Bồ tát Liên Hoa Sinh

Thấy chúng tôi chăm chú lắng nghe, Chokyi kể thêm về sự tích Ngài Liên Hoa:

Tương truyền Bồ tát Liên Hoa Sinh sinh ra từ hoa sen, được vua xứ Oḍḍiyāna chọn làm người nối ngôi, nhưng Ngài từ chối và bỏ đi đến một tiểu quốc vùng Bắc Ấn. Tại đây, Ngài bí mật dạy phép Tantra cho công chúa Mandarava. Vua cha nàng biết được, sai bắt Ngài đem thiêu trên giàn hỏa. Khi lửa tàn, mọi người vô cùng kinh ngạc thấy Ngài vẫn ngồi thiền định trên đống tro, da thịt áo quần nguyên vẹn, hào quang rực rỡ chiếu sáng. Nhà vua quỳ lạy xin dâng cả công chúa lẫn quyền trị vì vương quốc. Nhưng Ngài lại một lần nữa từ chối ngôi vua. Cùng với công chúa ra đi, Ngài chọn hang động Maratika để ở và tiếp tục các phép tu chứng của mình.

Sau khi được mời đến Tây Tạng, ngài lại được vua Tây Tạng gả công chúa Tsogyal theo tục lệ. Hai nàng công chúa là hai người vợ và đồng thời là nữ môn đệ, thường được thờ hai bên tả hữu của tượng Bồ tát Liên Hoa Sinh trong nhiều ngôi đền ở Tây Tạng cũng như ở Bhutan.

Rinpochie

Tượng Liên Hoa Sinh trong đền Chiu Gompa

(Bên trái là công chúa Ấn Độ Mandarava, bên phải là công chúa Tây Tạng Tsogyal)

Những câu chuyện của Chokyi làm tôi không khỏi kinh ngạc. Chokyi hiểu thắc mắc của tôi, cậu ta giải thích: Vào thời đó, với môn phái Kim Cương Thừa, những cao tăng không phải từ bỏ tình dục, ngược lại còn xem đó là một lãnh vực tu chứng. Và mối liên hệ giữa Phật giáo với những quan niệm phồn thực cổ sơ là một đặc điểm tôn giáo rất độc đáo ở Tây Tạng cũng như ở một số nước láng giềng vào thời xa xưa ấy.

Chúng tôi rời Manasarovar, Chokyi ngồi phía trước quay lui khoe hai con cá khô tối qua vừa tìm mua được, vẻ hí hửng lắm. “Người ta đánh bắt cá dưới hồ để làm khô à?” “Không, không phải, cá già rồi, chết tự nhiên và nổi lên tự nhiên. Chữa được nhiều bệnh lắm. Bố mẹ vợ tôi đã dặn, có dịp đến Manasarovar phải mua cho các cụ.”

Thấy tôi im lặng có vẻ bán tín bán nghi, Chokyi tặng tôi một gói muối nhỏ, đấy là muối từ nước hồ, anh bảo muối này xoa bóp có thể trị được bệnh khớp và nhiều chứng đau đớn khác. Được xem là nước ngọt nhưng nước ở Manasarovar lại có độ mặn, cô đặc lại thì thành muối. Theo Chokyi, có giả thuyết cho rằng triệu triệu năm trước toàn vùng Tây Tạng vốn là đáy biển, sau này địa chấn nâng cao lên thành cao nguyên nhưng tính chất nước biển vẫn còn sót lại trong các ao hồ. Có lẽ vì thế mà cả vùng đất này chỉ có cát và đá, không một cây xanh nào mọc được, trừ một thứ cỏ dạng tảo mọc lưa thưa trên các triền núi, động vào là ngứa kinh người. Chokyi bảo từ xưa tới nay chỉ có thuật sĩ lừng danh Milarepa là dám ăn lá cỏ ấy thôi.

“Milarepa là ai?” Tôi tò mò hỏi. Chokyi gật đầu cười: “Sẽ kể. Nhưng bây giờ thì đi thôi, phải đến Darchen trước khi trời tối.”

Darchen là chặng cuối, nơi chúng tôi sẽ bắt đầu hành trình đi Cora.

Đêm trước Cora

Darchen có độ cao 4600 mét.

Đến đây sức khỏe của tôi đã xuống dốc khá nhiều, tuy suốt ngày chỉ ngồi trên ô tô nhưng phải chịu đựng khí hậu thật khắc nghiệt, vừa buốt giá và khô khốc, nắng dữ dội muốn lòi cả mắt mà đồng thời lại lạnh buốt đến cóng cả tay chân. Chưa bao giờ tôi độn nhiều áo xống trong người như thế, ba lớp áo quần bằng len cán, lại thêm cái áo phao dày cộp, thế là đủ ấm rồi nhưng còn cái mặt, mỗi lần mở khẩu trang để chụp hình tuy gượng cười nhưng sự thật là đang cảm thấy tối tăm mặt mũi. Khổ nhất là hai lỗ mũi đã sưng rát vì hít cái gió khủng khiếp này. Trên đường đi tôi đã liên tục xịt thuốc, vậy mà thỉnh thoảng hỉ ra khăn vẫn thấy màu đỏ nhờ nhờ của máu loãng.

Trên đường đến Darchen, ngồi trên xe tôi bắt đầu thấy từ vai gáy đến cánh tay mỏi ê ẩm. Rồi một bên chân bắt đầu thỉnh thoảng bị chuột rút. Cảm thấy đấy là những dấu hiệu mở đầu của hội chứng thiếu oxy nên trong lòng tôi không khỏi lo lắng. Đã thế lại chẳng được bữa ăn nào vừa miệng, mấy thanh “High Calories” chắc cũng giống thức ăn ở trên phi thuyền, chỉ giải quyết cho mình cái chuyện khỏi chết đói chứ chẳng đem lại một chút cảm giác nào.

Tôi cố giảm bớt động tác để giữ sức, vì cứ ngồi yên thì hơi thở rất bình thường, nhưng hễ động tay làm một cử chỉ gì nhỏ nhặt: Với tay lấy cái khăn ở đầu giường chẳng hạn, hay lục tìm chai dầu trong ba lô, chỉ một vài cử động đơn giản ấy thôi cũng đủ khiến tôi thở hồng hộc như vừa vác một cái gì nặng lắm.

Khách sạn ở Darchen, nơi mỗi ngày hàng trăm du khách từ khắp thế giới tụ về, cũng chẳng hơn gì khách sạn ở các vùng đã đi qua. Vẫn vậy, không có chỗ tắm rửa, nhà vệ sinh khủng khiếp. Cả vùng này tuy có ống nước nhưng nước dẫn đi đâu không rõ, tôi thấy ngay trước khách sạn người dân đã đào đất lôi cái ống nước nhỏ xíu lên, bẻ đôi cho nó phun nước ra, cả vùng đến hứng lấy nước về xài. Quả là một hành vi phá hoại, nhưng nếu không tạo ra cái chỗ phun nước bất đắc dĩ này, họ phải xuống suối bưng lên từng hũ như ta vẫn thấy trong những bức tranh dân gian vẽ hình cô gái Tạng đi lấy nước.

Chiều hôm ấy chợt Moti, anh bạn người Nepal từ ngoài chạy vào kêu to:

“ Kailash kia kìa!”

Thì ra mây vừa tan, nhìn qua cửa sổ chúng tôi thấy Kailash trắng toát hiện ra ở xa xa, trên mấy lớp núi xanh phía dưới.

IMG_0130.JPG

Kailash nhìn từ Darchen

Chúng tôi quên cả mệt, vội chụp hình, chụp liên tục mặc dù nhìn từ Darchen thì còn xa lắm. Nhưng cứ chụp đã, vì nghe nói đã có nhiều đoàn đã đến đây mà rồi cũng chẳng có duyên đi đến chân núi, và nhất là gặp ngày âm u thì có đến tận nơi cũng chẳng hề thấy cái đỉnh núi huyền thoại.

Đêm đó tôi lên cơn nhức đầu dữ dội, càng nhức đầu thì càng khó thở. Tôi lo âu hết sức, tình hình này biết sáng mai có đi nổi không đây, nhất là từ mai sẽ đi ngựa chứ không có chuyện ngồi trong ô tô nữa. Lo quá nên tôi mất ngủ, càng mất ngủ càng đau đầu hơn. Lòng tôi hoang mang: Có nên tiếp tục đi không?

Có đi tiếp không? Câu hỏi đó có lẽ đã xuất hiện trong lòng rất nhiều người khi đến cái cung đường quyết định này. Vì đến đây thì sức đã cạn, xảy ra nhiều hiện tượng lủng củng trong cơ thể. Hôm nay nằm trong chăn ấm mà còn như thế, ngày mai dang mình giữa nắng và có thể cả mưa ướt lạnh…rồi sẽ còn lủng củng đến đâu? Độ cao sẽ tăng dần theo hành trình, rồi còn hiện tượng gì sẽ xảy ra? Những chuyện chết người ở Kailash trong quá khứ lại ám ảnh tôi…

Khi bình minh đến, tôi ngồi dậy, đầu đã bớt đau nhưng trong người cứ như trống rỗng, bước đi như bước trong chân không. Bỗng dưng thèm được ăn một tô phở, thèm đến cháy môi. Giá có một tô phở bây giờ, chắc tôi lành bệnh liền. Lúc đó bỗng nhiên quờ tay vào vali thấy một gói cà phê hòa tan đem từ Việt Nam, tôi liền nhờ Moti xuống bếp xin giúp ít nước sôi nóng để pha. Thật bất ngờ, uống xong cốc cà phê quen thuộc tôi thấy người dễ chịu hẳn, đầu óc tỉnh táo trở lại.

Tôi quyết định theo đoàn lên đường, không quên nhắc Moti ôm theo 10 bình oxy.

Đường đến núi thiêng

Từ khách sạn Darchen đến Tarboche khoảng 15 cây số. Chúng tôi xuống xe, trước mắt là một vùng hoang vu chỉ có hàng đàn trâu Yak đang đứng sẵn để chờ thồ hàng cho du khách.

Mấy người chăn ngựa dắt ngựa đến gần. Những con ngựa Tây Tạng, chân cao, đuôi dài, bờm tung lên dũng mãnh, đẹp hơn hẳn những con ngựa mà tôi đã thấy ở Mexico hay ở Bhutan. Cũng như Mông Cổ ở gần đó, Tây Tạng là nơi sinh ra những con tuấn mã đẹp nhất nhì thế giới.

Tôi chỉ vào một con ngựa trong bầy, nhưng Chokyi ngăn lại. “Phải bắt thăm.” “Sao vậy?” “Vì mỗi con ngựa có một số phận riêng, cũng như mỗi người chúng ta đều có vận may rủi khác nhau.” Nghe vậy tôi thoáng cảm thấy một luồng hơi lạnh chạy ngang lưng. Chokyi nói vậy, nghĩa là con ngựa này sẽ nhân danh số phận để đưa tôi đi xuyên qua một đoạn đường sinh tử.

Thú thực lúc đó tôi cảm thấy sợ, nhưng khi đã đến Tarboche, mỗi khách hành hương cũng giống như mũi tên đã lắp vào cung, chỉ còn việc phóng đi.

IMG_0151

Kailash nhìn từ Tarboche

Quả là số tôi không may cho lắm, nên con ngựa tôi cỡi không phải con ngựa hiền. Thỉnh thoảng đang đi chú ngựa Tây Tạng bỗng chồm lên, xoay tít như đang nhảy valse vậy, làm tôi hết hồn hết vía. Trên con đường này, có đủ Tây, Tàu, Tạng nối đuôi nhau lũ lượt, kẻ đi bộ, người đi ngựa, nhưng ai cũng chăm chú lo đi, nên dù tôi kêu lên oai oái thì cũng chẳng ai cứu được. Đành là “Chót lên voi phải cầm vố”, nhắm chặt mắt, kẹp chặt hông ngựa, may sao sau vài phút nó hết cơn hứng thì lại đi túc tắc như thường. Sau lần đầu bạt cả vía ấy, tôi nắm được quy luật của nó rồi nên thấy nó trở chứng thì cứ nhắm mắt bám chặt lấy mỏm yên, nín thở chờ nó qua cơn trái tính là xong.

P1020254

Khách hành hương Tây, Tàu, Tạng

P1020194

Trâu Yak thồ hành lý theo sau

Chặng đầu tiên từ Tarboche đến Dirapuk là một chặng đường vô cùng thú vị, trời xanh lồng lộng bao phủ trên đầu, hai bên là hàng hàng lớp lớp núi hùng vĩ, những tảng đá khổng lồ chồng lên nhau, nhẵn thín, trơ trụi. Sau gần một ngày đường, đến xế chiều chúng tôi mới kết thúc chặng đầu cora, dừng chân ở nhà nghỉ Dirapuk.

Kailash 01 nhỏ

Đến Dirapuk là đã đến chân núi Kailash! Ngọn núi tuyết hiện ra ngay trước mắt, sáng lóa màu tuyết trong nắng chiều. Trời đã hoàng hôn mà hình ảnh Kailash vẫn hiện ra tròn trĩnh, đẹp lồng lộng.

Ngọn núi này được sùng bái bởi tín đồ cả hai đạo: Đạo Bon, tôn giáo nguyên thủy của Tây Tạng, và Mật Tông Phật giáo.

Với đạo Bon (một dạng thần đạo cổ sơ của người bản địa) thì đây là nơi Thủy tổ Tongpa Sherap từ trời xuống đất.

Với Mật tông Phật giáo thì đây là nơi thường trú của Chakrasamvara, một vị Phật được xem là hình ảnh của Cực lạc.

Với chúng tôi, những người hâm mộ ngọn núi phi phàm, thì có một điều thật xứng đáng để mình phải vượt ngàn dặm đến đây : Ở nơi này, thiên nhiên kỳ vĩ là cánh cửa tuyệt đẹp mở ra một thế giới văn hóa tâm linh mênh mông như biển, bước vào đó ta có thể đi mãi không ngừng trong cái bề sâu hướng nội vô tận của nhân loại.

IMG_0476

Kailash nhìn từ Dirapuk

Vui lắm, nhưng tất cả chúng tôi ai cũng mệt, mệt rã rời và ai cũng cố gắng cử động rất hạn chế, để giữ oxy trong máu. Độ cao của Dirapuk đã là 4.900 mét.

Đêm lạnh không thể tưởng tượng. Khách người châu Á tất cả đều nằm trong phòng, còn một số khách Âu Mỹ, tự cho là quen với cái lạnh, nên thuê lều vải ngủ ngoài sân cho nó thêm “phong trần”. Nhưng đến khoảng 10 giờ đêm trời rét dữ dội, họ đều phải bỏ lều chạy vào phòng hết.

Nửa đêm, Chokyi đập cửa phòng tôi, hỏi tôi lấy mấy bình oxy. Cậu ta bảo có 5 khách hành hương bị kiệt sức phải cấp cứu. 5 khách này là 5 thanh niên Trung Quốc, ỷ sức khỏe nên đi bộ mà lại không mang theo bình. Đến sáng sớm có chiếc xe cứu thương cọc cạch đến đưa họ vào bệnh viện. Tôi hỏi Chokyi bệnh viện cách đây bao xa, cậu ta bảo: Cách ba trăm cây số!

Rút kinh nghiệm ở Darchen, tôi đã cố gắng ngủ, và sáng sớm lại pha cà phê Việt Nam uống cho tỉnh người. Vẫn còn mệt lắm nhưng lần này tôi biết sức mình có thể đi được.

Nhưng đến đây Chokyi bỗng trở giọng bàn lui:

– Dirapuk là chỗ ngắm núi đẹp nhất rồi, có đi nữa cũng chẳng có gì mà xem.

Lẽ nào lại thế. Chúng tôi đã gắng lên đến độ cao gần 5000 mét. Chỉ phải ráng lên cao thêm khoảng bốn trăm mét nữa thôi. Vậy mà Chokyi cứ một điệp khúc “Nothing to see”. Moti, anh bạn người Nepal cũng phụ họa để tìm mọi cách cho chúng tôi nản lòng. “Nên về thôi, không có gì hơn nữa đâu.”

Chắc các cậu sợ trong chúng tôi có ai đó lăn ra chết thì phiền phức biết bao nhiêu. Lúc đó tôi cũng cảm thấy nao núng, vì nhớ lại mùa hè năm qua hai du khách Singapore, một 60 và một 62 tuổi đã chết đột ngột sau khi vượt qua đèo Dromo-la, nghĩa là khi vừa đi hết chặng thứ hai của vòng Cora quanh núi.

Chokyi và Moti là những người đưa đường giàu kinh nghiệm, biết lo xa, thấy chúng tôi đã có tuổi, sợ nguy hiểm nên không muốn liều. Nhưng bác sĩ Tâm, trưởng đoàn của chúng tôi là người có máu mạo hiểm, ông cứ lên ngựa và quát to : “Đi! Đi lên đỉnh núi!”

Lúc bấy giờ tôi hiểu. Cái tiếng tăm chết người của Kailash,cũng chính là sức hút mãnh liệt của ngọn núi này.

Hai cậu hướng dẫn viên không còn cách nào khác, đành phải tiếp tục đi.

Bên cạnh chúng tôi, nhiều người Tây Tạng đang “tam bộ nhất bái” trên đường. Cứ ba bước một lạy, họ chẳng hề để tâm đến cảnh tượng quanh mình, chỉ tập trung vào thế giới lặng lẽ bên trong.

Kailash 02 nhỏ

Rời Dirapuk ra đi: Kẻ đi bộ, người đi ngựa, lại có người vừa đi vừa lạy.

Đèo Dromo – Cung đường lột xác

Nói dại, nếu lỡ ra trong đoàn tôi có ai chết thì sao? “Nếu mà chết thì khỏi có chuyện đem xác về nhà, sẽ thiên táng trong bụng chim trời.” Tôi nghe mà hú vía. Chokyi nói, không phải cậu ta dọa đâu, người Tây Tạng đến nay vẫn giữ tục lệ ấy cơ mà.

Tranh thủ một lần nghỉ mệt, tôi vừa thở vừa nói thật là tôi thấy tục lệ ấy dễ sợ lắm, có phải người Tây Tạng phải giữ tục thiên táng là vì đất đá khô cứng quá không đào nổi huyệt mộ, củi gỗ cũng chẳng có để hỏa táng?

Chokyi lắc đầu bảo không phải. Trước kia người Tây Tạng từ vua chúa đến dân thường khi tạ thế đều được an táng trong lòng đất. Nhưng kể từ khi gần như toàn dân theo đạo Phật, nhiều người muốn đem thân xác bố thí cho các loài chim, như vậy người chết có thể làm được một việc phước cuối cùng. Lâu dần thành tục lệ chung. Như vậy thiên táng không phải một tập tục dã man, mà biểu lộ lòng từ bi vô lượng của người Tây Tạng.

Chặng đường thứ hai của vòng cora kết thúc ở đèo Dromo – la, đỉnh cao nhất của hành trình ( 5.470 mét).

LÊ DROMO.JPG

Đường lên Dromo-la

Dromo-la được đặt tên theo tên nữ thần Dromo, còn gọi là nữ thần Tara, vị nữ thần tượng trưng cho phúc đức và lòng nhân ái (Cũng là nữ Bồ tát, bởi cả Đạo Bon thờ thần và Đạo Phật Tây Tạng đều sùng bái Tara.) Những ngày ở Tây Tạng, tôi được xem tranh cổ dân gian (Thăngka), và rất ngạc nhiên thấy ở đây Quan Âm Bồ tát (Avalokitesvara) là đàn ông, vì vậy hình tượng Quan Âm ở Tây Tạng khác xa hình tượng Quan Âm bên ta. Tara, với vẻ mặt hiền dịu và dáng vẻ xinh đẹp mới chính là vị nữ thần, nữ Bồ tát mang hình ảnh người mẹ cứu khổ trong tâm tưởng người Tây Tạng.

Người Tây Tạng nguyện cầu Tara mỗi khi họ gặp khó khăn, tai nạn, bệnh tật, như đứa con kêu cầu tình thương và sự che chở của mẹ. Có lẽ vì vậy mà tên Dromo (Tara) được đặt cho điểm cuối chặng thứ 2 vòng cora, bởi đấy là đỉnh cao nhất nơi mà người hành hương phải vượt nhiều đoạn cheo leo hiểm trở mới đến được, cũng là nơi thường xảy ra những vụ chết người vì hội chứng loãng oxy. Trong khoảnh khắc sinh tử, danh hiệu Tara được gọi lên, giúp cho người lâm nạn sức mạnh tinh thần để vượt qua cõi chết.

C:\Users\Thuy mai\Desktop\PICTURES\TIBETCULTURE\1372770901-tara1.jpg

Bồ tát Tara

Đến đèo Dromo, xem như cuộc hành hương đã đạt, nên người hành hương Tây Tạng thường ném lại một mẩu áo cũ, một chiếc mũ cũ…với ý nghĩa tượng trưng là từ nay sẽ lột bỏ thân xác cũ để tái sinh trong một chặng đời mới đầy ân phước. Những mảnh áo mũ vứt đi này nằm vương vãi trên những đám cỏ lơ thơ ven núi.

Để tôn vinh Tara, những lá cờ nguyện cầu rực rỡ được người hành hương giăng khắp triền đèo. Theo Chokyi, cờ nguyện cầu có năm màu là biểu thị năm yếu tố cấu thành vũ trụ theo quan niệm của người Tây Tạng: hư không (xanh dương), gió (trắng), lửa (đỏ), nước (xanh lục), và đất (vàng). Treo cờ nguyện cầu là ghi lời nguyện của mình vào vũ trụ bao la, và cũng là góp phần vào hòa điệu vô tận của trời đất. (Quan niệm của người Tây Tạng về các yếu tố cơ bản của vũ trụ khác quan niệm về ngũ hành kim mộc thủy hỏa thổ của người Trung Hoa ở chỗ họ không nhắc tới yếu tố mộc (cây) và kim (kim loại). Điều này có lẽ cũng xuất phát từ hoàn cảnh thiên nhiên ở xứ sở vùng cao trơ trụi này.)

P1020397.JPG

Những lá cờ nguyện cầu

Qua khỏi Dromo-la, những con dốc xuôi dần xuống thấp. Cuối chặng đường, sau vài giờ đi bộ, tu viện Zutul Gompa hiện ra.

Zutul nghĩa là cái hang, đặt tên như vậy vì ở đây có cái hang nhỏ nơi nhà thánh thi Milarepa đã ngồi thiền định. Đến đây, qua khỏi những nỗi âu lo, Chokyi mới nhớ ra còn nợ tôi câu chuyện về Milarepa, là nhà thơ đồng thời là thuật sĩ vĩ đại của Tây Tạng vào thế kỷ 11.

Và đây là câu chuyện của Chokyi trong buổi tối dừng chân nơi trạm nghỉ này:

Milarepa vốn là một đứa con côi nghèo khổ có tuổi thơ bị đày đọa, ông căm thù những kẻ đã đối xử tàn tệ với mình nên đi học phép phù thủy và dùng phép để báo thù. Trong phẫn hận, ông dùng phép thuật làm ra một cơn bão lớn, khiến cho cả trang trại của kẻ thù bị tàn phá, ba mươi người chết sạch trong một đêm.

