XỨ THANH … cậy thế

BÚT KÝ BÙI DUY TÂM Địa linh nhân kiệt

Thanh Hóa là quê cha tôi. Người ta nói “Thanh cậy thế, Nghệ cậy thần”. Cha con tôi từ nhỏ cho đến hết đời chẳng cậy được thế của ai, chỉ sống bằng mồ hôi nước mắt và hai bàn tay của chính mình. Người Thanh Hóa cũng vậy, gặp nhau cũng vui nhưng không lập bè lập cánh, bênh vực nhau, nâng đỡ nhau như dân các tỉnh khác (Quảng Nam chẳng hạn …). “Thanh cậy Thế” vì nhiều VUA CHÚA phát xuất từ Thanh Hóa…..

XỨ THANH … cậy thế

Bùi Duy Tâm

A. XỨ THANH … CẬY THẾ

Thanh Hóa là quê cha tôi. Người ta nói “Thanh cậy thế, Nghệ cậy thần”. Cha con tôi từ nhỏ cho đến hết đời chẳng cậy được thế của ai, chỉ sống bằng mồ hôi nước mắt và hai bàn tay của chính mình. Người Thanh Hóa cũng vậy, gặp nhau cũng vui nhưng không lập bè lập cánh, bênh vực nhau, nâng đỡ nhau như dân các tỉnh khác (Quảng Nam chẳng hạn …). “Thanh cậy Thế” vì nhiều VUA CHÚA phát xuất từ Thanh Hóa.

Trong lịch sử Việt Nam, Thượng Cổ thời đại dài hơn 2 ngàn năm trước Công Nguyên với các huyền thoại họ Hồng Bàng, nhà Thục nhà Triệu. Bắc thuộc thời đại khoảng 1 ngàn năm (từ năm 111 trước Công Nguyên đến năm 939 sau Công nguyên) có hai vị nữ anh hùng nổi dậy kháng chiến chống quân Tàu là Bà Trưng quê ở Phúc Yên, Bà Triệu quê ở Thanh Hóa.

TỰ CHỦ thời đại bắt đầu từ lúc Ngô Quyền phá quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng dành lại nền TỰ CHỦ cho nước ta (năm 939) cho đến khi Bảo Đại thoái vị (năm 1945) cả thảy khoảng 1 ngàn năm. Không kể nhà Đinh (968 – 980) từ Ninh Bình nhà Lý (1010-1225) từ Bắc Ninh, nhà Trần (1225-1400) từ Nam Định, nhà Nguyễn Tây Sơn (1788-1802) từ Bình Định cả thảy khoảng 4 thế kỷ.

Còn lại 6 thế kỷ toàn do các vua chúa từ Thanh Hóa trị vì.

Một tỉnh Thanh Hóa xuất phát ra 7 triều đại vua chúa (nhà Ngô, nhà Tiền Lê, nhà Hồ, nhà Hậu Lê, Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn, nhà Nguyễn Gia Long) trị vì 600 năm trong lịch sử 1000 năm TỰ CHỦ thời đại thì xứ Thanh phải thật sự là một ĐỊA LINH NHÂN KIỆT.

B. DANH HIỆU QUA LỊCH SỬ

Miền đất xứ Thanh có tên từ đời các vua Hùng. Đó là bộ CỬU CHÂN, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Sang thời kỳ thuộc Hán, Hán Vũ Đế chuyển thành quận Cửu Chân. Thời nhà Lương, Lương Vũ Đế đổi tên quận Cửu Chân thành quận Ái Châu, tên Ái Châu có từ đây. Thời Tùy – Đường lại bỏ tên Ái Châu mà đặt lại tên quận Cửu Chân. Thời Lý, Lý Thái Tổ chia nước thành 24 lộ, trong đó có lộ Thanh Hóa, tên Thanh Hóa có từ đây. Thời Trần đổi 24 lộ đời Lý thành 12 lộ trong đó có tên Thanh Hóa phủ lộ (hay trại Thanh Hóa). Sau lại chia ra 7