Lòng căm thù đã hả, nhưng ông không thấy vui, trái lại, nỗi trống vắng lạnh lẽo xâm chiếm tâm hồn ông. Khuôn mặt của những người chết ám ảnh ông, nỗi ân hận càng lúc càng lớn. Thế rồi ông quyết tâm theo Phật, dứt bỏ lòng hận thù để đến với tình thương và tha thứ.

Sau nhiều thập kỷ tu tập và thiền định, Milarepa đã được xem là vị Phật sống, trở thành người kế tục dòng truyền thừa của Phật giáo Mật Tông Tây Tạng…

Câu chuyện rất người của đời ông là chứng thực cho điều Phật dạy: Buông dao xuống, kẻ sát nhân có thể thành Bồ Tát.

Cuộc đời kỳ vĩ của vị Phật sống đã được Neten Chokling dựng lại trong bộ phim Milarepa nổi tiếng thế giới.

Một ngàn năm nữa…

Từ Zutul – Gompa trở đi, đường dễ đi hơn nhiều. Sau nửa ngày đi theo những đoạn đường ngoằn ngoèo, lại đến một thung lũng hẹp, rồi con đường men núi rẽ sang phía tây. Lúc này khách hành hương đang đi về hướng Darchen, đi khoảng 3 giờ đồng hồ sau mới thấy thị trấn hiện ra đằng xa với những mái nhà xám xỉn.

Lẽ ra theo hành trình, Chokyi sẽ gọi xe đến đón chúng tôi ngay ở đây rồi lên đường về lại hồ thiêng Manasarovar. Nhưng đã quá mỏi mệt vì chuyến đi, và cũng để nhâm nhi niềm vui của mình thêm một chút, chúng tôi quyết định quay về khách sạn Darchen với kế hoạch “liên hoan” một bữa để mừng đi đến nơi, về đến chốn.

Chà chà, muốn liên hoan cũng khó đây, vì biết ăn gì bây giờ. Vị trưởng đoàn của tôi vốn rất quan tâm đến ẩm thực, chợt nhớ ra trên đường đến khách sạn Darchen có thấy một nhà hàng mang bảng hiệu tiếng Hoa, tên là Tứ Hải gì đó, có ghi chú là bán các món ăn Hoa Nam. Chokyi tỏ vẻ ngần ngại không muốn đi, nhưng sau nể khách quá nên cũng chiều. Nhà hàng đông khách, tất nhiên toàn là khách vãng lai đi qua Darchen chứ dân Tạng thì không hề có ai xuất hiện ở đây. Chokyi ghé tai nói nhỏ cho tôi biết lý do khiến anh ngại ngần: Theo anh thì các nhà hàng Hoa ở đây thường lấy thịt chó giả làm thịt bò, mà anh là Phật tử Tây Tạng, tuyệt đối kiêng thịt chó (Rất giống thói quen của Phật tử ở Huế). Tôi chợt nhớ lại khi vào cửa nhà hàng đã nhìn thấy cả đàn chó ngao nằm la liệt trong sân, thấy ớn lạnh nên dù đã đói cả tuần nay và các món ăn đều thơm phức hấp dẫn nhưng tôi chỉ dám húp nước mà thôi…

P1020271.JPG

Đàn chó ngao trong sân nhà hàng

Chokyi cũng không ăn uống gì nhiều, chỉ nhấm nháp lấy lệ. Không biết giờ phút ấy người bạn Tây Tạng của chúng tôi đang nghĩ gì? Suốt trên đường đi, không biết bao nhiêu lần Chokyi đã phải lên xe, xuống xe để trình giấy tờ qua các bót gác có lính Tàu canh giữ. Ở Tây Tạng bây giờ, các trường học đều dạy bằng tiếng Hoa, các bảng tên đường cũng tiếng Hoa, cả những thánh tích cũng có bảng chỉ dẫn tiếng Hoa. Nhưng, trong khi người dân những nước láng giềng đã quên đi khái niệm Tây Tạng về mặt địa lý, thì trên toàn thế giới người ta vẫn nhắc về quê hương của Dalai Lama như một đất nước, một dân tộc với tất cả những bản sắc độc đáo có lẽ đời đời không thể nào bị đồng hóa.

Từ Kailash trở về trong lòng tôi khắc sâu hình ảnh gương mặt rám đen cằn cỗi của những người bạn đã gặp: Chokyi, ông lão chăn ngựa, người phu khuân vác hành lý, những khách hành hương tam bộ nhất bái trên đường. Với niềm tin sâu sắc khó dời đổi, họ giữ trong lòng những tập quán tâm linh, những thánh thần sông núi của ngàn xưa, giữ cho văn hóa Tây Tạng mãi mãi là một thực thể rất khó bị tan hòa.

Tôi bỗng nghĩ, nhất định sẽ có một ngày Tây Tạng độc lập. Người Việt Nam đã từng nội thuộc Trung Hoa cả đến một ngàn năm. Tây Tạng mới nội thuộc Tàu bảy mươi năm. Vậy từ nay cho đến chín trăm ba mươi sáu năm nữa, lẽ nào lịch sử không cho những người Tây Tạng một cơ hội?

tarboche

Rời Darchen, chúng tôi tiếp tục đi. Hai bên đường là cảnh tượng hùng tráng của thiên nhiên, tương phản với cuộc sống lam lũ nghèo nàn của con người. Chúng tôi đang trên đường đến Everest Base Camp, nơi có thể chiêm ngưỡng chóp núi cao nhất thế giới. Chokyi bảo hãy chuẩn bị tinh thần, sẽ được xét giấy tờ kỹ lắm đó vì mỗi năm hằng trăm người Tạng trèo qua Himalaya để vượt biên qua Nepal.

Trong tiếng gió lạnh khô buốt, tôi tưởng mình đang nghe được những lời nguyện cầu thầm lặng từ những lá cờ ngũ sắc mà người Tây Tạng đang giăng khắp các rừng sâu núi thẳm…

TTM 2014

Đường lên Everest, nóc nhà thế giới

Sau bữa cơm Tàu tại nhà hàng Tứ Hải Four Sea Restaurant (có nhiều chó ngao) mà đối với riêng hai chúng tôi là tuyệt vời vì phải chịu đựng dồ ăn Tây Tạng quá dở trong suốt tuần lễ qua,

Cora 02 nhỏ

Từ phải: Moti, tài xế, HDV, Mai, Tâm

Cora 02 01 nhỏ

chúng tôi lên đường ngược trở về hướng đông để đi Everest sáng ngày 28/9/2013 và gặp ngay thượng nguồn sông Hoàng Hà

everest 03 nhỏ

Hình ảnh ngọn núi thiêng đổi màu dưới ánh sáng bình minh không bao giờ phai mờ trong kí ức chúng tôi.

Cora 03 nhỏ cora 04 nhỏ

Thôi tạm biệt Kailash nhé!

 

Ghé đêm tại Saga tại một lữ quán có cô gái Tây Tạng xinh xắn, nấu bếp bằng phân ngựa khô.

 

cora 05 nhổ

Sáng dậy tiếp tục đi một quãng đường rồi qua ngã ba (rẽ phải đi Yangmu về Nepal) chúng tôi rẽ trái về hướng Everest/Lhasa.

. everest 04 nhỏ

 

Cảnh vật hai bên đường đi hướng Everest để tới tiền trạm Hinri

everest 02 nhỏ

Quán bên đường

Hai bên đường còn có cừu, nai, dê núi.

Everest 25 nhỏ

Và người, ngựa, yak

Everest 26 nhỏ

Chiều 29/9/2013 chúng tôi đến Thinri, tiền trạm của Everest (còn cách Everest Base Camp 80 km hay 4 giờ lái xe), nghỉ đêm tại lữ quán Everest Snow Leopard.

 

everest 05 nhỏ

Vừa nhận phòng xong, hướng dẫn viên Moti reo mừng báo tin đỉnh Everest bắt đầu ló rạng nơi chân trời. Lần đầu tiên trong đời chúng tôi được chiêm ngưỡng Nóc Nhà Thế Giới từ xa 80 km.

everest 06 nhỏ

Đỉnh Everest hiện ra rất uy nghi trong buổi hoàng hôn từ Thinri

Sáng hôm sau, ngày 30/9/2013 chúng tôi lên đường đi Rongbuk, Everest Base Camp. Trải qua 80 km, vật vã với sỏi đá trong 4 tiếng đồng hồ trên một quãng đường gập ghềnh khủng khiếp nhất từ trước tới nay.

everest 07 nhỏ

Tuy mình mẩy ê ẩm nhưng rất thú vị được ngắm nhìn hình dạng cùng màu sắc chóp Everest thay đổi dưới những tia nắng buổi bình minh.. Càng gần đến Rongbuk, Everest càng hiện ra lớn hơn, rõ chi tiết hơn và uy nghi hơn đến độ hơi dữ tợn.

everest 08 nhỏ

Quá trưa hôm đó (30/9/2013) chúng tôi tới Rongbuk, Everest Base Camp. Đỉnh Everest, Nóc Nhà Thế Giới đã hiện ngay trước mặt chúng tôi và tu viện Rongbuk nằm ngay dưới chân núi.

everest 09 nhỏ

everest 10 nhỏ everest 14 nhỏ

everest 11 nhỏ

Everest xuất hiện như một cô gái đỏng đảnh khi thì e ấp sau làn mây mỏng, khi thì trần truồng lồ lộ một tòa thiên nhiên, có lúc biến mất trong đám mây bạc. Thế mới điên đầu chứ!

everest 12 nhỏ

Tôi cố chụp đủ kiểu từ mây cắt ngang đinh núi đến lõa lồ mặt non.

 

everest 13 nhỏ

Thế là chuyến đi hoàn toàn thành công!

Được biết 80% viễn khách tới đây gặp lúc trời mù hay mây phủ, chỉ đành tưởng tượng ra nàng Everest e thẹn nấp sau đám mây rồi lủi thủi ra về.

Xem chừng chúng tôi đã thỏa thuê, Moti giục dã lên xe trở về Kathmandu. Nhưng tôi đâu có chịu. Đã vất vả lặn lội vượt bao ngàn dậm tới đây, Nóc Nhà Thế Giới, nên phải được ngắm Everest trong buổi hoàng hôn và bình minh nhất là muốn ngủ lại một đêm trong camp để sinh họat với các trại viên từ tứ xứ.

everest 15 nhỏ

Thế là chúng tôi nhập trại, nghỉ ngơi để 4 giờ chiều nay sẽ có xe bus đưa đến một địa điểm (Vista Point) ngắm nhìn đỉnh Everest gần hơn rõ hơn.

Mây phủ kín suốt buổi chiều đến 5:30 vẫn chưa tan. Chúng tôi đành lên xe cứ đi ví 6 giờ không còn bus.

everest 16 nhỏ everest 17 nhỏ

Đi chừng 20 phút đến một ngọn đồi rất dốc. Trên đó đã chen chúc bao thanh niên nam nữ. Thấy tôi hổn hển leo lên, mọi người xô ra giúp đỡ kéo tôi lên. Khi biết tôi 80 tuổi, mọi người ồ lên tỏ vẻ kính phục rồi tranh nhau chụp hình với tôi.

Coi tôi như một…Hero!

everest 24 nhỏ

Mây phủ gần hết ngọn Everest. Lâu lâu hé ra một chút rồi lại trốn sau đám mây như chơi trò ú tim.

everest 18 nhỏ

Chúng tôi đành ngắm cảnh vật chung quanh rồi trở về camp everest 19a nhỏ

Chụp thêm mấy hình Everest trong ánh sáng hoàng hôn

everest 20 nhỏ

Đêm đó chúng tôi tró chuyện với các trại viên cùng lều, đến từ khắp nơi trên thế giới. Mỗi lều có chừng vài ba chục người nằm chen chúc nhau như cá hộp.

Cậu hướng dẫn viên Tây Tạng mua mấy con cá khô hồ Manasarovar mang về biếu bố mẹ vợ để làm thuốc.

everest 23nhỏ

Thùy Mai rất khó thở vì thiếu dưỡng khí, phải dùng 2 bình oxy mà vẫn mệt. Tôi rất lo!

everest 21 nhỏ

Tuy có toilet nhưng… khiếp quá nên đành dùng Free Toilet ngoài đồng để hưởng cái thú Quận Công như mọi nơi trong chuyến đi Tây Tạng lần này.

Sáng hôm sau ngày 01/10/2013 Moti gọi dậy lên xe đi về. Tôi tranh thủ chụp được thêm vài kiểu ảnh Everest trong bình minh trước khi mây phủ kín. Không biết toán thanh niên đến đêm qua và sáng nay có được may mắn như chúng tôi không.

everest 22 nhỏ

Tuổi 80 Leo Cao Đỉnh Núi như thế đủ rồi.

Tạm Biệt các Đỉnh Cao của Trái Đất!

Tạm Biệt EVEREST, Nóc Nhà Thế Giới!

Từ đầu năm 2018 đến nay tức trong đúng 3 tháng tôi đã hoàn tất được 3 cuốn: Biến Cố Tân Tạo (844 trang), Xứ Thanh cậy thế (224 trang) và bây giờ cuốn này Tuổi 80 Leo Cao Đỉnh Núi (115 trang).

Tôi muốn tri ân Người Bạn vừa là Người Tình, vừa là Tri Kỷ và là Người Vợ cuối đời của tôi.

Viết xong ngày thứ tư 28 tháng 3, 2018

Tại biệt thự Hương Tâm, bãi biển Hoàng Hôn, TP. Cựu Kim Sơn

 

Bùi Duy Tâm

 

MỤC LỤC

Chùa Đồng trên đỉnh non Yên ………………………………………1

Người lớn tuổi nhất leo đỉnh Fansipan…………………………..33

Hang Cọp (Tiger’s Nest) Paro Taktsang, Bhutan………………63

Vòng Cora quanh núi thiêng Kailash, Tây Tạng………………..67

Đường lên Everest, nóc nhà thế giới………………………………95

 

Bùi Duy Tâm

 

Từ hồi còn tuổi thiếu niên thanh niên tôi đã vốn không thich đi bộ leo dốc chứ dừng nói đến chuyện leo núi (có lẽ tim tôi không thích hợp với những trò leo trèo). Thế mà ngoài chuyện chinh phục đỉnh Fansipan như trong bái viết dưới đây ở tuổi 78 (tháng 7 năm 2012), tôi còn leo bao đỉnh núi cao của Việt Nam và thế giới:

Chùa Đồng trên đỉnh non Yên

Chúng tôi leo lên đỉnh ngọn núi Yên Tử để đứng ngay bên Chùa Đồng vào ngày 28 tháng 3 năm 2012. Đến Chùa Đồng như một nghi lễ khới sự phần cuối đời tôi. Ngày 28 tháng 3 dã khắc sâu trong hồn tôi những kỷ niệm Buồn Vui như những Đỉnh Cao Vực Thẳm của cuộc đời.

Khấn Phật

Chùa Đồng ở độ cao trên ngàn mét (1068 m). Trước kia chưa có cáp treo, phải leo chân rất cực nhọc trong 2 ngày. Hôm đầu chỉ tới lưng chừng núi, phải ngủ lại chùa Hoa Yên để lấy sức sáng hôm sau trèo tiếp lên chùa Vân Tiêu, tượng đá Yên Kỳ Sinh, Bia Phật rồi leo qua nhiều tảng đá lớn mới tới Chùa Đồng.

Hoa Yên là nơi có Tháp Tổ, khu vườn Tháp Huệ Quang, thác Ngự Đội, phiến dá chạm nổi hình 3 ni cô và cây đại cổ 700 năm được trồng từ thời Phật Hoàng Trần Nhân Tông.

Chùa HoaYên

Chùa Đồng 04 nhỏ

Cây đại cổ thụ 700 tuổi Phiến đá chạm nổi 3 Ni Cô

Cây Đại 700 năm

Sáng hôm sau mới leo qua chồi đá thiêng di tích Yên Kỳ Sinh để tới Chùa Đồng. Tục truyền vào đời vua Ngô Quyền có một đạo sĩ tên là Yên Kỳ Sinh (hay An Kỳ Sinh) đến tu hành và đắc đạo ở nơi đây nên các môn đệ gọi núi này là “núi Thày Yên” hay Yên Tử. Một thuyết khác nói trước kia đạo sĩ Yên Kỳ Sinh tu ở ngôi chùa “chùa Thày Yên” hay Yên Tự nay gọi chệch đi là Yên Tử. Khách thập phương cố sờ tay vào chồi đá di tích Yên Kỳ Sinh để được toại điều cầu xin. Chồi đá này chính là Yên Kỳ Sinh hóa thân. Theo truyền thuyết: đạo sĩ Yên Kỳ Sinh xuống núi hái thuốc luyện linh đan. Khi ngang qua khu Hòn ngọc – Mắt rồng bỗng giật mình sửng sốt bởi nhận ra triền núi cao trước mặt giống hệt như mặt rồng, có trán, mắt, mũi, miệng đủ cả. Miệng rồng phát ra thứ ánh sáng kỳ lạ. Bằng con mắt pháp thuật, ông nhận ra đó là viên ngọc rồng do tinh khí của đất trời tạo nên. Ông ta biết vậy, lặng lẽ lên núi. Vài ngày sau, Yên Kỳ Sinh xuống núi, đến chỗ viên ngọc rồng bữa trước. Bỗng một cảnh tượng dị thường đang diễn ra trước mắt. Vạt đất chuyển rung. Một gò đất mới được sinh ra – hòn ngọc trong miệng rồng đã nhả. Khí thiêng phun tỏa mịt mù… Vì quá kinh hoàng với cảnh tượng đó, An Kỳ Sinh vội vã chạy lên núi, nhưng chưa kịp lên tới đỉnh, ông ta đã chết đứng và hóa đá (tượng đá Yên kỳ Sinh hiện còn dựng ven lối đi từ chùa Vân Tiêu đến chùa Đồng).

Từ Tháp Tổ 7 tầng đi lên chùa Đồng, đoạn nào cũng dốc, đá núi lởm chởm thì chỗ tượng thờ An Kỳ Sinh lại bằng phẳng rộng chưa đầy 100m2. Khi đi qua đoạn này, du khách thập phương thường kiên nhẫn đứng lại, chờ đến lượt mình được vào lễ bái chứ không tranh giành nhau như ở chùa dưới.Yên Kỳ Sinh là một vị đạo sĩ chuyên luyện thuốc cứu người nên khi đi qua đây người đi chùa thường lấy một tờ tiền mới, chà lên mình tượng để cầu sức khỏe. Có người mắc bệnh hiểm nghèo, vô phương cứu chữa đến đây cầu xin đã rất linh ứng.

Tượng đá An Kỳ Sinh

Di tích Yên Kỳ Sinh

Yên Kỳ Sinh

 

thien phai truc lam - su ra doi cua phat giao viet nam hinh 1

Tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông ở khu Yên Kỳ Sinh

thien phai truc lam - su ra doi cua phat giao viet nam hinh 2

Chùa Đồng, Yên Tử

Lên đỉnh Yên Sơn, đi trong mây không phân biệt đâu là trời, đâu là đất, đâu là người ở nơi hòa đồng giữa trời đất và người (thiên, địa, nhân). Từ đỉnh Yên Sơn nhìn về 4 hướng là cả vùng Đông Bắc như dải lụa xanh thẳm, cảnh đẹp lạ thường. Từ lâu, chùa Đồng không chỉ mang ý nghĩa về kiến trúc mà xét trên phương diện tín ngưỡng lâu đời, nó có ý nghĩa tâm linh đặc biệt. Chùa Đồng Yên Tử hoàn toàn khác biệt bất cứ công trình đúc kim loại nào trên thế giới, kể cả kiến trúc và điêu khắc mỹ thuật. Đó là vẻ đẹp vừa khỏe khoắn, vừa mềm mại, bay bổng. Theo dân gian, chùa Đồng – Yên Tử là nơi con người có thể cầu viện được “sinh lực của vũ trụ” cho mọi mặt của cuộc đời. Dòng sinh lực vũ trụ này như mọi nguồn hạnh phúc chảy xuống mặt đất làm nảy nở sự sống.

chùa Đồng Yên Tử Chùa Đồng 001

Chùa Đồng 002

Quanh năm đỉnh núi chìm trong mây trắng như các hình chụp trên đây nên núi Yên Tử còn có tên Bạch Vân Sơn (núi mây trắng).

Chùa Đồng 01b nhỏ

Bây giờ có 2 trạm cáp từ chân núi lên tới gần Chùa Đồng, chỉ còn phải đi một quãng mà cũng còn vất vả, phải leo trèo trên những tảng đá khá dốc chứ đâu có bậc xây (dù cả ngàn bậc) như đền Bác Hồ trên đinh Vua núi Ba Vì. Thế mà sao con người dám xây dựng cả một ngôi chùa nặng 70 tấn đồng lên đỉnh non Yên.

Chùa Đồng 01a nhỏ

Duong-len-chua-Dong-Yen-Tu

Yên Tử ngày hội

Chùa Đồng tọa lạc ở đỉnh cao nhất dãy Yên Tử (1.068m). Chùa Đồng (Yên Tử) đã được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam ghi nhận là ngôi chùa đồng lớn nhất và nằm ở độ cao nhất cả nước. Đây cũng là ngôi chùa được xếp vào hàng độc đáo nhất trên thế giới, được ví như một “kỳ quan mới” tại khu danh thắng Yên Tử – hiện đang giữ rất nhiều kỷ lục.

LỊCH SỬ CHÙA ĐỒNG

Nguyên khởi, chùa Đồng do một bà phi của chúa Trịnh dựng vào thời hậu Lê (thế kỷ 17). Chùa được đúc bằng đồng, ban đầu chỉ là một cái khám nhỏ, một người chui không lọt. Đến năm Canh Thân 1740, đời vua Lê Cảnh Hưng, bão làm bật mái chùa, sau bị kẻ gian dỡ phần còn lại chỉ để lại dấu tích các hố cột chôn trên mỏm đá.Vào mùa Đông 1930, bà Bùi Thị Mỹ từ chùa Long Hoa tái tạo chùa Đồng bằng bê tông cốt đồng trên một hòn đá vuông cao quá đầu người ở vị trí chùa Đồng cũ. Đến năm 1993, ông Nguyễn Sơn Nam, một Việt kiều ở Mỹ, cùng các phật tử ở hải ngoại phát tâm đúc lại chùa mới kiến trúc hình chữ Đinh theo dáng một bông sen nở, ngự trên sập đồng chân quỳ dạ cá trổ hình hoa sen cách điệu, đặt ngay bên cạnh ngôi chùa Đồng bằng bê tông xây dựng đầu thế kỷ XX. Theo tinh thần, hai chùa quy vào một khối, không để Phật tử và nhân dân phải thờ hai chùa Đồng cùng một lúc. Ngày 03 tháng 6 năm 2006 dưới sự chủ trì của Tiến sĩ Phật học Đại Đức Thích Thanh Quyết (sau trở thành Thượng Tọa Thích Thanh Quyết) và Ban Quản lý Dự án chùa Đồng, bằng công đức thập phương trong và ngoài nước đã khởi lễ đúc chùa Đồng theo mẫu thiết kế của kiến trúc sư Trần Quốc Tuấn – Viện Bảo Tồn Di Tích. Chùa được khánh thành vào ngày 30 tháng 01 năm 2007, tọa lạc trên đỉnh non thiêng ở vị trí giữa hai ngôi chùa được xây dựng trước đây.

CẢNH QUAN & KIẾN TRÚC CHÙA ĐỒNG

Khi thi công chùa Đồng mới, hai ngôi chùa cũ trên đã được chuyển về bảo quản tại Ban Quản lý di tích Yên Tử, và sau này được chuyển về Nhà trưng bày. Chùa Đồng mới do các nghệ nhân đúc đồng ở Ý Yên, Nam Định thực hiện theo mẫu chùa Dâu Keo (Thuận Thành, Bắc Ninh), nặng 70 tấn, dài 4,6m, rộng 3,6m và chiều cao từ cột nền tới mái là 3,35m. Các hoa văn, họa tiết trên đầu đao, bệ mái mang đậm phong cách đời Trần. Toàn bộ xà ngang, xà dọc đều đúc hình đầu rồng. Bốn đầu chùa hình mái vẩy, trông tựa như hình bông sen đang nở vươn lên, được đục thành nhiều chi tiết khác nhau (hoa văn, họa tiết, mộng mẹo, v.v…) như một ngôi chùa gỗ, sau đó vận chuyển và lắp đặt trực tiếp trên đỉnh Yên Tử. Hai bên chùa có giá treo chuông, khánh. Sau chùa là nhà tăng cho sư an trú lo Phật sự của chùa.

Đường lên non Yên

Ngay sau khi nhà nước hủy lệnh trục xuất, mời gọi về. vợ chồng tôi cùng em Bùi Duy Tuấn tìm đường lên thăm Yên Tử vào tháng chạp cuối năm 1995. Hồi đó đường xá rất khó đi, chúng tôi phải dùng xe mô tô ôm (ngoài Bắc gọi là xe bình bịch).Nhìn từ xa Yên Tử có hình con voi nằm hướng ra biển nên còn có tên là núi Con Voi.

Con Voi

Chúng tôi phải qua các tiền trạm sau:

Chùa Trình (chùa Bí Thượng)

Chùa Trình

Chùa Suối Tắm (tắm gội tinh khiết trước khi lên non Yên)

Chùa Suối Tắm i

Chùa Cầm Thực (bắt đầu nhịn ăn cho lòng dạ thanh sạch)

Chùa Cầm Thực

Chùa Lân (còn gọi là Long Động Tự ở thôn Năm mẫu)

Chùa Lân

Chùa Lân dựng trên ngọn đồi có hình con lân, là nơi tam tổ Trúc Lâm Thiền Phái Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang đến tu hành trước khi lên chùa Hoa Yên.

Chùa Lân ngày xưa có cổng lớn và đẹp nổi tiếng.Chùa Giải Oan ở chân núi Yên Tử. Chuyện cũ kể rằng: khi Trần Nhân Tông xuất giá lên Yên Tử tu hành, một trăm cung phi trước đó hầu hạ ông trong cung, cũng lặn lội theo ông lên Yên Tử. Nhưng vua khuyên họ nên trở về làm lại cuộc đời. Để tỏ lòng trung với vua, một trăm cung phi liền trẫm mình xuống suối Hồ Khê. Một số bị chết đuối. Để giải oan cho linh hồn họ, Trần Nhân Tông cho dựng chùa thờ cúng gọi là chùa Giải Oan. Suối Hồ Khê nơi các cung phi trẫm mình cũng mamg tên suối Giải Oan. Số cung phi thoát chết, vua cho tập trung dưới chân núi, làm nhà cho ở, cấp ruộng đất cho cầy cấy, cho lấy chồng sinh con, lập thành làng Nương làng Ru nay thuộc xã Thượng Yên Công.

Suối Giải Oan

Xung quanh chùa có 5 ngọn tháp, lớn nhất là tháp mộ Trần Anh Tông (con Trần Nhân Tông). Hai bên là tháp mộ Pháp Loa và Huyền Quang. Cạnh chùa Giải Oan có một cây sung cổ thụ (tên chữ là ưu đàm). Hiện nay cây sung bị cụt ngọn. Từ gốc lên chỗ cụt khoảng 15 mét. Thân to tròn và thẳng đứng. Tục truyền khi cây sung còn nguyên vẹn, cành lá sum suê che rợp một vùng. Trần Nhân Tông, sau khi chết hồn thường hiện trên ngọn cây sung này. Một hôm Hải Lượng Đại Thiền Sư Ngô Thời Nhiệm cùng 24 đồ đệ lên thăm Yên Tử, đi qua gốc cây ưu đàm bỗng thấy Trần Nhân Tông hiện trên ngọn cây. Phút chốc Điếu Ngự hóa thành hoa sung . Một bầy chim tới ngậm hoa bay đi rồi trở lại biến ra hoa sung rơi rụng. Ngô Thời Nhiệm liền đọc câu kệ:”Điểu thân phi điểu, Hoa hồn phi hoa, Hoành chỉ nhiên tha, Ngũ nại ngũ hà” (thân chim chẳng phải chim, Hồn hoa chẳng phải hoa, Đi đứng là bởi nó, Tôi có làm chi được)

Vợ tôi ngồi nghỉ trong chùa, chuyện trò với mấy bà vãi để tôi và em Tuấn bắt đầu leo lên vách núi dựng đứng phía sau chùa Giải Oan. Chúng tôi di qua Am Lò Rèn nhưng nay không còn dấu vết.

Danh Sơn Yên Tử

Bà Vãi

Từ đó lên Hòn Ngọc, đường xếp bậc đã quanh co men theo sườn núi. Hai bên lối đi là hai hàng tùng cổ thụ, được trồng từ khiTrần Nhân Tông lên Yên Tử tu hành. Trải qua 700 năm chùa tháp xây bằng gạch đá nhiều cái đã thành phế ích nhưng hàng tùng càng già càng vươn cao, thân và cành tạo dáng phong phú, rễ bám vào vách núi, tàn lá tỏa rộng như chiếc lọng khổng lồ che rợp con đường lên cửa Phật. Tùng Yên Tử có 3 loại chính; Thanh Tùng, Thủy Tùng và Xích Tùng. Xích Tùng là loại rất quí‎, vân gỗ đỏ như son, ở nước ta ngoài Yên Tử ra không nơi nào có. Trên mặt đường cheo leo đến Hòn Ngọc, rễ tùng trồi lên như sống trâu, đan xoắn vào nhau, tạo nên những bậc thang cho khách hành hương

Đường Tùng

Đường tùng

Trong chuyến đi anh em tôi gặp khách hành hương toàn đàn bà, có rất nhiều bà già hom hem mà vẫn hăng hái leo trèo. Thật đáng khâm phục!

Đường Tùng 02

Không chỉ trồng Tùng mà Đức vua – Phật hoàng Trần Nhân Tông còn cho trồng cả Trúc dọc đường lên chùa Hoa Yên. Đường Tùng và đường Trúc là hai con đường song song nhau tạo thành hai lối đi lên và đi xuống. Phật tử có thể đi lên bên đường Tùng và đi xuống bên đường Trúc hoặc ngược lại tuỳ theo sở thích của mỗi người. Trúc mọc thành rừng, là sản phẩm rất độc đáo, đặc trưng của Yên Tử. Trúc có thể sống nơi khô cằn nhưng quanh năm xanh tốt tượng trưng cho ý chí người quân tử, mang sức sống dẻo dai, biểu tượng cho sự trường thọ, vẻ đẹp thanh bạch, tao nhã của tạo hoá. Phải chăng vì lẽ đó Đức vua – Phật hoàng Trần Nhân Tông lấy tên rừng trúc, Trúc Lâm làm tên gọi cho dòng thiền do ông sáng lập.

Đường Trúc

Image result for rung truc yen tu

Image result for rung truc yen tu

ĐỌC THÊM: MĂNG TRÚC YÊN TỬ

Món đặc sản Yên Tử này được mọc tự nhiên trên các dãy núi Yên Tử và có hình dáng hoàn toàn khác so với măng ở các khu vực khác. Măng Trúc Yên Tử không to mập mà thon dài và rất chắc.Tùy nhu cầu của khách mua hàng mà măng trúc ở đây đươc bán theo cân hoặc theo bó. Nói về mùi vị măng trúc nơi đây vừa bùi ,vừa thơm, không quá đắng. Tương truyền các tu sĩ tu hành nơi đây trước đây đã sử dụng măng trúc là món ăn chính.

Măng trúc có thể được chế biến rất nhiều món khác nhau nhưng ngon nhất, thu hút nhất vẫn là món măng trúc chấm muối vừng. Măng trúc sau khi được thu mua đem giữ nguyên cả bẹ tươi rồi đem nướng trên than hoa sau đó được chấm với muối vừng. Bạn có thể thưởng thức món ăn này trên đỉnh Hoa Yên để vừa có thể ngắm cảnh vừa có thể thưởng thức món ăn này. Một điều thú vị nữa là mùa măng trúc thu hoạch cũng chính là mùa du lịch lễ hội

mang-truc-yen-tu mang-truc-yen-tu-1

Nhưng không hiểu sao, qua thời gian, món quà thanh đạm này lại trở thành một món ngon ở Quảng Ninh mà ai cũng tìm tới khi đến Yên Tử. Cây trúc sống sâu trong rừng, chịu nhiều sương gió, giá rét lạnh buốt trên núi. Măng trúc chính là một loại măng rừng Yên Tử, có dáng thon và nhỏ nhưng rất chắc chắn. Măng có vị ngọt bùi, hơi đắng nếu chế biến không kĩ. Ngon nhất là măng được xào với thịt dê hoặc thịt bò non. Để măng khỏi đắng, người nấu phải rửa măng thật sạch, cắt thành các lát nhỏ, có độ ngắn khoẳng 2 đốt ngón tay, bổ dọc và chú ý xào thật kĩ. Để cho món măng được thơm và ngon, người nấu có thể thêm một ít cần tây, hành tươi.
Ngược lại, vào mùa lễ hội kéo dài hết mùa xuân hàng năm, lại có trăm đôi chân dẻo dai khác không hề bước lên cáp treo, mà hàng ngày họ leo bộ lên những bậc cấp, trong đó có những đoạn đường rất cheo leo, là những hòn đá trơn trợt bám vào nhau để kiếm sống bằng nghề săn lùng hái lượm để bán đủ thứ cho khách hành hương. Đối với họ, cánh rừng trúc Yên Tử bạt ngàn và hiểm nguy kia là miếng cơm manh áo. Đó là những người hái măng và bán măng trên Yên Tử. Bên cạnh đó, trong cánh rừng bạt ngàn Yên Tử còn rất nhiều cây cỏ dược liệu, những cây cỏ này cũng được những người khai thác hái, đào… đem ra bán phục vụ khách du lịch. Trong cuộc hành trình đến Yên Tử, việc mua măng trúc hay nhiều thứ khác cũng là cái thú của người hành hương.

Những người bán măng và bán nhiều loại khác như khoai mài, các loại lá thuốc, rễ cây, nấm linh chi và nhiều cây cỏ hái từ trong rừng Yên Tử , bắt đầu bày bán từ mờ sáng, khi có người khách đầu tiên chạm đến miền đất thiêng này. Ngạc nhiên hơn khi lên tới tận con đường đầy gian nan để chạm gặp chùa Đồng, trong mây vờn và không khí lạnh buốt cũng bắt gặp cả mấy chục người bất kể trắc trở, bày hàng trên các gộp đá, mời chào khách mua. Có thể nói là mỗi người bán hàng trên đỉnh núi cao vời vợi của đỉnh Yên Tử cũng đã trở thành một vị bác sĩ khi họ chỉ định rành rọt các loại cây cỏ có công dụng chữa bệnh.

mang-truc-yen-tu-3 mang-truc-yen-tu-2

Măng luộc lên chấm với muối mè có hương vị riêng, khác với măng trong rừng khác. Măng đã được chế biến thành măng ngâm chua trong lọ cho khách tỉnh xa mua về làm quà. Một người buôn bán lý luận rằng nếu không khai thác măng thì rừng trúc Yên Tử khó phát triển. Còn những người quản lý thì không thể ngăn chặn lực lượng cả vài trăm người vào rừng Yên Tử, đủ mọi cách đào xới tìm măng và cây dược liệu. Du khách lại thích thú với đặc sản Yên Tử trong cuộc hành hương của mình…CỨ ĐÀO BỚI NHƯ THẾ NÀY THÌ LIỆU MAI SAU YÊN TỬ CÓ CÒN RỪNG TRÚC KHÔNG? THIỀN PHÁI TRẦN NHÂN TÔNG CÓ CÒN GỌI LÀ TRÚC LÂM THIỀN PHÁI KHÔNG?

HÒN NGỌC ở độ cao 400 mét cách chân núi, là một gò đất rộng phẳng nhô lên cao hơn sườn núi vài mét. Đây là nơi vua quan phải xuống kiệu, đi chân lên chùa Hoa Yên bái yết Trần Nhân Tông. Trên mặt HÒN NGỌC nhấp nhô hơn chục ngọn tháp hình trụ tứ giác, cao sàn sàn 2 mét. Đó là mộ các tăng ni phật tử tu hành và chết ở Yên Tử từ thời Hậu Lê đến đầu thời Nguyễn, trông xa như những Phật tử còn đương cầu niệm .

Hòn Ngọc

THÁP TỔ ( HUỆ QUANG KIM THÁP)

Tháp Tổ (Huệ Quang Kim Tháp) do vua Trần Anh Tông cùng triều đình và Đệ Nhị Tổ Pháp Loa cùng các Tăng sỹ Thiền Phái Trúc Lâm xây dựng vào năm Kỷ Dậu,(1309), sau một năm Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết bàn, là nơi lưu giữ xá lợi của Phật Hoàng.

Tháp Tổ là tháp trung tâm của Vườn tháp Huệ Quang.

Tháp Tổ - Ảnh 1

Tháp Tổ- Huệ Quang Kim Tháp

Tháp Huệ Quang hiện đã được trùng tu nhiều lần. Chỉ có phần nền và bệ tòa Sen phần đế tháp còn giữ được dáng vẻ ban đầu của nó. Hiện nay Tháp Huệ Quang cao 7m, đặt trên một nền đá xanh ghép hai cấp có dạng hình lục giác,

Trong tháp thờ Bảo tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông ngồi Thiền dáng khoan thai, an nhàn tự tại được tạc bằng đá cẩm thạch vào thời Lê Sơ.

Tháp Tổ - Ảnh 2

Bảo tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông

Khu Vườn Tháp Tổ là nơi tụ vương linh khí của Long mạch Yên Tử khởi nguồn từ đỉnh Non thiêng theo hướng Bắc Nam.

Quanh Lăng là những cây Đại, cây Tùng cổ kính và nhiều tháp mộ lưu giữ “Ngọc Cốt” của các Thiền sư tu hành ở Yên Tử trải qua các thời đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn, tọa lạc trong Vườn Tháp Huệ Quang linh thiêng.

Phía sau Tháp Tổ là hai Mắt Rồng tụ thủy thành 2 cái hồ nước, lưu giữ khí thiêng sông núi. Hai hồ nước nằm hai bên tả hữu như chầu vào vườn tháp. Người xưa theo phong thủy gọi đây là cặp mắt rồng. Hai hồ này được Tam tổ Huyền Quang trồng hoa sen. Nhưng không biết từ bao giờ, mắt rồng bên trái bị bồi lấp, chỉ còn là hố đất, cây độc mọc hoang khắp lòng hố. Vì sao mắt rồng này không còn sinh thủy?

Vườn Tháp Huệ Quang

Image result for tháp tổ huệ quang

Vườn Tháp Huệ Quang 01

Theo truyền thuyết “Ngày xưa, giặc phương Bắc sang xâm lược nước ta. Chúng đem theo cả phù thủy, thầy địa lý tìm các huyệt đạo của núi sông nước Việt để yểm bùa trị huyệt. Chúng mưu toan làm nước ta tuyệt diệt hết nhân tài, hồn thiêng sông núi tiêu tan để yên bề đô hộ. Chúng biết Yên Tử là đất thiêng nên tìm mọi cách chọc mù cặp mắt rồng, yểm bùa, trồng cây độc ở ngay chính giữa đáy mắt rồng bên trái nên chỉ còn một mắt phải”.Năm 1998, sư thầy Thích Diệu Nhàn nhiều năm trụ trì chùa Hoa Yên đã có cơ cảm nên tiến hành khôi phục lại mắt rồng bên trái, trả lại hình hài cặp mắt rồng thủa xưa.

Cũng tại vườn tháp Huệ Quang linh thiêng này, cách đây không lâu đã xảy ra câu chuyện có thật mà ông Trần Trương và nhiều người biết đến còn nhắc lại câu chuyện: “Vào cuối năm 1992, có một đội xây dựng nhà khách Yên Tử sau khi làm việc xong rủ nhau đi lễ chùa Đồng. Khi ngang qua tháp Tổ, thấy một hòn đá đặt trên ngọn của một ngôi tháp đổ. Hai cậu thợ trẻ trong đội liền đố nhau: Ai ném trúng hòn đá cho là “tài”! Một cậu vung tay. Hòn đá văng xuống đất. Lên tới chùa Đồng, cả đội mới phát hiện ra thiếu mất một người. Nhưng không ai lo, vì toàn là người địa phương Uông Bí cả. Sau mấy tiếng đồng hồ, xuống núi, về đến tháp Tổ, cả đội ngạc nhiên: Cậu ném đá kia đang ngồi xếp bằng, mặt áp vào tường tháp, hai tay đặt lên đùi, hỏi chẳng nói, gọi chẳng thưa, ngồi im bất động như khúc gỗ! Một cậu vội vã thỉnh sư thầy Diệu Nhàn xuống làm lễ sám hối. Lát sau, cậu thợ trẻ nghịch dại kia mới tỉnh, khóc nức nở rồi lặng lẽ theo anh em xuống núi

 

Chùa Hoa Yên

Chùa Hoa Yên 95

Đường dốc thoai thoải từ Tháp Tổ lên chùa Hoa Yên giữa hoa cúc vàng, hoa đại trắng xum xuê rực rỡ nên đời sau vua Lê Thánh Tông đến Yên Tử đã đổi tên chùa vốn là Vân Yên từ thời Trần Nhân Tông thành Hoa Yên. Trước mặt chùa có cây đại cổ 700 tuổi và bên cạnh chùa có phiến đá chạm nổi hình 3 ni cô ngồi xếp bằng, vòng tay trước ngực, cổ đeo tràng hạt.

Cây Đại Cổ 700 tuỏi

.Hoa Yên là nơi tiếp đón các vua quan trong triều từ Thăng Long lên yết bái Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Hoa Yên lớn nhất trong hệ thống chùa am tháp Yên Tử nên xưa kia còn gọi là Chùa Cả.

Tháng chạp cuối năm 2002, lúc đó đã có cáp treo tới chùa Hoa Yên, tôi đưa cả đại gia đình (vợ Việt Hương, em Bùi Duy Tuấn, con trai Bùi Duy Thiện, con dâu Hồng Lam và 4 cháu nộị Bùi Duy Ân, Bùi Duy Việt, Bùi Duy Hiên, Bùi Duy Vĩ) lên thăm Yên Tử.

Yên Tử 27 Dec 2002

Trần Nhân Tông và Trúc Lâm Thiền Phái Việt Nam

Ông Vua khai quốc của triều Trần là Trần Thái Tông (Trần Cảnh) đã từng bỏ thành Thăng Long lên Yên Tử tìm gặp Thiền Sư Hiện Quang (sau này được Trần Thánh Tông phong làm Phù Vân Quốc Sư) để thỉnh cầu:”Trẫm muốn vào núi thành Phật chứ không cần gì khác”. Nhà sư Phù Vân trả lời: “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng. Lòng lặng mà hiểu, đó chính là chân Phật. Nay, nếu Bệ hạ giác ngộ ngay Tâm đó, thì lập tức thành Phật, không nhọc tìm kiếm bên ngoài. Vua bất đắc dĩ trở lại hoàng cung khi Thái sư Trần Thủ Độ đích thân lên mời về.

Trần Nhân Tông là con vua Trần Thánh Tông, cháu nội vua Thái Tông Trần Cảnh, sinh năm 1258 và mất năm 1308. Thủa nhỏ Trần Nhân Tông thường theo vua cha Thánh Tông lên Yên Tử nghe Phù Vân Quốc Sư giảng kinh Phật.

Trần Nhân Tông được Vua cha là Thánh Tông đặt tên là Phật Kim vì sinh ra có sắc vàng, sau còn có tên là Nhật Tôn rồi mới đổi thành Trần Khâm. Năm 16 tuổi, ông được lập làm Đông cung Thái tử và kết duyên cùng Quận chúa Quyên Thánh, trưởng nữ Hưng Đạo Đại Vương. Ngài được vua cha hết lòng dạy dỗ, soạn Di hậu lục để chuẩn bị cho việc nối nghiệp. Dù đã ở ngôi Thái tử (sau 3 lần chối từ, muốn nhường cho hoàng tử em) nhưng Trần Khâm đã nhiều lần trốn đi tu song không thành. Bốn năm sau, năm 1278, Trần Thánh Tông quyết định truyền ngôi báu lại cho Thái tử Trần Khâm. Trần Khâm lên ngôi Vua tức Trần Nhân Tông năm 21 tuổi, giữa thời gian sôi động nhất của dân tộc ta. Trong vòng 30 năm (1258-1288), dân tộc ta liên tiếp tiến hành 3 cuộc kháng chiến chống một kẻ thù hung hãn nhất thời bấy giờ là quân Nguyên Mông.

Mặc dù một lòng hướng Phật và ham thích Thiền học, Trần Nhân Tông lại là một đấng minh quân kỳ tài và một vị chiến tướng dũng mãnh. Năm 1282, vua Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông chủ trì hội nghị Bình Than là một hội nghị quân sự tìm kế sách chống Nguyên Mông. Trong dịp này Trần Khánh Dư được tha để đái công chuộc tội (thông dâm với con dâu Hưng Đạo Vương, tức công chúa con gái vua Trần Thánh Tông) và có câu chuyện Trần Quốc Toản nhỏ tuổi (16 tuổi) không được vào họp, tức quá bóp nát quả cam trong tay lúc nào không hay.

Năm 1284 được tin quân giặc tập trung ở Hồ Nam tới 50 vạn tên, vua Nhân Tông liền trao cho Trần Quốc Tuấn chức Quốc công tiết chế tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang để lo chống giặc. Ngoài ra Trần Nhân Tông cùng với Thượng Hoàng Trần Thánh Tông còn tổ chức triệu tập các bô lão về họp ở điện Diên Hồng để hỏi ý kiến về đường lối giữa lúc dầu sôi lửa bỏng. Hội nghị Diên Hồng là một đại hội đại biểu nhân dân thời ấy, đã bày tỏ quyết tâm sắt đá của toàn dân đánh giặc đến cùng, đem lại quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc cho muôn dân Đại Việt. Đến năm 1285, với tinh thần bảo vệ dân tộc, tổ quốc của toàn dân, Ngài đã lãnh đạo và chiến thắng cuộc xâm lăng của Nguyên Mông .

Sau đó, quân Nguyên Mông vẫn chưa nguôi ý đồ bành trướng phương Nam, tiến chiếm Chiêm Thành, làm bàn đạp với ý đồ thôn tính Đại Việt. Năm 1288, vua Trần Nhân Tông một lần nữa lãnh đạo toàn dân, toàn quân chiến thắng quân Nguyên.

Cùng với Trần Quốc Tuấn, Trần Nhân Tông đã lãnh đạo nhân dân hai lần đánh bại sự xâm lược của quân Nguyên – Mông, lúc bấy giờ đang làm bá chủ trên khắp hai lục địa Á – Âu vào các năm 1285-1288 nhất là đại thắng trận Bạch Dằng Giang năm 1288. Trong cuộc chiến lịch sử này, Trần Nhân Tông cùng với vua cha chỉ huy đạo thủy binh hỗ trợ đắc lực cho bộ binh. Khi cuộc chiến thắng lần thứ ba kết thúc, đất nước sạch bóng quân thù. Trong buổi lễ trang nghiêm mừng thắng trận, Trần Nhân Tông dẫ cảm khái đọc 2 câu thơ đầy khí phách hào hùng:

“Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,

Sơn hà thiên cổ điện kim âu”

(Đất nước hai phen chồn ngựa đá,

Sơn hà ngàn cổ vững âu vàng)

Năm 41 tuổi, nhà vua nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông lên làm Thái Thượng Hoàng. Một năm sau đó, Ngài cầm quân sang chinh phạt Ai Lao, giữ yên bờ cõi, buộc đất nước Vạn Voi tiếp tục thần phục Đại Việt.

Năm 1301 sau chuyến thăm hữu nghị Chiêm Thành, Thái Thượng Hoàng hứa gả Công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân. Đến năm 1306, Ngài tổ chức hôn lễ cho công chúa và vua Chiêm. Chế Mân đã dâng hai quận Châu Ô, Châu Rí cho Đại Việt làm quà sính lễ. Đây chính là điều kiện giúp cho Đại Việt mở rộng bờ cõi về phương Nam là Thuận Hóa (Huế).

Có lẽ vì thời điểm Trần Nhân Tông nhường ngôi, Trần Anh Tông còn quá trẻ (Trần Anh Tông sinh năm 1276, khi lên ngôi mới 17 tuổi), nên Trần Nhân Tông đã quyết định ở ngôi Thái Thượng hoàng trong 5 năm sau đó trước khi quyết định rời khỏi Hoàng cung lên Yên Tử một lòng tu Phật. Trần Nhân Tông là ông Vua nhà Trần đầu tiên xuất gia theo đúng nghĩa của từ này. Hơn thế, chính Trần Nhân Tông là người đã hợp nhất các dòng Thiền lưu truyền từ trước để sáng lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, một dòng Thiền của riêng Việt Nam.

Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ thế kỉ thứ I trước Công nguyên và đi vào lòng dân tộc với bao thăng trầm. Tuy nhiên, chỉ đến khi xuất hiện Thiền phái Trúc Lâm mà vua Trần Nhân Tông là vị tổ thứ nhất ở thế kỷ 13 thì Phật Giáo Việt Nam mới chính thức có tông phái riêng, nền tảng triết lý, hành đạo riêng với tư tưởng nhập thế đạo đời không tách rời. trước Trúc lâm Yên Tử, các tông phái Phật giáo ở Việt Nam đều do người nước ngoài sáng lập, song đến Trần Nhân Tông, Phật giáo không còn là Phật giáo Ấn Độ tại Việt Nam, cũng không phải là Phật giáo Trung Quốc tại Việt Nam, mà là Phật giáo Việt Nam. Bước chuyển trong quá trình bản địa hóa Phật giáo chính thức được đánh dấu với sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm tại Yên Tử.

Trần Nhân Tông là ông tổ thứ nhất của phái Trúc Lâm. Pháp Loa kế nghiệp là tổ thứ hai (mất năm 44 tuổi). Kế vị là Huyền Quang tôn giả, ông tổ thứ ba của phái Trúc Lâm. Huyền Quang nổi tiếng thông minh, 3 lần đỗ trạng nguyên nhưng không ra làm quan. Ông thụ giới theo Bảo Sái thiền sư. Điếu Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông ngự giá đến chùa, trông thấy Huyền Quang đem lòng yêu mến cho theo hầu cận. Vua Trần Anh Tông khen Huyền Quang là chân tu , không vẩn chút tính dục như nước không gợn sóng, gương không bụi mờ. Mạc Đĩnh Chi tâu:”Người ta vẽ hổ chỉ vẽ được da không vẽ được xương. Cứ thử xem thế nào?”. Vua bèn cho một cung phi vừa đẹp vừa tài tên là Điềm Bích đến Hoa Yên giả đò tầm sư học đạo để thử lòng Huyền Quang. Ít lâu sau Điềm Bích trở về tâu vua tư cách trong sạch của Huyền Quang khiến vua càng thêm khâm phục vị đệ tam tổ Trúc Lâm.

Đến đời sau, Ngô Thời Nhiệm, một đại thần nhà Lê đến Yên Tử học đạo cũng nhận thấy chỉ có Huyền Quang là hiểu được tấm lòng cao đẹp tưởng chừng xuất thế mà đích thực nhập thế tích cực của Nhà Sư Hoàng Đế như ông đã viết:”Người ta thấy Điếu Ngự đệ nhất tổ đến ở chùa Hoa Yên thì bảo là người xuất gia nhưng ta (tức Ngô Thời Nhiệm) biết rằng Đức Ngài chưa an tâm vì phía Bắc vẫn có nước láng giềng mạnh mẽ mà tham lam muốn bành trướng. Cái ‎ ấy không tiện nói ra sợ lòng người giao động. Cho nên nhằm được ngọn núi Yên Tử, phía đông nhìn về Yên Quảng, phía bắc liếc sang Cao Bằng Lạng Sơn, dựng lên ngôi chùa dạo chơi lúc thường mà canh chừng quân bắc phương xâm phạm. Thật là một vị Vô Lượng Đại Thế chi Bồ Tát. Lúc bấy giờ chỉ có Huyền Quang tôn giả hiểu được điều ‎ đó mà theo Ngài”.

Tuy ngồi thiền trong am cỏ Ngọa Vân trên đỉnh núi Yên Tử. Đức Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông đã dùng hào quang định lực của mình mà quán chiếu trong, ngoài, trên dưới, mọi sự với Ngài đều thông tỏ. Không bàn tới yếu tố tĩnh mịch, linh thiêng của ngọn núi này mà xét tới tính khoa học của vấn đề, các nhà nghiên cứu cho rằng: Những quả núi lâu đời như Yên Tử như Hy Mã Lạp Sơn (Tây Tạng), … đều có lực từ trường khá lớn. Những luồng điện này sẽ làm tăng thêm lực cho dòng lưu nhân điện trong thân thể những người ngồi thiền nơi núi đó.

Trên đỉnh núi Yên Sơn, cách biệt với kinh kỳ. Vua Phật Nhân Tông vẫn rõ được triều chính, nhiều lần về triều khuyên bảo vua Anh Tông tu dưỡng tâm tính, kìm bớt lòng dục, xa rời tửu sắc, gìn giữ chân tâm… xứng đáng trở thành bậc quân vương tôn kính. Ngài còn biết rõ được biên cương phương bắc, phương tây và phương nam, có được những quyết sách lớn lao và đúng đắn nhằm gìn giữ tình bang giao giữa các nước láng giềng và Đại Việt, giữ vững nền an ninh chính trị nước nhà.

Cũng chính ông Vua một lòng hướng đến Phật môn này đã từng có những tuyên bố nảy lửa: “Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác”.

Cho nên, việc từ bỏ ngôi vua vào núi để tu hành của Vua Trần Nhân Tông tưởng chừng xuất thế, nhưng đích thực lại nhập thế tích cực. Từ chức vụ cao sang của Nhà Vua, Vua Trần Nhân Tông trở về ngôi tôn quý Nhà Phật. Vua từ cái nhất thời, hữu hạn mà trở về cái vô hạn, vĩnh hằng. Không phải lúc chết, Vua Trần Nhân Tông mới hóa Phật. Danh hiệu Vua Bụt (Phật Hoàng) đã được tôn vinh cho vua Trần Nhân Tông khi Ngài còn tại thế.

Người lớn tuổi nhất

leo đỉnh Fansipan

Cách đây gần 40 năm sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, đất nước đã hết chiến tranh. Tôi và gia đình được giáo sư Tôn Thất Tùng như thể dại diện cho nhà nước, mời ra Hà Nội để thăm lại Thăng Long ngàn năm văn vật là nơi chôn rau cắt rốn cùng trường đại học Y khoa Hà Nội, bệnh viện Phủ Doãn (nay đổi tên là bệnh viện Việt Đức) là nơi tôi khởi sự Y nghiệp. Nhưng tuyệt vời hơn cả là tôi được gặp lại cha mẹ già và các em sau hơn 20 năm xa cách. Phải nói đó là một điều đặc biệt dành cho tôi, một người mới đi tù cải tạo về và còn đương trong chế độ quản chế. Tôi về Hà Nội đúng vào dịp Tết, đầu năm 1976, “chân bước đi trên đường đầy hoa đào rơi, cha mẹ có hay chăng giờ con về”.

Ăn Tết xong ở Hà Nội với gia đình và bạn bè, tôi lên thăm Sa Pa, ngắm nhìn đỉnh Fansipan, nóc nhà của Tổ Quốc. cao vời vợi…

Sau đó tôi phải ra đi lưu vong xứ người để rồi hơn 20 năm sau mới có dịp trở lại Sapa. Sáng ngày 16 tháng giêng năm 2000 vợ chồng tôi ngắm nhìn đỉnh Fansipan trong ánh sáng bình minh từ núi Hàm Rồng với biết bao mơ ước được leo lên đó một lần trong đời. Tìm hiểu việc đó thì được biết phải leo trèo cả tuần lễ rất khó nhọc và nguy hiểm, chỉ có Tây nó leo thôi (hồi đó chưa có tuyến du lịch Fansipan). Tôi đành ngao ngán thèm khát ngắm nhìn đỉnh Fansipan, vẫn cao vời vợi đầy vẻ ngạo nghễ và thách thức.

Đỉnh Fansipan Hàm Rồng Sapa B 16 an 2000

Đỉnh Fansipan vời vợi ngay trên đầu vợ tôi

Đỉnh Fansipan từ Hàm Rồng Sapa A 16 Jan 2000

Hình chụp từ núi Hàm Rồng, Sapa

Tôi đã đi cùng khắp thế giới những nơi núi cao sông dài kể cả Nam cực và Bắc cực. Năm 72 tuổi tôi bước chân lên Bắc cực ngày 20 tháng tư năm 2006, được Trung tâm quản lý Bắc cực Expeditional Center Pollus tại Ice Camp Barneo (do người Nga quản lý) cấp giấy chứng nhận: “BÙI DUY TÂM là người Việt Nam đầu tiên tới Bắc cực”. Việc này đã được truyền hình, báo chí trong nước và ngoài nước loan tin và cho đến nay chưa có ai phản đối. Vậy tôi có lẽ đích thực là người Việt Nam đầu tiên bước chân lên Bắc cực. Thế còn cái đỉnh Fansipan có 3.143m, bây giờ người ta leo lên leo xuống như đi chợ mà tôi vẫn còn phải ấm ức sao, mai mốt chết có nhắm mắt được không hay cứ mở mắt ngướv nhìn đỉnh Fansipan cao vời vợi.

Được nghe kể:

– Có ông Tây nặng 300 kí (chắc là 300 lbs thôi) thuê người khênh lên tận đỉnh Fansipan.

– Có người thanh niên Việt Nam cụt chân, chống nạng leo lên Fansipan. Thế tôi thì sao: nặng có 70 kí, lại còn cả hai chân hai cẳng.

Lại được nghe kể:

– Có đôi nhân tình tán tỉnh nhau đã tới mức “xem trong âu yếm có chiều lả lơi” thì cô nàng ỏn ẻo thưa rằng “chỉ làm việc đó trên đỉnh Fansipan”. Chàng ta năn nỉ xin hạ giá xuống là “Chùa Đồng, đỉnh núi Yên Tử”. Cô nàng bằng lòng và giao hẹn: “Nếu chưa leo tới … thì chưa động phòng”.

– Có đôi nam nữ thanh niên lôi nhau lên đỉnh Fansipan để mi nhau. Hình chụp hai cô cậu áp bụng trên bụng dưới vào tấm bằng hình cái mốc của đỉnh Fansipan có khắc hình ngôi sao. Không nên, không nên, như thế là phạm thượng. Sao không âu yếm ngồi xuống hay đứng bên tỏ tình để đỉnh Fansipan vẫn vời vợi, vẫn là nóc nhà Tổ Quốc.

Thế ra ĐỘ CAO làm cho TÌNH YÊU lên men đến vậy sao !

Tôi quyết định chinh phục đỉnh Fansipan mặc dầu tuổi tác ngót nghét 80 (tuổi Giáp Tuất) và mở mạng ra coi những điều cần biết cho chuyến đi.

– Bảng kê các vật dụng cần mang theo quá dài, còn nhiều thứ hơn cho chuyến đi Bắc cực của tôi.

– Phải kiểm tra sức khỏe và tập luyện chạy dốc nhiều tuần lễ trước khi đi.

– Thống kê cho thấy rất ít người tuổi 50, 60 (U40, U50, U60). Phổ biến nhất là tuổi 20 (U20). Được nghe kể có một ông Tây đã từng là vận động viên Thế vận hội, 72 tuổi, leo tới gần đỉnh mà không chịu leo nốt vì mệt quá phải trở về, mặc dầu chỉ còn 20 phút nữa và người cao tuổi nhất trên 70 cho đến nay vẫn không có ai hay mình chưa biết thì đúng hơn.

– Hiện nay có nhiều cung đường để leo Fansipan

1. Cung trạm Tôn (1.900m) – Fansipan – Trạm tôn: 2 ngày 1 đêm. Đường này ngắn nhất, dễ đi nhất (một lượt là 8.36 km) 8 cây số đường rừng núi không dễ nuốt đâu. Cảnh vật đơn điệu, ngút ngàn rừng núi.

2. Cung Bin Chải (1.260m) – Fansipan – Trạm Tôn: 3 ngày 2 đêm. Đường này khó đi hơn dài hơn với những đoạn đường cheo leo mép vực, với những tảng đá rêu phong trơn trượt.

3. Cung I Cát cát (1.245m) – Fansipan – Trạm Tôn: 4 ngày 3 đêm. Phải nói ngay rất nhiều vất vả trong những ngày nắng còn mùa mưa thì khỏi nói. Đây là đường dài nhất, hiểm trở nhất nhưng cũng là đường đẹp nhất, băng qua những bản làng người H’Mông, Dao rất đẹp, một hành trình dài 19,5km với rừng hoa đỗ quyên, rừng tùng, rừng thảo quả bạt ngàn mê mải. Đi vào mùa xuân thì hẳn phải sững sờ vì cảnh đẹp như tranh vẽ, còn đi vào mùa đông phải xét lại nhất là vào mùa mưa.

4. Cung I Dốc Mít – Bình lư – Fansipan: 6 ngày, rất nguy hiểm, chỉ có dân leo núi lành nghề với đầy đủ trang bị. Chỉ có khách Tây mới dám đi.

Khẳng định là việc bạn leo Fansipan không có người hướng dẫn là cực kỳ nguy hiểm và khả năng lạc là 90%, 10% đúng đường do hên thôi. Có mẹo như sau: Bạn lên Sapa thử đi hỏi các tour leo FAN và bạn sẽ biết khi nào có nhóm leo và bạn lên Trạm trước đợi nhóm đó leo cùng là OK. Tiết kiệm đúng kiểu bụi.

* Kỹ thuật leo núi:

– Khi leo luôn bước đều chân dù đường dễ đi bạn cũng không nên đi nhanh, vì leo núi cần sự ổn định và sức bền.

– Cố gắng tập thở ra bằng miệng hít vào bằng múi.

– Không nên ráng sức, nếu thấy mệt thì nghỉ ngay, vì bạn đi trời lanh rất dễ bị choáng nếu không kiểm soát được mà lủi đại xuống miệng vực thì toi đời. Bình quân đi 3 – 7 phút lại nghỉ.

– Nước chỉ nên uống từng ngụm nhỏ, không uống nhiều một lần, nên ngậm kẹo ngọt hoặc chocolate, hoặc bánh orion để thêm lượng đường trong máu.

– Mỗi khi dừng chân nghỉ thì nhớ quàng khăn ngay để tránh cảm lạnh, tai luôn bịt kín đừng để mây vào bên này bay ra bên kia.

– Khi leo vách đá hoặc lên dốc nhớ kiếm vị trí chắc chân mới bước, đừng mạo hiểm với tính mạng, chú ý leo lên vách đá thì nhớ nhìn phía trên trước hẵng leo kẻo húc đầu vào đá.

– Nếu bạn đi với bạn gái hay vợ thì tốt nhất nên ngủ nam nữ riêng để bảo đảm sức khỏe (lời dặn thật buồn cười ! Leo đỉnh Fansipan mà lại leo đèo “Ba Dội” nữa thì có mà tự tử).

Sau khi liếc qua các chỉ dẫn trên mạng Internet, tôi nhấc điện thoại gọi cho các tour Fansipan. Kinh nghiệm của tôi là phải cố bằng được nói chuyện với hướng dẫn viên (tour guide) mới có được các thông tin cụ thể còn nói chuyện với nhân viên bán tour thì hỏng hết. Giá cả khác nhau khá xa. Tour đầu tiên cho tôi giá 1 triệu rưỡi/ ngày cho mỗi porter (porter nguyên từ tiếng Anh là người khuân vác hay nói đùa là anh “cửu vạn”), một tour khác (nói chuyện trực tiếp với tour guide) cho giá 500.000/porter cho cả chuyến đi. Tôi đòi thuê cáng kiệu như bên Trung Quốc nhưng anh tour guide cười nói đường đi dốc đứng leo chân còn khó làm sao cáng kiệu được. Porter sẽ dìu khách hay cõng những quãng ít dốc, nhiệm vụ chủ yếu của porter là đeo sau lưng những gùi đồ ăn, lều ngủ …, thường nặng nửa trọng lượng của thân họ. Vai trò của người porter quyết định sự an toàn và thành bại của chuyến đi.

Xin đọc vài đoạn trích từ bài rất hay của ký giả Mai Xuân Tùng, báo Tiền Phong về người Porter:

Nghề dẫn đường lên đỉnh Fansipan

Gùi hàng quá nửa trọng lượng cơ thể sau lưng, chân vẫn thoăn thoắt ngược dốc, vượt gập ghềnh đá, tận tụy dẫn đoàn luồn rừng, lên đỉnh núi, đó là những phu vận chuyển hành lý trên nóc nhà Đông Dương Fansipan.

dandg_984ac

Trên vai trĩu nặng gùi hàng các porter vượt qua cung đường dốc đá

Ảnh: Mai Xuân Tùng

Mồ hôi giữa núi lạnh

Chẳng biết việc vận chuyển hàng hóa cho khách du lịch lên đỉnh Fansipan cao 3.143m từ bao giờ đã thành một nghề. Đến nay, ở các thôn, bản dưới chân dãy Hoàng Liên, nhất là ở Sapa, người ta rủ nhau đi thành từng đoàn, từng tốp. Cũng từ lâu, người ta quen gọi những người hành nghề này bằng cái tên Tây chung là porter (người khuân vác). Porter chủ yếu là trai tráng bản địa người Mông.

Cung dễ thở nhất (mà đoàn tôi nối gót lên Fansipan) là từ Trạm Tôn, độ cao 1.900m.

Gọi là dễ nhưng cũng đủ khiến đoàn chín người chúng tôi phờ phạc. Dù ở cung hiểm trở hay dễ thở, thì tiền công của porter cũng ở mức 150.000 đồng/ngày. Người dẫn đoàn như A Lử thì được khoảng 200.000 đồng. A Lử cho hay, giá ngày công ấy đã có từ mấy năm trước đây rồi, giờ chưa tăng. Có tiếng thở dài lẩn nhanh vào sương gió lưng chừng trời.

Những porter trên rẻo cao phần nhiều có thể hình nhỏ. Trên vai lúc lỉu những chiếc gùi khéo đan bằng mây tre chất đầy thức ăn, nước uống, hay lều bạt, túi ngủ hành lý của khách.

Mỗi gùi nặng 30 – 50 kg. Hai quai bện từ những sợi đay thít chặt dính với lớp vải áo mỏng với thớ thịt. Những đôi vai của thanh niên tuổi 16 – 17, thậm chí trẻ như Vàng A Toại (14 tuổi), đã mau chai sần và tím sậm.

Không ít khách du lịch cao to tò mò chọn gùi hàng nhẹ nhất, nhưng chẳng mấy ai nhấc được khỏi mặt đất. Có anh vừa nâng lên đã bị gùi hàng giật ngã ngửa. Muốn làm nghề này phải có sức khỏe, quen địa hình, chịu đựng tốt và thêm lòng dũng cảm. Chỉ cần sơ sẩy trượt chân, không rơi xuống vực đá mất mạng thì cũng gẫy chân, tay như bỡn…

Những khách leo chậm, hay đoàn nhiều nữ thường khiến porter mệt nhanh hơn. A Lử nói: “Đoàn có người đi chậm hay nghỉ thì mình phải chờ hoặc cử người đi kèm. Chờ nhiều chân dễ chùn, vai hay mỏi”. Vì thế, chốt đoàn thường là hai porter khỏe và nhiều kinh nghiệm.

Trong cái nghề nặng nhọc này, bạc bẽo nhất là khi gặp kẻ coi đồng tiền của mình là to, mà thiếu sự cảm thông, tôn trọng. Nhiều người trong đoàn chúng tôi đợt ấy, không khỏi bức xúc khi thấy “đoàn bạn”, mặc quần áo “ngầu”, dường như dân đi “phượt” chuyên nghiệp, luôn miệng văng những câu chửi tục, nặng nhẹ với porter… Cũng có đôi bạn trẻ không biết vô tâm hay cố ý để một porter thồ trên lưng gùi hàng cao quá đầu đứng chờ họ chụp ảnh… “Chúng tôi quá quen và coi như phải chấp nhận khi hành nghề” – A Lử chỉ cười.

Ngày gùi hàng nặng nhọc. Đêm đến không phải lúc nào cũng có giấc ngủ để lấy lại sức. Trong căn lều chật hẹp, đẫm sương, đội vận chuyển chen chúc nhau. A Lử kể, những ngày khách đi đông, không đủ lán ngủ, porter trải bạt ra giữa rừng, thậm chí nằm lăn lóc, co quắp trên mặt đất, ngủ qua đêm.

Tờ mờ sáng ngày thứ hai nơi chặng nghỉ 2.800m so với mực nước biển, nhiều khuôn mặt porter phờ phạc sau đêm trắng, lại thoăn thoắt đôi tay lo bữa sáng cho đoàn. Những đôi tay trần nhúng vào nước suối buốt lạnh để rửa rau quả, bát đĩa…?

A Lử kể: “Có khách thì người ta (công ty) gọi đi. Bình thường mỗi tháng chỉ đi được vài chuyến. Nếu mùa du lịch, đi nhiều thì cả tháng được khoảng hai triệu”.

dandg2_1fd87

Mỗi chuyến đi, các porter nhận được 150.000 đồng/ngày.

Trách nhiệm

Ngoài việc mang vác hành lý, mỗi porter còn phải biết thành thạo nhiều việc khác, từ nấu bếp, chuẩn bị bữa ăn, đến làm trại, sơ cứu vết thương… Ngay những porter nhỏ tuổi như Vàng A Toại (14 tuổi) đã tháo vát, gọn gàng lắm trong việc chuẩn bị bữa ăn cho khách; chặt cành cây đan khung, căng bạt dựng lều khi nghỉ.

Tối, cái lạnh ập xuống nhanh hơn. Thiếu đi ánh lửa ngoài trời (phòng tránh cháy rừng, các đoàn khách và porter không được tự ý đốt lửa) càng làm tăng thêm cái tĩnh mịch, lạnh buốt của khí núi, sương rừng. Nhưng bữa ăn của khách chẳng sơ sài vì đã có những con người trách nhiệm.

Với sự khéo tay, lẫn chu đáo, bữa ăn ở độ cao 2.800 m ấy cũng chẳng kém gì mấy so với quán ăn nơi phố phường: thịt gà, bò xào nấm, canh miến, canh măng…

 

dandg3_79bb7

Các porter chuẩn bị bữa ăn cho đoàn tại chặng nghỉ 2.200m

 

Hầu như các porter lành nghề đều sẵn sàng lúc lên thì cõng hàng lẫn dìu khách, khi xuống đôi khi phải… cõng khách, do bị kiệt sức sau khi đến đỉnh. Niềm vui của họ là khi nhận được sự cảm thông của khách. A Lử bộc bạch, mỗi chuyến dẫn đoàn đi, các anh rất vui khi mọi người cùng lên tới đỉnh và quay trở về an toàn. Cũng buồn lắm, nhưng không thể nào khác, khi có người không thể đi hết hành trình. Trong bao nhiêu năm theo đoàn dẫn khách, A Lử vẫn cứ nhớ, cứ tiếc những lần cùng cả đoàn phải quay về khi gần tới đỉnh do thời tiết xấu.

Tận tụy và trách nhiệm, dường như có một nguyên tắc ngầm của người làm nghề vận chuyển ở đây, không ngồi ăn cùng và chung thức ăn với khách. Đáp lại lời mời của mấy bạn nữ trong đoàn tôi, các porter chỉ cười hiền khô kèm lời từ chối ngắn gọn. Có kinh nghiệm từ những lần leo trước, Triều, một thành viên trong đoàn, ý tứ nhắc mọi người để riêng một phần thức ăn, rau quả cho các porter. Những porter cũng khéo đáp lại thiện chí của đoàn. Cũng hiểu từ sự tận tụy mà cô bạn trong đoàn tôi cười xòa và vui vẻ chờ người trong đoàn khi xin nước từ một porter đoàn khác đi ngược chiều và bị từ chối: “Đây là nước của khách, mình không cho được”…

Chúng tôi rời Fansipan trở xuống khi trời đã ngả chiều. Ngược hướng chúng tôi, cung đường vẫn đậm đầy hình ảnh những người vận chuyển nặng trĩu gùi hàng, lặng lẽ lẫn tận tụy dẫn đoàn vượt dốc băng rừng, ngược hướng lên đỉnh.

Theo Mai Xuân Tùng

(Báo Tiền Phong)

Trước khi leo lên đỉnh non, ta nên biết qua về ngọn núi Fansipan Vị trí: Fansipan nằm trong dãy núi Hoàng Liên Sơn, về phía tây nam thị trấn Sa Pa, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai.

Đặc điểm: Fansipan là ngọn núi cao nhất trong dãy núi Hoàng Liên Sơn với độ cao 3.143m. Đây là một bảo tàng thiên nhiên kỳ vĩ, ẩn chứa cả một thảm thực vật với nhiều loài đặc hữu.

Với chiều dài 280km từ Phong Thổ đến Hòa Bình, chiều ngang chân núi rộng nhất khoảng 75km, hẹp là 45km, gồm ba khối, khối Bạch Mộc Lương Tử, khối Fansipan và khối Pú Luông. Cả mái nhà đồ sộ này ẩn chứa bao điều kỳ lạ, nhưng kỳ lạ và bí ẩn nhất, chính là đỉnh Fansipan…

Dưới chân núi là những cây gạo, cây mít, cây cơi với mật độ khá dày tạo nên những địa danh Cốc Lếu (Cốc Gạo), Cốc San (Cốc Mít)… Từ đây đến độ cao 700m là vành đai nhiệt đới có những vạt rừng nguyên sinh rậm rạp, dây leo chằng chịt. Từ 700m trở lên là tầng cây hạt trần như cây pơmu, có những cây ba, bốn người ôm không xuể, cao khoảng 50-60m, tuổi đời tới vài trăm năm. Pơmu (ngọc am) được mệnh danh là mỏ vàng của Lào Cai. Bên cạnh pơmu, còn nhiều loại gỗ quý hiếm khác như: lãnh sam, thiết sam, liễu sam, kim sam, thông đỏ, hoàng đàn … Các cây lá kim ken dầy với cây gỗ nhỏ trụi, thân luôn sũng nước vì càng lên cao, càng hay mưa có năm cả Fanxipan mưa suốt một tháng liền. Xen lẫn với rừng lá kim, là các loại hoa đỗ quyên, phong lan, hoàng anh rực rỡ. Hầu như bốn mùa, cả Sa Pa đều ngập tràn trong muôn sắc các loài hoa: lay ơn, thược dược, bgô, estcola… là những thứ hoa dưới đồng bằng hiếm có. Riêng hoa đỗ quyên có tới bốn chi với hai chục loài khác nhau. Có nơi đỗ quyên chi chít, rực rỡ cả núi rừng. Ở nước ta có 111 chi phong lan và 643 loài thì riêng Fansipan có tới 330 loài.

Lên cao 2.400m, gió mây quyện hòa với cây rừng, có lúc xòe tay ta tưởng đã nắm được mây. Từ độ cao 2.800m, mây mù bỗng tan biến, bầu trời quang đãng, trong xanh. Chỉ có gió thổi làm cho thảm thực vật phải dán mình vào đá. Phủ kín mặt đất là trúc lùn, những bụi trúc thấp khoảng 25-30cm, cả thân cây trơ trụi, phần ngọn có một chút lá phất phơ, nên loài trúc này gọi là trúc phất trần. Xen kẽ là một số cây thuộc họ cói, họ hoa hồng, họ hoàng liên… Đất xương xẩu trơ cả gốc, gió thổi không ngớt, khí hậu lạnh giá…

Trên điểm cao 2.963 có cột mốc đánh dấu năm 1905 người Pháp đã tới chinh phục đỉnh cao. Lên cao nữa là một khối đá khổng lồ, được kê lên bởi những hòn đá nhỏ tựa chiếc bàn. Đỉnh Fansipan đấy! Tiếng địa phương gọi “Hua-si-pan”, nghĩa là phiến đá lớn khổng lồ nằm chênh vênh. Đỉnh Fanxipan cao ngất giữa trời mây được kết cấu bởi những phiến đá như vậy.

Fansipan được ví là nóc nhà Việt Nam và của Đông Dương sừng sững đang chinh phục lòng ham mê leo núi của các du khách ưa mạo hiểm.

Chỉ còn một việc cuối cùng và quan trọng nhất là chọn tour và tour guide (hướng dẫn viên). Sau khi khảo người, khảo giá 4,5 chỗ. Tôi đã quyết định chọn một tour mà hai anh em ruột người guide (HDV) làm chủ, bố người H’mông, mẹ người Việt, có tên Việt Nam là Kiên, 28 tuổi. Kiên vừa ăn mừng cuộc leo đỉnh Fansipan lần thứ 100. Kiên nói sõi tiếng Việt (lên đến lưng chừng núi mà ngôn ngữ bất đồng thì lôi thôi lắm), không quan tâm đến tuổi tác của tôi (nhiều hãng tour khác đã thẳng tay từ chối khi biết tôi gần 70. Ấy là đã nói dối đến 10 tuổi), có thể tin được qua nhiều lần nói chuyện qua điện thoại (giữa chốn sơn lâm cùng cốc mà bọn họ giở trò uy hiếp thì mình thật vô phương chống đỡ) và hấp dẫn nhất là việc Kiên cả quyết sẽ đưa tôi lên tới đỉnh Fansipan, tuy chưa gặp tôi bao giờ, chỉ suy đoán qua giọng nói mạnh mẽ của tôi.

Vợ tôi vẫn thường theo tôi đi khắp nơi trên mặt đất này nhưng từ 5 năm nay bà bị bạo bệnh Parkinson không đi lại được, tôi sẽ phải đi với một người bạn, thể lực yếu ớt nhưng tinh thần mạnh mẽ, trí óc sáng suốt và tình cảm chân thành. Tôi quí mến và kính trọng bạn tôi. Người là nguồn cảm hứng cho tôi trong chuyến mạo hiểm này như thế mọi việc đã sẵn sàng chỉ còn việc chọn lựa thời gian cho chuyến đi hay tìm hiểu thế nào là mùa đẹp cho việc leo lên đỉnh Fansipan.

“Mùa đẹp” là mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, chuyện tối kỵ cho việc leo núi là trời mưa rào. Thế nhưng không phải ngày nào trong khoảng thời gian này cũng có thể leo núi. Thời tiết cũng đỏng đảnh như cô gái. Có những ngày khô hanh, gió khô thổi từ sườn Tây dãy Hoàng Liên Sơn, những ngọn gió mà người ta gọi là gió Ô Quy Hồ, khô nóng như gió Lào. Với những trận gió này đã từng có những du kháchTây leo núi với độc nhất một chiếc quần lót. Thời tiết này rất nguy hiểm cho du khách vì dễ xảy ra tai nạn cháy rừng. Mà rừng thì bạt ngàn là rừng trúc lùn, khi đã cháy thì khó dập tắt. Thêm vào đó, lá cây rơi xuống lâu ngày tích tụ lại thành lớp mùn rất dày cũng có thể tạo nên những đám cháy ngầm như những trận cháy trong rừng tràm của vùng U Minh trước đây.

Thời tiết đẹp cho chuyến đi chính là một đợt “nghỉ ngơi” giữa hai trận gió mùa Đông Bắc. Gió mùa Đông Bắc, sau khi thổi xuống Hà Nội, lại ngược lên, men theo sườn Đông của dãy Hoàng Liên Sơn mà thổi lên Fansipan, mang theo những luồng không khí lạnh và những trận mưa, từ những cơn sương mù đến những trận mưa rào, mưa đá. Nhiệt độ xuống dưới 00C và nước đóng băng. Thời tiết rất lạnh, những con suối ngập nước mưa mà tuyến đi phần lớn men theo các con suối. Thời gian đăng sơn phải dôi ra vài ngày để dự phòng cho sự thất thường của thời tiết. Nhiều khi phải hoãn lại hay hủy bỏ vì những cơn gió mùa Đông Bắc bất ngờ ập đến.

Có lẽ thời gian lý tưởng nhất để thưởng lãm Fansipan chính là tháng 2. Khi đó, mưa giảm, ít lạnh, hoa đỗ quyên nở rộ, trời trong xanh, có nắng, mây la đà xuống thấp, cảm giác như được “đằng vân” bay bổng. Một ngày nắng “trên đỉnh phù vân” là điều bao người ao ước khi chinh phục Fansipan.

Tháng 7 năm nay (2012) tôi phải về nước để chủ tọa phiên họp “Tế bào gốc trong ứng dụng vào Y Học” tại TP. HCM do Tòa Tổng Lãnh sự Mỹ bảo trợ nhân ngày Lễ Độc lập Hoa Kỳ. Nhân thể tôi muốn thực hiện điều mình trăn trở ao ước từ lâu, chẳng nhẽ phải đợt đến tháng 2 năm tới sao. Đi tháng 7, không sợ cháy rừng, không có gió mùa Đông Bắc, họa chăng vài cơn mưa rào cũng chẳng chết ai. Thế là tôi đi.

Tối Chủ nhật mồng 8 tháng 7, GS. Đào Văn Long tiễn đưa hai chúng tôi ra ga Trần Quý Cáp để lên tàu đi Lào Cai. Lúc chia tay, anh Long còn nói: “Anh nên suy nghĩ lại, lên Sa Pa nghỉ mát cho khỏe, tội gì mà phải mạo hiểm như vậy. nếu xảy ra điều gì thì thật khổ. Anh lớn tuổi rồi!”

Tôi thầm cám ơn anh, một người bạn thật tốt, tốt nhất trên đời. Nhưng đã “buông dây cung, mũi tên bắn đi” tới đâu thì tới. Que sera, sera!

Hướng dẫn viên Kiên đã đón chúng tôi ở sân ga Lào Cai 5 giờ sáng thứ hai 09/7, đưa về Sapa, cho đi ăn sáng. Để đề phòng các bất trắc có thể xảy ra, tôi gọi điện thoại cho Tòa Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ, cho trường Y Hà Nội báo cho biết những thông tin về chuyến đi. Chúng tôi có mặt tại Trạm Tôn lúc 9 giờ. Kiên sắp đặt cho mỗi chúng tôi 2 porter để phục dịch, lại tăng cường thêm 2 porter mới để vác đồ ăn, đồ ngủ đi trước sửa soạn chỗ ăn chỗ ngủ cho trưa nay và đêm nay. Cả thảy 6 porter với HDV Kiên và 2 chúng tôi tổng cộng đoàn 9 người. Rậm đám lắm! 4 porter phục vụ hai chúng tôi tên là Tính (lớn tuổi nhất, chừng 30), Súa, Zam, Hự khoảng 16, 17. Tất cả đều là người H’Mông và đều có vợ con cả rồi. Người H’Mông lập gia đình rất sớm. Chỉ có Tính người đẫy đà một chút còn ba em kia bé nhỏ, gầy cà tong cà teo. Thế thì làm sao cõng nổi ông Mỹ giả cầy hơn 70 kí này nhỉ. Đến lúc này còn biết nói sao. No choice !

Một hướng dẫn viên của đoàn khác đều dọa chúng tôi: “So với Phú Sĩ Sơn Fujiyama, đỉnh núi cao nhất nước Nhật, đỉnh “Fansipan nhà ta” chỉ kém có 600m chiều cao nhưng lại hiểm trở hơn nhiều do có nhiều đèo cao dốc đứng, thêm vào là tính khắc nghiệt và bất trắc của thời tiết. Với tất cả cung bậc của một cuộc chinh phục thật sự, chuyến leo đỉnh Fansipan không “xoàng” tí nào đâu, ông bạn”.

Đến gần 10 giờ rồi. Không muốn chần chừ gì thêm nữa, tôi đứng phắt lên ra lệnh “Khởi hành” như một nguyên soái.

Chúng tôi đi vào trong rừng, thoạt đầu đường thoai thoải dốc có thể nói là còn dễ đi. Xung quanh là rừng thật sự với vô vàn rễ cây bò ngoằn ngèo trên lòng suối, nước trong vắt róc rách chảy. Mùi lá mục quyện với hơi nước. Nắng nhẹ lên cao và chim hót trên tàn cây. Chúng tôi đi men theo một con suối cạn, băng qua mấy thân cây làm cầu bắc qua suối. Rồi bước vào một quả đồi xanh mướt, nhìn xuống Sa pa, nằm êm ả trong thung lũng, nhìn lên những ngọn núi cao vòi vọi, còn xa vời… mà ngao ngán.

Lối mòn trong rừng dẫn chúng tôi bắt đầu lên dốc nhiều hơn và đưa đoàn chúng tôi đi xuyên qua rừng đỗ quyên, không trúng mùa nên hoa chỉ lưa thưa.

Bạn tôi reo lên khi thấy những cây đỗ quyên to cao như cây cổ thụ, cành lá la đà, thân to cỡ một người ôm thật khác xa với cây đỗ quyên trồng trong chậu hay trong vườn nhà. Kiên (người hướng dẫn) cho biết “đến mùa hoa, cả vạt rừng này đỗ quyên nở rộ màu sắc rộn ràng: đỏ tươi, đỏ hồng, đỏ vạch trắng, vàng tươi, xanh trắng, sáng cả góc rừng”. Khí hậu mát ẩm và bóng râm của rừng già chắc thích hợp với loại hoa này. Bạn tôi tiếc không đi vào dịp tháng 2 sau tết để được xem rừng đỗ quyên nở hoa còn tôi thì nghĩ thầm chẳng đi ngay lần này thì chắc bao giờ mới đi được, nhớ lại lần đầu tiên ngắm nhìn đỉnh Fansipan, ước ao thèm muốn đắm say đã hơn 30 năm đúng thời gian của đời người.

Càng lên cao đường càng hẹp, càng gập ghềnh, những con dốc càng ác liệt có chỗ thẳng đứng phải có thang để sẵn cho du khách bám thang leo lên. Có những đoạn không có đường mòn, chúng tôi cứ phải băng rừng, leo đá, bám rễ cây theo chân mấy em porter người H’Mông mà đi

 

May thay sau 3, 4 tiếng leo trèo, vừa thấm mệt thì Lán 1 hiện ra.

Lán 1 ở độ cao 2.200m, nghĩa là chúng tôi mới leo được 400m từ độ cao 1.800m của Trạm Tôn.

Lán 1 là một khu đất bằng rộng khoảng 200 m2, xung quanh là núi và rừng cây nên rất kín gió, cách con suối khoảng 100m. Lán ngủ là một túp lều dựng lên bằng tre và phủ bạt xanh. Bên trong lều hai hàng giường ghép bằng tre cách mặt đất chừng 40cm. Kiên cho chúng tôi ăn bánh mì patê, thịt phó mát và cơm lam. Tôi ngạc nhiên thấy bánh mì ở Sa pa ngon hơn bánh mì Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Chắc lò bánh mì ở đây còn nhiều ảnh hưởng của Tây ngày trước. Chúng tôi gặp một đoàn sinh viên đại học Hà Nội, chừng 10 em rất hồn nhiên vui vẻ. Chúng cười đùa ồn ào vừa phải, chơi trò đứa nọ ngồi sau lưng đứa kia đấm lưng cho nhau thật dễ thương.

Sau nửa giờ ăn uống nghỉ ngơi ở Lán 1, chúng tôi lại lên đường. Mục tiêu hôm nay là phải tới Lán 2 ở độ cao 2.800m trước khi trời tốt. Từ Lán 1 đến Lán 2 là hành trình gian khổ nhất của chuyến đi. Càng lên cao, trời càng sương mù và gió. Sương giăng mắc khắp nơi, bám vào tóc vào áo nặng trĩu, trong khi gió như muốn cuốn mọi thứ lên cao. Khoảng trời xanh biến mất, những cây hoa đỗ quyên mờ dần. Khi đến độ cao 2400m cây cối bắt đầu thấp lè tè. Cũng may là trời râm mát nhiều mây nếu nắng to thì không biết sẽ ra sao vì tôi vốn sợ nóng nhất là khi leo trèo vật vả mệt nhọc chỉ cần le lói chút nắng là nóng mồ hôi ra, thở hổn hển, mệt chết đi được, thì làm sao leo trèo. Vì thế tôi chọn mùa mưa mà đi.

Ở độ cao 2.600m thì toàn thấy một loại trúc tăm mọc hai bên đường. Vượt qua được một đoạn đường trên sống núi, chúng tôi lại bắt đầu lao xuống một thung lũng khác để rồi ngay lập tức ngược lên trả lại độ cao bằng những con dốc ngày càng khó chơi hơn. Hai chúng tôi cứ leo được vài mét là phải dừng lại để thở, chờ khi tim mình dịu lại một chút là phải bước ngay nhiều khi gió lộng như muốn xô nghiêng cả người. May nhờ có các dãy lan can bằng các dóng tre mà vịn không dám bay xuống vực thẳm. Bạn tôi luôn đi sát sau tôi. Mỗi lần thấy tôi thở hổn hển thì nhẹ nhàng kéo tôi cùng ngồi xuống tảng đá bên đường: “Em cũng mệt lắm, kiệt sức rồi anh ạ. Chúng mình phải nghỉ cho hết mệt rồi mới có thể đi tiếp được”. Tôi ngắm nhìn bạn tôi, sao vẫn thấy đi đứng khoan thai, vẻ mặt bình thản, ăn nói dịu dàng như bao giờ. Bạn nói vậy chắc để chia sẻ an ủi mình chăng? Kiên luôn thúc giục: “Xin hai bác đi mau hơn kẻo đêm nay phải ngủ giữa rừng. Mình phải cố gắng tới Lán 2 trước khi trời sập tối. Ban đêm không có đèn, đường đá dốc đứng như thế này, con không biết phải làm sao”. Tôi không nén lòng được, tuy rất mệt cũng phải dặn giọng xuống, nói thẳng vào mặt nó: “Này cậu, cậu muốn phải ngủ lại trong rừng đêm nay hay muốn tôi đứng tim (nhồi máu cơ tim) mà chết ngay bây giờ. Tôi mà lăn ra chết thì các cậu tính sao đây – ném tôi xuống vực hay khênh cái xác chết xuống chân núi”. Thế là cậu ta tịt luôn, hô hoán thằng này thằng nọ dìu, kéo, đội đít, kéo tay, cõng bác Tâm. Chúng nó sợ phải ôm cái xác chết xuống núi thì phải cố lôi kéo cái xác sống lên Lán 2 cho kịp trước khi trời tối…

Tiếng người lao xao từ xa vọng lại, rồi ánh đèn lấp ló sau bụi cây. Cả bọn hét to lên: “Tới nơi rồi”. Thế là đã tới Lán 2, tôi còn sống đêm nay, ngày mai chưa biết ra sao ?

Trời tối mù mịt tôi không nhìn thấy Lán 2 hình thù ra sao, chỉ thấy le lói những ánh lửa và lao xao người ta đi lại. Tối nay chỗ trú của hai chúng tôi là một túp lều nhỏ như vung úp có hai cánh cửa nhỏ để ra vào. Hai chúng tôi sà vào nằm ngay xuống cho dãn xương dãn cốt, nằm im thin thít không còn hơi sức nào mà nói chuyện với nhau cho đến khi Kiên khệ nệ bưng vào mâm cơm tươm tất thịnh soạn đến đỗi ngạc nhiên. Nào là thịt gà rang, thịt lợn xào hành, thịt bò xào nấm, rau cải xoong xào, cà rốt tỉa hoa. Còn sang trọng ngon lành hơn nhiều bữa cơm ở Hà Nội, Sài Gòn hay bên Mỹ.

f 2

Nghe nói trong gia đình người đàn ông dân tộc (Mông, Thái) lo việc đi chợ nấu ăn.

Sau một ngày đi đường với họ tôi mới thấy họ thật là hiền lành. Họ dìu, dắt, kéo chúng tôi thật nhẫn nại dịu dàng. Còn các pha cõng nữa thật là cười ra nước mắt. Thôi để khi khác sẽ nói chuyện đó. Chúng tôi chẳng cần mời mọc nhau, ngốn nghiến ăn liền. Chưa bao giờ ngon miệng đến thế. Ăn vừa xong thì Kiên lại hiện ra mang hoa quả trái cây nước trà để tráng miệng và bưng mâm cơm đi. Ôi chao phục vụ kiểu cách cứ như nhà hàng 4, 5 sao. Nghĩ lại hồi chiều nổi nóng quạt cho nó một trận mà ân hận. Chúng tôi thay phiên nhau ra ngoài rừng làm các thủ tục tiện nghi rồi chui vào túi ngủ làm một giấc tuyệt vời… Đương ngủ ngon bỗng tỉnh giấc vì tiếng mưa rơi lộp độp đập vào mái lều. Mưa to lắm. Tôi nghĩ thầm mưa bây giờ thì tới sáng chắc sẽ tạnh. Yên tâm tôi ngủ tiếp … Một lúc sau bỗng nghe bạn tôi kêu oai oái: “Nước mưa thấm ướt lưng em rồi? Tôi càu nhàu “Ướt lưng thì chui sang đây, để yên cho tôi ngủ đi nào ? Bạn tôi xuống giọng: “Em hổng chịu đâu ?” và nằm yên ngoan ngoãn thức trắng đêm cho tôi tiếp tục ngủ.

Mưa ầm ầm như thác đổ từ 10 giờ đêm qua đến 8, 9 giờ sáng hôm nay vẫn chưa ngớt. Thế là tôi đã được thưởng thức “mưa ngàn, gió núi” , trước đây hồi vượt biên đã được nếm mùi “bão biển”. Vậy là đủ mùi ca “mưa rừng, gió núi, bão biển”. Trong ba chuyện đó thì bão biển là đáng sợ nhất.

Kiên mang quà sáng cho chúng tôi (hai bát mì nước và một đĩa xôi) rồi giục sửa soạn lên đường mặc dầu trời còn mưa. Tính, người porter lớn tuổi nhất cho biết “Hôm nay sẽ khó đi gấp mấy lần hôm qua”. Quả thật, đường lên đỉnh ngày càng khó khăn hơn. Chúng tôi phải đối mặt với những vách đá trơn trượt, những con dốc dựng đứng, những bãi sình lầy lép nhép mút chặt lấy đế giày leo núi của tôi. Có những đoạn phải gò người, chân dò tìm những gô đá khả dĩ leo lên được, tay quờ chỗ bám trên những rễ cây. Lại có những đoạn đường dốc trơn như bôi mỡ, phải đu người bám vào những thân trúc bên cạnh để trượt xuống. Mỗi bước đi là cả một nỗ lực to lớn về thể lực kèm theo một sự quyết tâm cao độ. Sức lực của chúng tôi cứ tụt dần theo những con dốc dựng ngược

f 1

. Càng đi càng thấy đường xa hun hút, càng đi bước chân càng nặng nề. Những ngọn núi cứ trùng trùng điệp điệp hết đèo này đến dốc khác như đội nhau lên mây. Ở độ cao 2.900m, mây mù đã ở dưới chân mà đỉnh núi thì vẫn còn đâu đó… trên trời. Thỉnh thoảng sốt ruột, hỏi Kiên xem còn mấy lần leo đèo xuống dốc nữa. Hắn nói còn một cái nữa … lúc nào cũng nói còn một cái nữa… Thôi không thèm hỏi cái thằng Cuội non đó nữa… cứ cắm đầu, lầm lũi mà đi, không ngước nhìn lên trên nữa. Có lúc tự hỏi sao mình “điên rồ” như vậy – đẩy mình vào một hoàn cảnh dở dang “lên chưa xong, xuống không được”. Nhiều khi chỉ ước có một cái trực thăng bốc mình đi hay nói dại nhảy đại xuống vực cho xong một đời.

Đến độ cao 3.000m thì mưa đã ngớt, những tia nắng đầu tiên trong ngày đã le lói qua tàn cây. Mây trắng la đà dưới chân. Trời xanh ngăn ngắt trên đầu.

 

Phong cảnh thiên nhiên thật hoang sơ, kỳ vĩ: Thung lũng bên dưới đang bừng tỉnh trong sương, một con suối nước trong vắt lấp lánh ánh nắng, nằm ẩn mình dưới tán một cây chè cổ thụ (chè tuyết = trà sùa) gốc 5, 6 người ôm, trên mặt đất rơi rụng bời bời những bông hoa trắng, hoa vàng, hoa tím to bằng cái bát.

f 4

. Xa xa là rừng tùng. Nơi cao nhất bao giờ cũng là chỗ ở của tùng. “Tùng dĩ trượng phu thiên niên kiện, trúc vi quân tử tứ thời xuân” (bậc trượng phu như cây tùng, cây bách nghìn năm vẫn tráng kiện; người quân tử cốt cách ngay thẳng như cây trúc, bốn mùa đều xanh tươi).

f 3

Mây từ dưới dâng lên ngùn ngụt, xóa nhòa cảnh vật… rồi bỗng chốc tan biến để lộ ra bầu trời trong vắt, vàng ươm làm nền cho cảnh mây ôm núi, núi ôm mây. Các em porter người H’Mông, chân đi dép nhựa, giơ ngang hai tay, lao đi vun vút, miệng reo “Sắp tới rồi, sắp tới rồi”. Qua thêm một con dốc, qua thêm một khúc quanh rồi cuối cùng đỉnh Fansipan hiện ra với chóp nhọn kiêu hãnh “FANSIPAN 3.143m”.

Thay vì hét thật to, nhẩy cẫng lên, khóc òa lên hay ôm nhau hôn hít như đa số mọi người, tôi đứng lặng người trên phiến đá chênh vênh “HUASI-PAN”, nắm tay Bạn mà tưởng như đang bồng bềnh trong giấc mơ hoa. Quả thật, tôi đã tới nóc nhà Tổ Quốc, tôi đã đạt thêm một đỉnh cao của cuộc đời.

BÙI DUY TÂM, sinh năm Giáp Tuất với tuổi gần 80 là người cao niên nhất đã chinh phục đỉnh Fansipan.

Đó là lúc 2 giờ trưa thứ ba ngày 10 tháng 7 năm 2012

Tôi xin mượn bài thơ sau đây của một tác giả (mà thật sự tôi không biết tên) để tặng cho người bạn đồng hành như một nụ hôn trên đỉnh Fansipan:

Một thoáng đầu thu, cùng em lên vùng hoang vu

Cùng đứng trên cao đỉnh FANSIPAN

Ở chốn thiên đường đó đất trời đã như để dành

Là dành cho ta giữa đại ngàn ấy

Nào hãy đắm mình trong mây mù xám

Trời mây Sa pa thoáng sương mù bay rồi biến nhanh

bất chợt trời lại sáng cứ như trong mây

chúng ta đùa vui trốn tìm nhau chúng ta tìm nhau.

Fansipan nơi đỉnh cao chót vót

Thông vi vu trong làn gió hương lan

Thác nghiêng nghiêng vùng thần tiên

Lên cao cao mây mù ôm lưng núi

Lên Sa pa thác bạc trắng lưng trời

Kịp trong vòng mây để hôn nhau đó

Rồi mây chợt tan để nắng thu vàng

Dẫn ta đi vào cõi thần tiên.

Fansipan 02

Trong khi cả đoàn bày đồ ra ăn bữa trưa, tôi vẫn đứng trên phiến đá chênh vênh hồi tưởng lại những cơn bĩ cực thái lai của cuộc đời…

Cuộc đời trần gian … quay cuồng chìm nổi

 

HDV Kiên lại giục giã mọi người chuẩn bị xuống núi. À, xuống núi không dễ đâu nhé, cũng trèo đèo đổ dốc hết hòn núi này đến hòn núi khác, leo leo xuống xuống những thành đá dựng đứng, nghĩ đến mà phát khiếp. Nghe kể có đoàn sinh viên Singapore đến Việt Nam để chinh phục đỉnh Fansipan. Một cô trong đoàn đã cố lết được tới đỉnh rồi nhưng nhất định không chịu đi xuống, ngồi khóc gọi điện thoại cầu cứu khắp nơi, đòi thuê trực thăng với giá 5.000 đôla chở xuống núi. Cuối cùng bốn anh em người H’Mông phải cho cô vào túi ngủ rồi thay phiên nhau vác xuống núi (với giá 2 triệu ĐVN).

Phần vì trong lòng phấn khởi, phần vì trời tạnh ráo, chúng tôi trở xuống Lán 2 trước khi trời sập tối. Đêm hôm đó không ngủ lều nhỏ nữa mà ngủ trên sạp bên trong lều lớn cùng với nhiều người (khoảng vài ba chục). Cái sạp tre dốc dốc, tôi nằm cứ bị tụt xuống hoài hoài. Cửa để mở cho dễ ra vào ban đêm, nên gió lùa vào ngay chỗ tôi nằm, lạnh quá không ngủ được, đưa tay sang cầu cứu bạn, bạn tưởng mình có ý bờm xơm, lấy móng tay nhọn, cấu cho một cái đau điếng, phải rút tay về, cả đêm không ngủ được. Trời mưa to bắt đầu từ chập tối cho đến trưa hôm sau. Sáng dậy vẫn phải nai nịt gọn gàng lên đường xuống núi. Đi trong mưa gió tầm tã, đường trơn tuột, không bước nổi phải trượt… trượt đất trượt bùn không vui thú như trượt tuyết đâu. Những quãng ít dốc, đường sá thoai thoải, các em porter thay phiên nhau cõng chúng tôi. Được cõng không sung sướng gì đâu, cứ tưởng tượng cảnh “que tăm khênh củ khoai” thì thấy khốn khổ chừng nào. Đi thì mỏi cẳng, cõng thì mỏi tay và tức thở chưa kể chết khiếp được mỗi khi các cậu bé con đó cõng ông Tây, bà Đầm đẫy đà trên lưng rồi lại tung tăng nhảy từ hòn đá này đến hòn đá nọ trong cơn mưa ngàn gió núi… Nhưng rồi thì chúng tôi cũng bò về được đến Lán 1 để dùng qua loa bữa cơm trưa trên sạp tre. Từ Lán 1 về Trạm Tôn là quãng đường dễ nhất nhưng đối với thương bệnh binh như hai chúng tôi thì vẫn chẳng kém gian nan chút nào. Mấy cậu porter vội về nhà (từ Trạm Tôn về nhà các cậu, phải leo đèo lội suối thêm 3, 4 tiếng đồng hồ nữa) nên hối hả giục giã chúng tôi đi nhanh hoặc các cậu ghé mình cõng chúng tôi chạy ào ào như ma đuổi. Nằm trên lưng các cậu bé tôi đành nhắm mắt thiếp đi vì mệt quá và cũng vì… khiếp quá cho đến khi trở về được ngọn đồi ngoạn mục gần Trạm Tôn. Tính, người porter nhiều tuổi nhất, nhảy cẫng lên reo hò mừng vui khi đưa chúng tôi đi đến nơi về đến chốn bình an và đạt ý nguyện. Nhìn thấy tấm bảng Trạm Tôn xa xa… tưởng như giấc mơ, quay lại thấy bạn tôi đã sát theo sau … theo tôi tự bao giờ và cho đến bao giờ ?

Sau này khi nhắc nhở đến chuyện chinh phục đỉnh Fansipan, bạn tôi cho biết “hậu Fansipan” thì chẳng còn việc gì là khó nữa, cứ nghĩ Fansipan còn vượt lên được thì chuyện gì chẳng vượt qua được. Tôi biểu đồng tình:

“Em lo gì trời gió

Em sợ gì trời mưa

Em buồn gì mùa hè

Em tiếc gì mùa thu

Em cứ yêu đời đi

Như lúc khi còn thơ”.

Viết xong 3 giờ 33 sáng,ngày thứ hai mồng 03 tháng 12, 2012

Tại biệt thự Hương Tâm, bãi biển Hoàng Hôn,TP. Cựu Kim Sơn

 

Bùi Duy Tâm

 

 

Hang Cọp (Tiger’s Nest) Paro Taktsang Bhutan

Hang Cọp với độ cao 3.120 mét nằm chót vót trên sườn núi thuộc tỉnh Paro, nơi có sân bay duy nhất tới nước Bhutan. Tôi không ham đi các đỉnh cao khác bên Âu Châu mà chọn Bhutan vì quốc gia này nằm khuất trên dãy Himalaya. Người dân ở đây được cho là Hạnh Phúc nhất thế giới.

Sau lễ khai giảng khóa đầu tiên cho Y Khoa Tân Tạo (10/9/2013), chúng tôi lên máy bay đi Bhutan. Sáng ngày 13/9/2013 chúng tôi leo lên Hang Cọp. Đường lên núi được cưỡi ngựa (dài 5 km) nhưng khi xuống phải đi chân vì sợ ngựa tuột dốc lao xuống vực thẳm. Đường lên dốc rất nguy hiểm vì rêu trơn và sườn núi dóc nhiều chỗ gần như thẳng đứng. Quãng đường rất ngoạn mục với những lá cờ nguyện cấu ngũ sắc giữa ngàn thông gió vi vút cùng tiếng suối reo chim hót.

Kiến trúc Hang Cọp không có chi ấn tượng, xây đi cất lại vài lần vì các cơn cháy. Vụ cháy gần đây nhất vào năm 1998 do lửa từ ngọn đèn bơ bắt cháy xuống các thảm treo.

Chuyến đi tương đối bình an trừ khi xuống gần cuối dốc tôi bị ngất đi té xuống vài giây (vì huyết áp tụt thấp đột ngột), làm người bạn la hoảng. Không sao! Với cơ thể một ông lão đã bước lên năm thứ 80 của cuộc đời được 5 ngày mà gượng đứng dậy tiếp tục đi ngay thì cũng không đến nỗi tệ lắm đâu!

Tiger's nest nhỏ

Hang Cọp 02 nhỏ

Đền Hang Cọp được xây lần đầu năm 1692 tại nơi được tin là Đại Sư Guru Padmasambhava đã ngồi thiền suốt trong 3 năm, 3 tháng, 3 tuần, 3 ngày và 3 giờ vào thế kỷ thứ 8. Đại Sư Guru Padmasambhava có công truyền Phật Giáo từ Tây Tạng vào Bhutan và là thần hộ mệnh cho đất nước này.

220px-Paro_Padmasambhava 220px-Taktshang_%28Tiger%27s_Nest%29_Monastery%2C_Paro_Valley

Hang nhỏ nơi Đại Sư ngồi thiền có treo bức tranh thảm Guru Padmasambhava, mỗi năm chỉ mở cửa 1 lần cho khách vào coi.

Paro Taktsang Hang Theo truyền thuyết Guru Padmasambhava hay còn gọi là Guru Rinpoche đã bay từ Tây Tạng qua Bhutan trên lưng con cọp cái nên nơi đây gọi là Hang Cọp (Taktsang). Hang nổi tiếng nhất trong số 13 hang cọp mà Đại Sư đã ngồi thiền thuộc vùng Paro nên Hang Cọp này gọi là Paro Taktsang.

Một truyền thuyết khác cho rằng người vợ cũ của một Hoàng Đế, muốn làm đệ tử của Guru Rinpoche (Padmasambahva) nên hóa thành cọp cái cõng Guru từ Tây Tạng qua Bhutan nơi bây giờ gọi là Hang Cọp Paro Taktsang.

Trong dân gian lại có truyền khẩu rằng Tenzin Rabgye, người đã xây ngôi đền năm 1692 chính là Guru Padmasmabhava từ thế kỷ thứ 8 đã tái sinh. Các bạn của Tenzin Rabgye thấy anh ta cùng một lúc ở trong và ngoài hang. Lại cũng thấy trên bàu trời Paro nhũng hình thù lạ và những cơn mưa hoa mà chẳng rơi xuống đất.

Tiger nest 03 nhỏ

Hang Cọp Paro Taktsang là nơi thiêng liêng có rất nhiều người nổi tiếng đến ngồi thiền định như Milarepa, nhà thơ đồng thời là thuật sĩ vĩ đại của Tây Tạng vào thế kỷ 11.

Vòng Cora quanh núi thiêng Kailash, Tây Tạng

Tây Tạng mới là nguồn gốc thiêng liêng nên chúng tôi phải đi Tây Tạng dù bội phần khó khăn hiểm trở, bội phần nguy hiểm chết người. Chúng tôi bay trở lại Kathmandu để đi Tây Tạng. Ngày 22/9/2013 chúng tôi dời Kathmandu với hướng dẫn viên Moti. Khi tới cửa khẩu Nepal-Tibet (mà bây giờ là Nepal-China vì Tàu đã sát nhập Tibet vào China) sẽ có thêm một guide khác người Tây Tạng. Nhà văn Trần Thùy Mai đã viết lại chuyến đi thật tuyệt vời như sau:

Vòng cora quanh núi thiêng Kailash

Trần Thùy Mai

Càng ngày càng nhiều người Việt quan tâm đến Kailash – Ngọn núi tuyết trong dãy Himalaya. Tuy chiều cao (6.638 mét) chưa thể so với Everest (8.848 mét và chỉ ở cách đó có 600km), nhưng Kailash mới chính là ngọn núi thiêng được chiêm bái nhiều nhất trên thế giới.

Đồng thời, đây cũng là ngọn núi nguy hiểm nhất: Hàng năm vẫn có những khách hành hương bỏ mạng trong khi đi quanh núi: Với người dân bản địa, cái chết ở Kailash không phải là một tai nạn, đấy là một ân phước.

Đi Cora quanh Kailash là một kiểu hành hương đặc biệt của người Tây Tạng. Hành trình mất khoảng hai ngày rưỡi, bằng thời gian để trèo lên đỉnh Fansipan của nước ta, và đường đi cũng không khó khăn bằng đường lên Fansipan. Nhưng thực tế cho thấy đi Kailash nguy hiểm hơn rất nhiều lần…

Những người đi cora quanh Kailash đa số không phải là những nhà thám hiểm. Phần nhiều họ đi với niềm tin, và niềm tin đã nâng đỡ họ. Trên đường cora, chúng tôi đã gặp Wang Feng, một nữ giáo viên quê ở Dương Châu. Cô tâm sự: Đi lần này là lần thứ ba, với ước nguyện cầu cho mẹ khỏi bệnh. Không phải chỉ có những Phật tử Tây Tạng mới xem Kailash là núi thiêng, niềm tin ấy đã lan tỏa trong nhiều người từ nhiều quốc gia khác nhau.

Kailash, vì thế không phải chỉ là một ngọn núi cao với thách thức về mặt địa lý, không phải là một nơi mà người ta chỉ cần đi cho biết, chụp hình rồi quay về. Kailash là giao điểm của văn hóa tâm linh Tây Tạng với khát vọng tâm linh của con người trên khắp thế giới.

P1020245.JPG

Khách hành hương Tây Tạng tam bộ nhất bái vòng quanh núi

Từ Kathmandu lên cầu biên giới

Tuy vậy, hội chứng thiếu dưỡng khí trên núi cao là một thứ ai cũng ngán, và tất nhiên ai cũng mong đi an toàn để trở về. Bay đến Kathmandu, thủ đô Nepal, chúng tôi được Satish, một người bạn ở đây mách cho biết: kinh nghiệm dân gian là dùng củ hành, nhai sống hoặc hít khói đốt củ hành cũng rất tốt. Nhưng trên đường cora, làm sao mà đem hành cho tiện, nếu đem thì đem bao nhiêu cho đủ. Hay hơn hết vẫn là uống thuốc ngừa mỗi ngày, thuốc này có bán ở một vài tiệm thuốc tại Kaathmandu với giá khá cắt cổ.

Chiếc xe mười sáu chỗ nóng bức tung lên vật xuống gần nửa ngày trên đoạn đường đầy ổ voi từ Kathmandu lên biên giới phía Bắc Nepal. Xe dừng, Moti bảo: “Các anh chị đã đến biên giới China.” Tôi ngạc nhiên: “Chúng tôi đi Tibet (Tây Tạng) mà?” Moti, người dẫn đường của công ty du lịch ở Nepal nhìn tôi như không hiểu tôi muốn nói gì. Tôi chợt nhớ ra: Tây Tạng đã nhập vào Trung Quốc từ hơn nửa thế kỷ rồi!

Từ lãnh thổ Nepal qua bên kia biên giới là một cây cầu, mỗi nước giữ một nửa. Bên này cầu là Kodari thuộc Nepal, bên kia cầu là Yangmu (hay Zangmu) thuộc Tibet. Hai bên là hai bộ mặt xã hội hoàn toàn khác biệt: Phía bên Nepal chỉ có mấy nhân viên mặc thường phục đứng lờ phờ, còn một nửa cầu bên Trung Quốc thì hai dãy lính Tàu bồng súng đứng nghiêm tăm tắp, mặt lạnh tanh còn hơn hai hàng lính “Uy vũ” trước cửa Bao Công.

phu Tây Tang

Một dân phu Tây Tạng đang thồ hàng qua biên giới

Chokyi, hướng dẫn viên Tây Tạng chờ chúng tôi bên kia cầu. Anh chào đón chúng tôi bằng cách khoác lên vai mỗi người một dải khăn trắng có vẽ hình tám dấu hiệu: cái còi, cặp cá vàng, cái ô, chiếc phướn, hoa sen, cái bình, bánh xe pháp luân và dải lụa thắt nút vô tận. Theo phong tục, đấy là những dấu hiệu tốt lành mang ý nghĩa cầu phước.

Chokyi mới hai mươi lăm tuổi nhưng trông khá già dặn, khuôn mặt khắc khổ rám nắng, chỉ khi cười mới thấy khuôn mặt tươi lên một chút. Trên đường đến Yangmu, anh mở cho chúng tôi nghe tiếng nói của đức Dalai Lama lưu sẵn trong phone của anh. Tôi hỏi anh hiện nay người dân có được tự do nghe lời và treo ảnh của Dalai Lama không, anh im lặng lắc đầu.

Phố núi Yangmu

Trên quãng đường từ biên giới đến Thị trấn Yangmu xe di chuyển rất khó khăn, kẹt kin kít cả dãy dài vì đường rất hẹp mà xe nào cũng muốn lách chạy lên phía trước. Nếu trên cầu biên giới lính Trung Quốc bồng súng đứng canh dày đặc thì ở đây lại chẳng có một mống công an nào, các tài xế cứ thế lay hoay thu xếp với nhau.

P1020461

Trên đường đến Yangmu

Đến chập tối chúng tôi mới đến được Yangmu. Khí hậu đã khác hẳn, cái nóng oi bức ở Kathmandu đã thay thế bởi cái lạnh buôn buốt trên da thịt. Bước vào nhà nghỉ bốn tầng, thấy mỗi phòng kê đến 4 giường, cũng may chăn nệm khá sạch. Sau một ngày đi đường quá ê ẩm, chúng tôi ai cũng ngả lăn ra làm một giấc đến sáng. Đến sáng ở đây có nghĩa là 9 giờ, vì ở đây đã là “Khu Tự trị Tây Tạng” thuộc nước Trung Quốc, phải sử dụng giờ Bắc Kinh, cho nên tuy đồng hồ chỉ 9 giờ mà ngoài trời chỉ mới lờ mờ thôi.

Yangmu là một phố núi, nhà cửa ẩn hiện trong mây mù, làm cho tôi chợt nhớ đến bài hát “Phố núi cao, phố núi đầy sương. Phố núi quanh co, trời thấp thật buồn”. Đây là một thị trấn vùng biên có vẻ ăn nên làm ra, nên người Trung Quốc đã kéo đến ở đông đặc, nhà cửa của người Tàu san sát bên các con đường bên vách núi. Ở đây có nhà hàng ăn uống, có tiệm massage, có internet, có photocopy…Nhà nghỉ có nhà vệ sinh tuy còn lạc hậu nhưng cũng khá sạch. Cứ tưởng đấy chỉ là những tiện nghi thông thường tối thiểu, nhưng chỉ hôm sau khi đi khỏi Yangmu, chúng tôi mới biết đấy là những sự sung sướng không thể nào có lại trong suốt hành trình hơn mười ngày ở Tây Tạng.

Dọc theo Himalaya

Rời Yangmu đến Saga, xe đi qua con đường dài hun hút, càng lúc độ cao càng tăng lên, chẳng bao lâu sau cảnh tượng hai bên đường khác hẳn. Không còn một mống cây xanh nào nữa, chỉ toàn là núi đá, lớp dưới thì gân guốc lạnh lùng, lớp trên chồng chất xa xa với những chóp núi nhọn hoắt phủ tuyết. HDV Tây Tạng ngồi ở ghế trước quay lui bảo :

– Đấy chính là Himalaya!

IMG_0077

Dọc theo Himalaya

Một cảm giác xao xuyến sững sờ tràn ngập trong tôi, không ngờ giờ này mình đang đi dọc theo dãy Hy Mã Lạp Sơn tưởng chỉ có thể nghe nhắc đến trong sách vở.

Quá hùng vĩ, nhưng cũng quá khắc nghiệt. Không một ngọn gió nào lọt qua được dãy trường thành sừng sững này, chỉ có ánh nắng chang chang rực rỡ chiếu lóa trên mặt đất khô khốc đầy đá sỏi và cỏ cằn cỗi khô vàng; Nắng đến nỗi người Tây Tạng luôn phải bịt mặt trong khăn, nhưng đồng thời lại lạnh muốn cắt cả ruột. Trong xe đóng kín, cái lạnh càng lúc càng thấm dần vào, tôi vốn là đứa nhát lạnh nhất trong đoàn, vội vàng lấy áo len, áo phao ra mặc.

Bước vào khách sạn – Chokyi bảo là khách sạn lớn nhất ở Saga- tôi cảm thấy ngạc nhiên vì những căn phòng thấp bé, trên khoảng sân vuông vức khá rộng nhưng không được tráng lát gì cả, chỉ có nền đất với những vết nứt nẻ lỗ chỗ; Càng kinh hãi hơn với cái điều mà không một ai trong số những người đi trước viết lại: Nhà vệ sinh thực sự là một nỗi kinh hoàng, giống y như nhà vệ sinh ở miền Bắc trong những thập kỷ 60, 70. Trời ơi, tôi thầm nghĩ, đến thế kỷ này rồi, giữa một thị trấn hàng ngàn du khách đi qua, trong một khách sạn lớn nhất, mà người Tây Tạng còn phải sống trong những điều kiện như thế này sao? Trong những thiên du ký của các tác giả mà tôi đọc say mê trước đây chỉ có một Tây Tạng huyền bí, sâu sắc, với đời sống tâm linh sâu thẳm. Chưa nghe ai nói đến một Tây Tạng nghèo nàn lạc hậu như thế này. Mọi thứ đều thô sơ và bám đầy bụi bặm.

P1020091

Khách sạn ở Saga

Cũng may, nổi bật lên giữa khung cảnh nghèo nàn ấy, có một thứ rất tốt, tốt đến không ngờ, đó là chăn nệm trên giường. Người Tây Tạng dệt chăn bằng lông trâu Yak, lông cừu nên rất ấm, khăn trải giường lúc nào cũng trắng sạch, tôi không hiểu họ làm sao giặt giũ và giữ sạch được như vậy trong tình hình nước rất khan hiếm. Một điều đau khổ nữa: Trong cả khách sạn không hề thấy cái phòng tắm, cũng không ai nhắc đến khái niệm phòng tắm ở đây. Tất cả mọi nhu cầu vệ sinh, khách phải xoay xở với hai cái chậu và một phích nước để ở đầu giường, thôi có vậy đã là may lắm rồi.

P1020103

Bà chủ khách sạn đang chuẩn bị bữa sáng cho du khách

Saga đầy bụi, bụi mờ cả mắt. Lạnh như kim châm trên da thịt. Ở nước ta, điểm có độ cao nhất là chóp núi Fansipan 3142 mét. Ở Saga, đứng trên mặt đất bằng phẳng đã ngang với độ cao ấy rồi. Trên cao nguyên Tây Tạng này, chúng tôi đang đi trên nóc nhà thế giới.

Buổi sáng, chúng tôi được bà chủ khách sạn chuẩn bị cho món bánh bột lúa mạch cán dẹp rồi áp chảo với mỡ trâu Yak. Để giữ cho lửa cháy đều, bà liên tục xúc vào lò những xẻng…phân ngựa phơi khô. Đấy là thứ chất đốt độc nhất tôi nhìn thấy ở vùng này.

Hồ thiêng Manasarovar

Chín giờ sáng, chúng tôi tiếp tục lên đường, đi về hướng Manasarova.

Từ Saga trở đi, tôi bắt đầu lo lắng cho sức khỏe, vì hai lỗ mũi đã cảm thấy rát, hít thở hơi khó chịu. May quá có đem theo chai thuốc xịt mũi làm bằng bông ngũ sắc, cũng cứu vãn được tình hình. Lại thỉnh thoảng bắt đầu thoáng thấy đau nhói hai bên thái dương. Lại dùng dầu xanh bôi vào, cứ thế suốt hành trình, hai cái chai đó luôn kè kè trong túi tôi. Dù đã đề phòng, việc ăn uống vẫn làm khổ tôi kinh khủng. Từ Yangmu trở đi hầu như tôi không ăn được gì, mặc dù rất cố gắng.

Thiếu ăn, thiếu thở, không được tắm, chống chọi với khí lạnh….Vậy mà chuyến đi vẫn vô cùng kỳ thú, bởi quang cảnh Tây Tạng đẹp một cách kỳ lạ. Không nơi đâu trời xanh hơn ở đây, không nơi đâu nhiều mây trắng như ở đây, không nơi đâu núi cao, vực sâu như ở đây! Cái kỳ vĩ ấy, khắc nghiệt ấy chỉ có thể nhìn và cảm nhận bằng mắt chứ khó tả nổi bằng lời. Nhất là khi đi qua Drongba, vượt qua hai ngọn đèo Lalung cao hơn 5000 mét, nhìn xuống khe sâu là cả một cảnh tượng thần kỳ, tưởng như đang đi trên chín tầng mây biếc.

Khi đến Manasarovar, trời đã xẩm chiều. Thị trấn Manasarovar cao 4.550 mét, được đặt tên theo tên một hồ nước mênh mông xanh biếc. Đây là hồ thiêng, hàng năm cả ngàn người đến hành hương. Manasarovar cũng là hồ nước ngọt ở độ cao nhất thế giới!

MANASAROVAR

Hồ thiêng Manasarovar

Chúng tôi xuống tận bờ hồ. Nước trong vắt, mênh mông như biển, nhìn sang bên kia chẳng thấy bờ. Bên kia hồ là dãy núi Gurla Mandhata với những chóp tuyết trắng xóa. Bên này hồ….Tôi ngẩng đầu lên nhìn về phía đối diện, và chợt thấy núi thiêng Kailash hiện ra! Không thể nhầm lẫn được, bởi tuy chưa đến bao giờ nhưng hình ảnh ngọn núi này, tròn trĩnh, phủ đầy tuyết mịn, với vài gợn lỗ chỗ nơi sườn núi …Trong cơn xúc động tôi chạy trở về nhà nghỉ để lấy máy ảnh, nhưng khi chạy xuống thì Kailash đã biến mất, như một phép lạ chỉ hiện ra trong khoảng thời gian ngắn ngủi. Nhìn về phía ấy chỉ còn mây trắng phau che phủ kín cả chân trời.

Dấu chân Bồ Tát

Sau một đêm ngủ lại ở chỗ gọi là “Holy lake hotel”, mà tiện nghi cũng chẳng hơn gì khách sạn ở Saga nếu không nói là còn tệ hơn, chúng tôi quyết định lên đường sớm. Phải tranh thủ thời gian vì thời tiết đang rất tốt, để lỡ thời cơ nếu gặp mưa thì rất uổng. Chokyi ngăn lại: “Dù vội thế nào cũng phải thăm đền Chiu Gompa. Hồ Manasarovar sở dĩ thành hồ thiêng cũng là nhờ thánh tích này.”

Ngôi đền này rất nhỏ bé, kiến trúc cũng rất thô sơ, nhìn từ đường cái vào thoạt tiên tôi cứ tưởng là một cái lô cốt nhỏ. Khi bước vào, mới hiểu vì sao khắp nơi đến đây chiêm bái: Đấy là một trong những nơi lưu dấu ấn của Bồ tát Padmasambhava (Tức Liên Hoa Sinh), người đã có công đưa Mật Tông Phật giáo từ Ấn Độ vào Tây Tạng. Người dân Tây Tạng vô cùng sùng bái vị bồ tát này, xem là “Đệ nhị Phật”.

Trên đỉnh đồi cao đầy gió, Chokyi kể sự tích Ngài Liên Hoa Sinh:

“Theo lời truyền, vua Tây Tạng vào thế kỷ VIII là Shantarakshita rất mộ đạo Phật, ngài định xây một tu viện lớn nhưng bị các quỷ thần ở trong vùng quấy phá. Cuối cùng theo lời khuyên của triều thần, vua sai người sang Ấn Độ mời Đại sư Liên Hoa Sinh sang giúp. Một trận đấu phép giữa Bồ Tát và vua quỷ đã diễn ra ròng rã trong 7 ngày, ngay trên hồ Manasarovar này. Đến bây giờ dấu chân của Ngài Liên Hoa vẫn còn in lại trên vách đá.” Cũng vì cái dấu chân này mà ngôi đền bé nhỏ thô sơ mới trở thành danh lam hàng đầu của Tây Tạng, thật đúng như người xưa nói : “Chùa đất, Phật vàng”.

IMG_0114

Tu viện Chiu Gompa

P1020135

Dấu chân của Bồ tát Liên Hoa Sinh

Thấy chúng tôi chăm chú lắng nghe, Chokyi kể thêm về sự tích Ngài Liên Hoa:

Tương truyền Bồ tát Liên Hoa Sinh sinh ra từ hoa sen, được vua xứ Oḍḍiyāna chọn làm người nối ngôi, nhưng Ngài từ chối và bỏ đi đến một tiểu quốc vùng Bắc Ấn. Tại đây, Ngài bí mật dạy phép Tantra cho công chúa Mandarava. Vua cha nàng biết được, sai bắt Ngài đem thiêu trên giàn hỏa. Khi lửa tàn, mọi người vô cùng kinh ngạc thấy Ngài vẫn ngồi thiền định trên đống tro, da thịt áo quần nguyên vẹn, hào quang rực rỡ chiếu sáng. Nhà vua quỳ lạy xin dâng cả công chúa lẫn quyền trị vì vương quốc. Nhưng Ngài lại một lần nữa từ chối ngôi vua. Cùng với công chúa ra đi, Ngài chọn hang động Maratika để ở và tiếp tục các phép tu chứng của mình.

Sau khi được mời đến Tây Tạng, ngài lại được vua Tây Tạng gả công chúa Tsogyal theo tục lệ. Hai nàng công chúa là hai người vợ và đồng thời là nữ môn đệ, thường được thờ hai bên tả hữu của tượng Bồ tát Liên Hoa Sinh trong nhiều ngôi đền ở Tây Tạng cũng như ở Bhutan.

Rinpochie

Tượng Liên Hoa Sinh trong đền Chiu Gompa

(Bên trái là công chúa Ấn Độ Mandarava, bên phải là công chúa Tây Tạng Tsogyal)

Những câu chuyện của Chokyi làm tôi không khỏi kinh ngạc. Chokyi hiểu thắc mắc của tôi, cậu ta giải thích: Vào thời đó, với môn phái Kim Cương Thừa, những cao tăng không phải từ bỏ tình dục, ngược lại còn xem đó là một lãnh vực tu chứng. Và mối liên hệ giữa Phật giáo với những quan niệm phồn thực cổ sơ là một đặc điểm tôn giáo rất độc đáo ở Tây Tạng cũng như ở một số nước láng giềng vào thời xa xưa ấy.

Chúng tôi rời Manasarovar, Chokyi ngồi phía trước quay lui khoe hai con cá khô tối qua vừa tìm mua được, vẻ hí hửng lắm. “Người ta đánh bắt cá dưới hồ để làm khô à?” “Không, không phải, cá già rồi, chết tự nhiên và nổi lên tự nhiên. Chữa được nhiều bệnh lắm. Bố mẹ vợ tôi đã dặn, có dịp đến Manasarovar phải mua cho các cụ.”

Thấy tôi im lặng có vẻ bán tín bán nghi, Chokyi tặng tôi một gói muối nhỏ, đấy là muối từ nước hồ, anh bảo muối này xoa bóp có thể trị được bệnh khớp và nhiều chứng đau đớn khác. Được xem là nước ngọt nhưng nước ở Manasarovar lại có độ mặn, cô đặc lại thì thành muối. Theo Chokyi, có giả thuyết cho rằng triệu triệu năm trước toàn vùng Tây Tạng vốn là đáy biển, sau này địa chấn nâng cao lên thành cao nguyên nhưng tính chất nước biển vẫn còn sót lại trong các ao hồ. Có lẽ vì thế mà cả vùng đất này chỉ có cát và đá, không một cây xanh nào mọc được, trừ một thứ cỏ dạng tảo mọc lưa thưa trên các triền núi, động vào là ngứa kinh người. Chokyi bảo từ xưa tới nay chỉ có thuật sĩ lừng danh Milarepa là dám ăn lá cỏ ấy thôi.

“Milarepa là ai?” Tôi tò mò hỏi. Chokyi gật đầu cười: “Sẽ kể. Nhưng bây giờ thì đi thôi, phải đến Darchen trước khi trời tối.”

Darchen là chặng cuối, nơi chúng tôi sẽ bắt đầu hành trình đi Cora.

Đêm trước Cora

Darchen có độ cao 4600 mét.

Đến đây sức khỏe của tôi đã xuống dốc khá nhiều, tuy suốt ngày chỉ ngồi trên ô tô nhưng phải chịu đựng khí hậu thật khắc nghiệt, vừa buốt giá và khô khốc, nắng dữ dội muốn lòi cả mắt mà đồng thời lại lạnh buốt đến cóng cả tay chân. Chưa bao giờ tôi độn nhiều áo xống trong người như thế, ba lớp áo quần bằng len cán, lại thêm cái áo phao dày cộp, thế là đủ ấm rồi nhưng còn cái mặt, mỗi lần mở khẩu trang để chụp hình tuy gượng cười nhưng sự thật là đang cảm thấy tối tăm mặt mũi. Khổ nhất là hai lỗ mũi đã sưng rát vì hít cái gió khủng khiếp này. Trên đường đi tôi đã liên tục xịt thuốc, vậy mà thỉnh thoảng hỉ ra khăn vẫn thấy màu đỏ nhờ nhờ của máu loãng.

Trên đường đến Darchen, ngồi trên xe tôi bắt đầu thấy từ vai gáy đến cánh tay mỏi ê ẩm. Rồi một bên chân bắt đầu thỉnh thoảng bị chuột rút. Cảm thấy đấy là những dấu hiệu mở đầu của hội chứng thiếu oxy nên trong lòng tôi không khỏi lo lắng. Đã thế lại chẳng được bữa ăn nào vừa miệng, mấy thanh “High Calories” chắc cũng giống thức ăn ở trên phi thuyền, chỉ giải quyết cho mình cái chuyện khỏi chết đói chứ chẳng đem lại một chút cảm giác nào.

Tôi cố giảm bớt động tác để giữ sức, vì cứ ngồi yên thì hơi thở rất bình thường, nhưng hễ động tay làm một cử chỉ gì nhỏ nhặt: Với tay lấy cái khăn ở đầu giường chẳng hạn, hay lục tìm chai dầu trong ba lô, chỉ một vài cử động đơn giản ấy thôi cũng đủ khiến tôi thở hồng hộc như vừa vác một cái gì nặng lắm.

Khách sạn ở Darchen, nơi mỗi ngày hàng trăm du khách từ khắp thế giới tụ về, cũng chẳng hơn gì khách sạn ở các vùng đã đi qua. Vẫn vậy, không có chỗ tắm rửa, nhà vệ sinh khủng khiếp. Cả vùng này tuy có ống nước nhưng nước dẫn đi đâu không rõ, tôi thấy ngay trước khách sạn người dân đã đào đất lôi cái ống nước nhỏ xíu lên, bẻ đôi cho nó phun nước ra, cả vùng đến hứng lấy nước về xài. Quả là một hành vi phá hoại, nhưng nếu không tạo ra cái chỗ phun nước bất đắc dĩ này, họ phải xuống suối bưng lên từng hũ như ta vẫn thấy trong những bức tranh dân gian vẽ hình cô gái Tạng đi lấy nước.

Chiều hôm ấy chợt Moti, anh bạn người Nepal từ ngoài chạy vào kêu to:

“ Kailash kia kìa!”

Thì ra mây vừa tan, nhìn qua cửa sổ chúng tôi thấy Kailash trắng toát hiện ra ở xa xa, trên mấy lớp núi xanh phía dưới.

IMG_0130.JPG

Kailash nhìn từ Darchen

Chúng tôi quên cả mệt, vội chụp hình, chụp liên tục mặc dù nhìn từ Darchen thì còn xa lắm. Nhưng cứ chụp đã, vì nghe nói đã có nhiều đoàn đã đến đây mà rồi cũng chẳng có duyên đi đến chân núi, và nhất là gặp ngày âm u thì có đến tận nơi cũng chẳng hề thấy cái đỉnh núi huyền thoại.

Đêm đó tôi lên cơn nhức đầu dữ dội, càng nhức đầu thì càng khó thở. Tôi lo âu hết sức, tình hình này biết sáng mai có đi nổi không đây, nhất là từ mai sẽ đi ngựa chứ không có chuyện ngồi trong ô tô nữa. Lo quá nên tôi mất ngủ, càng mất ngủ càng đau đầu hơn. Lòng tôi hoang mang: Có nên tiếp tục đi không?

Có đi tiếp không? Câu hỏi đó có lẽ đã xuất hiện trong lòng rất nhiều người khi đến cái cung đường quyết định này. Vì đến đây thì sức đã cạn, xảy ra nhiều hiện tượng lủng củng trong cơ thể. Hôm nay nằm trong chăn ấm mà còn như thế, ngày mai dang mình giữa nắng và có thể cả mưa ướt lạnh…rồi sẽ còn lủng củng đến đâu? Độ cao sẽ tăng dần theo hành trình, rồi còn hiện tượng gì sẽ xảy ra? Những chuyện chết người ở Kailash trong quá khứ lại ám ảnh tôi…

Khi bình minh đến, tôi ngồi dậy, đầu đã bớt đau nhưng trong người cứ như trống rỗng, bước đi như bước trong chân không. Bỗng dưng thèm được ăn một tô phở, thèm đến cháy môi. Giá có một tô phở bây giờ, chắc tôi lành bệnh liền. Lúc đó bỗng nhiên quờ tay vào vali thấy một gói cà phê hòa tan đem từ Việt Nam, tôi liền nhờ Moti xuống bếp xin giúp ít nước sôi nóng để pha. Thật bất ngờ, uống xong cốc cà phê quen thuộc tôi thấy người dễ chịu hẳn, đầu óc tỉnh táo trở lại.

Tôi quyết định theo đoàn lên đường, không quên nhắc Moti ôm theo 10 bình oxy.

Đường đến núi thiêng

Từ khách sạn Darchen đến Tarboche khoảng 15 cây số. Chúng tôi xuống xe, trước mắt là một vùng hoang vu chỉ có hàng đàn trâu Yak đang đứng sẵn để chờ thồ hàng cho du khách.

Mấy người chăn ngựa dắt ngựa đến gần. Những con ngựa Tây Tạng, chân cao, đuôi dài, bờm tung lên dũng mãnh, đẹp hơn hẳn những con ngựa mà tôi đã thấy ở Mexico hay ở Bhutan. Cũng như Mông Cổ ở gần đó, Tây Tạng là nơi sinh ra những con tuấn mã đẹp nhất nhì thế giới.

Tôi chỉ vào một con ngựa trong bầy, nhưng Chokyi ngăn lại. “Phải bắt thăm.” “Sao vậy?” “Vì mỗi con ngựa có một số phận riêng, cũng như mỗi người chúng ta đều có vận may rủi khác nhau.” Nghe vậy tôi thoáng cảm thấy một luồng hơi lạnh chạy ngang lưng. Chokyi nói vậy, nghĩa là con ngựa này sẽ nhân danh số phận để đưa tôi đi xuyên qua một đoạn đường sinh tử.

Thú thực lúc đó tôi cảm thấy sợ, nhưng khi đã đến Tarboche, mỗi khách hành hương cũng giống như mũi tên đã lắp vào cung, chỉ còn việc phóng đi.

IMG_0151

Kailash nhìn từ Tarboche

Quả là số tôi không may cho lắm, nên con ngựa tôi cỡi không phải con ngựa hiền. Thỉnh thoảng đang đi chú ngựa Tây Tạng bỗng chồm lên, xoay tít như đang nhảy valse vậy, làm tôi hết hồn hết vía. Trên con đường này, có đủ Tây, Tàu, Tạng nối đuôi nhau lũ lượt, kẻ đi bộ, người đi ngựa, nhưng ai cũng chăm chú lo đi, nên dù tôi kêu lên oai oái thì cũng chẳng ai cứu được. Đành là “Chót lên voi phải cầm vố”, nhắm chặt mắt, kẹp chặt hông ngựa, may sao sau vài phút nó hết cơn hứng thì lại đi túc tắc như thường. Sau lần đầu bạt cả vía ấy, tôi nắm được quy luật của nó rồi nên thấy nó trở chứng thì cứ nhắm mắt bám chặt lấy mỏm yên, nín thở chờ nó qua cơn trái tính là xong.

P1020254

Khách hành hương Tây, Tàu, Tạng

P1020194

Trâu Yak thồ hành lý theo sau

Chặng đầu tiên từ Tarboche đến Dirapuk là một chặng đường vô cùng thú vị, trời xanh lồng lộng bao phủ trên đầu, hai bên là hàng hàng lớp lớp núi hùng vĩ, những tảng đá khổng lồ chồng lên nhau, nhẵn thín, trơ trụi. Sau gần một ngày đường, đến xế chiều chúng tôi mới kết thúc chặng đầu cora, dừng chân ở nhà nghỉ Dirapuk.

Kailash 01 nhỏ

Đến Dirapuk là đã đến chân núi Kailash! Ngọn núi tuyết hiện ra ngay trước mắt, sáng lóa màu tuyết trong nắng chiều. Trời đã hoàng hôn mà hình ảnh Kailash vẫn hiện ra tròn trĩnh, đẹp lồng lộng.

Ngọn núi này được sùng bái bởi tín đồ cả hai đạo: Đạo Bon, tôn giáo nguyên thủy của Tây Tạng, và Mật Tông Phật giáo.

Với đạo Bon (một dạng thần đạo cổ sơ của người bản địa) thì đây là nơi Thủy tổ Tongpa Sherap từ trời xuống đất.

Với Mật tông Phật giáo thì đây là nơi thường trú của Chakrasamvara, một vị Phật được xem là hình ảnh của Cực lạc.

Với chúng tôi, những người hâm mộ ngọn núi phi phàm, thì có một điều thật xứng đáng để mình phải vượt ngàn dặm đến đây : Ở nơi này, thiên nhiên kỳ vĩ là cánh cửa tuyệt đẹp mở ra một thế giới văn hóa tâm linh mênh mông như biển, bước vào đó ta có thể đi mãi không ngừng trong cái bề sâu hướng nội vô tận của nhân loại.

IMG_0476

Kailash nhìn từ Dirapuk

Vui lắm, nhưng tất cả chúng tôi ai cũng mệt, mệt rã rời và ai cũng cố gắng cử động rất hạn chế, để giữ oxy trong máu. Độ cao của Dirapuk đã là 4.900 mét.

Đêm lạnh không thể tưởng tượng. Khách người châu Á tất cả đều nằm trong phòng, còn một số khách Âu Mỹ, tự cho là quen với cái lạnh, nên thuê lều vải ngủ ngoài sân cho nó thêm “phong trần”. Nhưng đến khoảng 10 giờ đêm trời rét dữ dội, họ đều phải bỏ lều chạy vào phòng hết.

Nửa đêm, Chokyi đập cửa phòng tôi, hỏi tôi lấy mấy bình oxy. Cậu ta bảo có 5 khách hành hương bị kiệt sức phải cấp cứu. 5 khách này là 5 thanh niên Trung Quốc, ỷ sức khỏe nên đi bộ mà lại không mang theo bình. Đến sáng sớm có chiếc xe cứu thương cọc cạch đến đưa họ vào bệnh viện. Tôi hỏi Chokyi bệnh viện cách đây bao xa, cậu ta bảo: Cách ba trăm cây số!

Rút kinh nghiệm ở Darchen, tôi đã cố gắng ngủ, và sáng sớm lại pha cà phê Việt Nam uống cho tỉnh người. Vẫn còn mệt lắm nhưng lần này tôi biết sức mình có thể đi được.

Nhưng đến đây Chokyi bỗng trở giọng bàn lui:

– Dirapuk là chỗ ngắm núi đẹp nhất rồi, có đi nữa cũng chẳng có gì mà xem.

Lẽ nào lại thế. Chúng tôi đã gắng lên đến độ cao gần 5000 mét. Chỉ phải ráng lên cao thêm khoảng bốn trăm mét nữa thôi. Vậy mà Chokyi cứ một điệp khúc “Nothing to see”. Moti, anh bạn người Nepal cũng phụ họa để tìm mọi cách cho chúng tôi nản lòng. “Nên về thôi, không có gì hơn nữa đâu.”

Chắc các cậu sợ trong chúng tôi có ai đó lăn ra chết thì phiền phức biết bao nhiêu. Lúc đó tôi cũng cảm thấy nao núng, vì nhớ lại mùa hè năm qua hai du khách Singapore, một 60 và một 62 tuổi đã chết đột ngột sau khi vượt qua đèo Dromo-la, nghĩa là khi vừa đi hết chặng thứ hai của vòng Cora quanh núi.

Chokyi và Moti là những người đưa đường giàu kinh nghiệm, biết lo xa, thấy chúng tôi đã có tuổi, sợ nguy hiểm nên không muốn liều. Nhưng bác sĩ Tâm, trưởng đoàn của chúng tôi là người có máu mạo hiểm, ông cứ lên ngựa và quát to : “Đi! Đi lên đỉnh núi!”

Lúc bấy giờ tôi hiểu. Cái tiếng tăm chết người của Kailash,cũng chính là sức hút mãnh liệt của ngọn núi này.

Hai cậu hướng dẫn viên không còn cách nào khác, đành phải tiếp tục đi.

Bên cạnh chúng tôi, nhiều người Tây Tạng đang “tam bộ nhất bái” trên đường. Cứ ba bước một lạy, họ chẳng hề để tâm đến cảnh tượng quanh mình, chỉ tập trung vào thế giới lặng lẽ bên trong.

Kailash 02 nhỏ

Rời Dirapuk ra đi: Kẻ đi bộ, người đi ngựa, lại có người vừa đi vừa lạy.

Đèo Dromo – Cung đường lột xác

Nói dại, nếu lỡ ra trong đoàn tôi có ai chết thì sao? “Nếu mà chết thì khỏi có chuyện đem xác về nhà, sẽ thiên táng trong bụng chim trời.” Tôi nghe mà hú vía. Chokyi nói, không phải cậu ta dọa đâu, người Tây Tạng đến nay vẫn giữ tục lệ ấy cơ mà.

Tranh thủ một lần nghỉ mệt, tôi vừa thở vừa nói thật là tôi thấy tục lệ ấy dễ sợ lắm, có phải người Tây Tạng phải giữ tục thiên táng là vì đất đá khô cứng quá không đào nổi huyệt mộ, củi gỗ cũng chẳng có để hỏa táng?

Chokyi lắc đầu bảo không phải. Trước kia người Tây Tạng từ vua chúa đến dân thường khi tạ thế đều được an táng trong lòng đất. Nhưng kể từ khi gần như toàn dân theo đạo Phật, nhiều người muốn đem thân xác bố thí cho các loài chim, như vậy người chết có thể làm được một việc phước cuối cùng. Lâu dần thành tục lệ chung. Như vậy thiên táng không phải một tập tục dã man, mà biểu lộ lòng từ bi vô lượng của người Tây Tạng.

Chặng đường thứ hai của vòng cora kết thúc ở đèo Dromo – la, đỉnh cao nhất của hành trình ( 5.470 mét).

LÊ DROMO.JPG

Đường lên Dromo-la

Dromo-la được đặt tên theo tên nữ thần Dromo, còn gọi là nữ thần Tara, vị nữ thần tượng trưng cho phúc đức và lòng nhân ái (Cũng là nữ Bồ tát, bởi cả Đạo Bon thờ thần và Đạo Phật Tây Tạng đều sùng bái Tara.) Những ngày ở Tây Tạng, tôi được xem tranh cổ dân gian (Thăngka), và rất ngạc nhiên thấy ở đây Quan Âm Bồ tát (Avalokitesvara) là đàn ông, vì vậy hình tượng Quan Âm ở Tây Tạng khác xa hình tượng Quan Âm bên ta. Tara, với vẻ mặt hiền dịu và dáng vẻ xinh đẹp mới chính là vị nữ thần, nữ Bồ tát mang hình ảnh người mẹ cứu khổ trong tâm tưởng người Tây Tạng.

Người Tây Tạng nguyện cầu Tara mỗi khi họ gặp khó khăn, tai nạn, bệnh tật, như đứa con kêu cầu tình thương và sự che chở của mẹ. Có lẽ vì vậy mà tên Dromo (Tara) được đặt cho điểm cuối chặng thứ 2 vòng cora, bởi đấy là đỉnh cao nhất nơi mà người hành hương phải vượt nhiều đoạn cheo leo hiểm trở mới đến được, cũng là nơi thường xảy ra những vụ chết người vì hội chứng loãng oxy. Trong khoảnh khắc sinh tử, danh hiệu Tara được gọi lên, giúp cho người lâm nạn sức mạnh tinh thần để vượt qua cõi chết.

C:\Users\Thuy mai\Desktop\PICTURES\TIBETCULTURE\1372770901-tara1.jpg

Bồ tát Tara

Đến đèo Dromo, xem như cuộc hành hương đã đạt, nên người hành hương Tây Tạng thường ném lại một mẩu áo cũ, một chiếc mũ cũ…với ý nghĩa tượng trưng là từ nay sẽ lột bỏ thân xác cũ để tái sinh trong một chặng đời mới đầy ân phước. Những mảnh áo mũ vứt đi này nằm vương vãi trên những đám cỏ lơ thơ ven núi.

Để tôn vinh Tara, những lá cờ nguyện cầu rực rỡ được người hành hương giăng khắp triền đèo. Theo Chokyi, cờ nguyện cầu có năm màu là biểu thị năm yếu tố cấu thành vũ trụ theo quan niệm của người Tây Tạng: hư không (xanh dương), gió (trắng), lửa (đỏ), nước (xanh lục), và đất (vàng). Treo cờ nguyện cầu là ghi lời nguyện của mình vào vũ trụ bao la, và cũng là góp phần vào hòa điệu vô tận của trời đất. (Quan niệm của người Tây Tạng về các yếu tố cơ bản của vũ trụ khác quan niệm về ngũ hành kim mộc thủy hỏa thổ của người Trung Hoa ở chỗ họ không nhắc tới yếu tố mộc (cây) và kim (kim loại). Điều này có lẽ cũng xuất phát từ hoàn cảnh thiên nhiên ở xứ sở vùng cao trơ trụi này.)

P1020397.JPG

Những lá cờ nguyện cầu

Qua khỏi Dromo-la, những con dốc xuôi dần xuống thấp. Cuối chặng đường, sau vài giờ đi bộ, tu viện Zutul Gompa hiện ra.

Zutul nghĩa là cái hang, đặt tên như vậy vì ở đây có cái hang nhỏ nơi nhà thánh thi Milarepa đã ngồi thiền định. Đến đây, qua khỏi những nỗi âu lo, Chokyi mới nhớ ra còn nợ tôi câu chuyện về Milarepa, là nhà thơ đồng thời là thuật sĩ vĩ đại của Tây Tạng vào thế kỷ 11.

Và đây là câu chuyện của Chokyi trong buổi tối dừng chân nơi trạm nghỉ này:

Milarepa vốn là một đứa con côi nghèo khổ có tuổi thơ bị đày đọa, ông căm thù những kẻ đã đối xử tàn tệ với mình nên đi học phép phù thủy và dùng phép để báo thù. Trong phẫn hận, ông dùng phép thuật làm ra một cơn bão lớn, khiến cho cả trang trại của kẻ thù bị tàn phá, ba mươi người chết sạch trong một đêm.

Lòng căm thù đã hả, nhưng ông không thấy vui, trái lại, nỗi trống vắng lạnh lẽo xâm chiếm tâm hồn ông. Khuôn mặt của những người chết ám ảnh ông, nỗi ân hận càng lúc càng lớn. Thế rồi ông quyết tâm theo Phật, dứt bỏ lòng hận thù để đến với tình thương và tha thứ.

Sau nhiều thập kỷ tu tập và thiền định, Milarepa đã được xem là vị Phật sống, trở thành người kế tục dòng truyền thừa của Phật giáo Mật Tông Tây Tạng…

Câu chuyện rất người của đời ông là chứng thực cho điều Phật dạy: Buông dao xuống, kẻ sát nhân có thể thành Bồ Tát.

Cuộc đời kỳ vĩ của vị Phật sống đã được Neten Chokling dựng lại trong bộ phim Milarepa nổi tiếng thế giới.

Một ngàn năm nữa…

Từ Zutul – Gompa trở đi, đường dễ đi hơn nhiều. Sau nửa ngày đi theo những đoạn đường ngoằn ngoèo, lại đến một thung lũng hẹp, rồi con đường men núi rẽ sang phía tây. Lúc này khách hành hương đang đi về hướng Darchen, đi khoảng 3 giờ đồng hồ sau mới thấy thị trấn hiện ra đằng xa với những mái nhà xám xỉn.

Lẽ ra theo hành trình, Chokyi sẽ gọi xe đến đón chúng tôi ngay ở đây rồi lên đường về lại hồ thiêng Manasarovar. Nhưng đã quá mỏi mệt vì chuyến đi, và cũng để nhâm nhi niềm vui của mình thêm một chút, chúng tôi quyết định quay về khách sạn Darchen với kế hoạch “liên hoan” một bữa để mừng đi đến nơi, về đến chốn.

Chà chà, muốn liên hoan cũng khó đây, vì biết ăn gì bây giờ. Vị trưởng đoàn của tôi vốn rất quan tâm đến ẩm thực, chợt nhớ ra trên đường đến khách sạn Darchen có thấy một nhà hàng mang bảng hiệu tiếng Hoa, tên là Tứ Hải gì đó, có ghi chú là bán các món ăn Hoa Nam. Chokyi tỏ vẻ ngần ngại không muốn đi, nhưng sau nể khách quá nên cũng chiều. Nhà hàng đông khách, tất nhiên toàn là khách vãng lai đi qua Darchen chứ dân Tạng thì không hề có ai xuất hiện ở đây. Chokyi ghé tai nói nhỏ cho tôi biết lý do khiến anh ngại ngần: Theo anh thì các nhà hàng Hoa ở đây thường lấy thịt chó giả làm thịt bò, mà anh là Phật tử Tây Tạng, tuyệt đối kiêng thịt chó (Rất giống thói quen của Phật tử ở Huế). Tôi chợt nhớ lại khi vào cửa nhà hàng đã nhìn thấy cả đàn chó ngao nằm la liệt trong sân, thấy ớn lạnh nên dù đã đói cả tuần nay và các món ăn đều thơm phức hấp dẫn nhưng tôi chỉ dám húp nước mà thôi…

P1020271.JPG

Đàn chó ngao trong sân nhà hàng

Chokyi cũng không ăn uống gì nhiều, chỉ nhấm nháp lấy lệ. Không biết giờ phút ấy người bạn Tây Tạng của chúng tôi đang nghĩ gì? Suốt trên đường đi, không biết bao nhiêu lần Chokyi đã phải lên xe, xuống xe để trình giấy tờ qua các bót gác có lính Tàu canh giữ. Ở Tây Tạng bây giờ, các trường học đều dạy bằng tiếng Hoa, các bảng tên đường cũng tiếng Hoa, cả những thánh tích cũng có bảng chỉ dẫn tiếng Hoa. Nhưng, trong khi người dân những nước láng giềng đã quên đi khái niệm Tây Tạng về mặt địa lý, thì trên toàn thế giới người ta vẫn nhắc về quê hương của Dalai Lama như một đất nước, một dân tộc với tất cả những bản sắc độc đáo có lẽ đời đời không thể nào bị đồng hóa.

Từ Kailash trở về trong lòng tôi khắc sâu hình ảnh gương mặt rám đen cằn cỗi của những người bạn đã gặp: Chokyi, ông lão chăn ngựa, người phu khuân vác hành lý, những khách hành hương tam bộ nhất bái trên đường. Với niềm tin sâu sắc khó dời đổi, họ giữ trong lòng những tập quán tâm linh, những thánh thần sông núi của ngàn xưa, giữ cho văn hóa Tây Tạng mãi mãi là một thực thể rất khó bị tan hòa.

Tôi bỗng nghĩ, nhất định sẽ có một ngày Tây Tạng độc lập. Người Việt Nam đã từng nội thuộc Trung Hoa cả đến một ngàn năm. Tây Tạng mới nội thuộc Tàu bảy mươi năm. Vậy từ nay cho đến chín trăm ba mươi sáu năm nữa, lẽ nào lịch sử không cho những người Tây Tạng một cơ hội?

tarboche

Rời Darchen, chúng tôi tiếp tục đi. Hai bên đường là cảnh tượng hùng tráng của thiên nhiên, tương phản với cuộc sống lam lũ nghèo nàn của con người. Chúng tôi đang trên đường đến Everest Base Camp, nơi có thể chiêm ngưỡng chóp núi cao nhất thế giới. Chokyi bảo hãy chuẩn bị tinh thần, sẽ được xét giấy tờ kỹ lắm đó vì mỗi năm hằng trăm người Tạng trèo qua Himalaya để vượt biên qua Nepal.

Trong tiếng gió lạnh khô buốt, tôi tưởng mình đang nghe được những lời nguyện cầu thầm lặng từ những lá cờ ngũ sắc mà người Tây Tạng đang giăng khắp các rừng sâu núi thẳm…

TTM 2014

Đường lên Everest, nóc nhà thế giới

Sau bữa cơm Tàu tại nhà hàng Tứ Hải Four Sea Restaurant (có nhiều chó ngao) mà đối với riêng hai chúng tôi là tuyệt vời vì phải chịu đựng dồ ăn Tây Tạng quá dở trong suốt tuần lễ qua,

Cora 02 nhỏ

Từ phải: Moti, tài xế, HDV, Mai, Tâm

Cora 02 01 nhỏ

chúng tôi lên đường ngược trở về hướng đông để đi Everest sáng ngày 28/9/2013 và gặp ngay thượng nguồn sông Hoàng Hà

everest 03 nhỏ

Hình ảnh ngọn núi thiêng đổi màu dưới ánh sáng bình minh không bao giờ phai mờ trong kí ức chúng tôi.

Cora 03 nhỏ cora 04 nhỏ

Thôi tạm biệt Kailash nhé!

 

Ghé đêm tại Saga tại một lữ quán có cô gái Tây Tạng xinh xắn, nấu bếp bằng phân ngựa khô.

 

cora 05 nhổ

Sáng dậy tiếp tục đi một quãng đường rồi qua ngã ba (rẽ phải đi Yangmu về Nepal) chúng tôi rẽ trái về hướng Everest/Lhasa.

. everest 04 nhỏ

 

Cảnh vật hai bên đường đi hướng Everest để tới tiền trạm Hinri

everest 02 nhỏ

Quán bên đường

Hai bên đường còn có cừu, nai, dê núi.

Everest 25 nhỏ

Và người, ngựa, yak

Everest 26 nhỏ

Chiều 29/9/2013 chúng tôi đến Thinri, tiền trạm của Everest (còn cách Everest Base Camp 80 km hay 4 giờ lái xe), nghỉ đêm tại lữ quán Everest Snow Leopard.

 

everest 05 nhỏ

Vừa nhận phòng xong, hướng dẫn viên Moti reo mừng báo tin đỉnh Everest bắt đầu ló rạng nơi chân trời. Lần đầu tiên trong đời chúng tôi được chiêm ngưỡng Nóc Nhà Thế Giới từ xa 80 km.

everest 06 nhỏ

Đỉnh Everest hiện ra rất uy nghi trong buổi hoàng hôn từ Thinri

Sáng hôm sau, ngày 30/9/2013 chúng tôi lên đường đi Rongbuk, Everest Base Camp. Trải qua 80 km, vật vã với sỏi đá trong 4 tiếng đồng hồ trên một quãng đường gập ghềnh khủng khiếp nhất từ trước tới nay.

everest 07 nhỏ

Tuy mình mẩy ê ẩm nhưng rất thú vị được ngắm nhìn hình dạng cùng màu sắc chóp Everest thay đổi dưới những tia nắng buổi bình minh.. Càng gần đến Rongbuk, Everest càng hiện ra lớn hơn, rõ chi tiết hơn và uy nghi hơn đến độ hơi dữ tợn.

everest 08 nhỏ

Quá trưa hôm đó (30/9/2013) chúng tôi tới Rongbuk, Everest Base Camp. Đỉnh Everest, Nóc Nhà Thế Giới đã hiện ngay trước mặt chúng tôi và tu viện Rongbuk nằm ngay dưới chân núi.

everest 09 nhỏ

everest 10 nhỏ everest 14 nhỏ

everest 11 nhỏ

Everest xuất hiện như một cô gái đỏng đảnh khi thì e ấp sau làn mây mỏng, khi thì trần truồng lồ lộ một tòa thiên nhiên, có lúc biến mất trong đám mây bạc. Thế mới điên đầu chứ!

everest 12 nhỏ

Tôi cố chụp đủ kiểu từ mây cắt ngang đinh núi đến lõa lồ mặt non.

 

everest 13 nhỏ

Thế là chuyến đi hoàn toàn thành công!

Được biết 80% viễn khách tới đây gặp lúc trời mù hay mây phủ, chỉ đành tưởng tượng ra nàng Everest e thẹn nấp sau đám mây rồi lủi thủi ra về.

Xem chừng chúng tôi đã thỏa thuê, Moti giục dã lên xe trở về Kathmandu. Nhưng tôi đâu có chịu. Đã vất vả lặn lội vượt bao ngàn dậm tới đây, Nóc Nhà Thế Giới, nên phải được ngắm Everest trong buổi hoàng hôn và bình minh nhất là muốn ngủ lại một đêm trong camp để sinh họat với các trại viên từ tứ xứ.

everest 15 nhỏ

Thế là chúng tôi nhập trại, nghỉ ngơi để 4 giờ chiều nay sẽ có xe bus đưa đến một địa điểm (Vista Point) ngắm nhìn đỉnh Everest gần hơn rõ hơn.

Mây phủ kín suốt buổi chiều đến 5:30 vẫn chưa tan. Chúng tôi đành lên xe cứ đi ví 6 giờ không còn bus.

everest 16 nhỏ everest 17 nhỏ

Đi chừng 20 phút đến một ngọn đồi rất dốc. Trên đó đã chen chúc bao thanh niên nam nữ. Thấy tôi hổn hển leo lên, mọi người xô ra giúp đỡ kéo tôi lên. Khi biết tôi 80 tuổi, mọi người ồ lên tỏ vẻ kính phục rồi tranh nhau chụp hình với tôi.

Coi tôi như một…Hero!

everest 24 nhỏ

Mây phủ gần hết ngọn Everest. Lâu lâu hé ra một chút rồi lại trốn sau đám mây như chơi trò ú tim.

everest 18 nhỏ

Chúng tôi đành ngắm cảnh vật chung quanh rồi trở về camp everest 19a nhỏ

Chụp thêm mấy hình Everest trong ánh sáng hoàng hôn

everest 20 nhỏ

Đêm đó chúng tôi tró chuyện với các trại viên cùng lều, đến từ khắp nơi trên thế giới. Mỗi lều có chừng vài ba chục người nằm chen chúc nhau như cá hộp.

Cậu hướng dẫn viên Tây Tạng mua mấy con cá khô hồ Manasarovar mang về biếu bố mẹ vợ để làm thuốc.

everest 23nhỏ

Thùy Mai rất khó thở vì thiếu dưỡng khí, phải dùng 2 bình oxy mà vẫn mệt. Tôi rất lo!

everest 21 nhỏ

Tuy có toilet nhưng… khiếp quá nên đành dùng Free Toilet ngoài đồng để hưởng cái thú Quận Công như mọi nơi trong chuyến đi Tây Tạng lần này.

Sáng hôm sau ngày 01/10/2013 Moti gọi dậy lên xe đi về. Tôi tranh thủ chụp được thêm vài kiểu ảnh Everest trong bình minh trước khi mây phủ kín. Không biết toán thanh niên đến đêm qua và sáng nay có được may mắn như chúng tôi không.

everest 22 nhỏ

Tuổi 80 Leo Cao Đỉnh Núi như thế đủ rồi.

Tạm Biệt các Đỉnh Cao của Trái Đất!

Tạm Biệt EVEREST, Nóc Nhà Thế Giới!

Từ đầu năm 2018 đến nay tức trong đúng 3 tháng tôi đã hoàn tất được 3 cuốn: Biến Cố Tân Tạo (844 trang), Xứ Thanh cậy thế (224 trang) và bây giờ cuốn này Tuổi 80 Leo Cao Đỉnh Núi (115 trang).

Tôi muốn tri ân Người Bạn vừa là Người Tình, vừa là Tri Kỷ và là Người Vợ cuối đời của tôi.

Viết xong ngày thứ tư 28 tháng 3, 2018

Tại biệt thự Hương Tâm, bãi biển Hoàng Hôn, TP. Cựu Kim Sơn

 

Bùi Duy Tâm

 

MỤC LỤC

Chùa Đồng trên đỉnh non Yên ………………………………………1

Người lớn tuổi nhất leo đỉnh Fansipan…………………………..33

Hang Cọp (Tiger’s Nest) Paro Taktsang, Bhutan………………63

Vòng Cora quanh núi thiêng Kailash, Tây Tạng………………..67

Đường lên Everest, nóc nhà thế giới………………………………95

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *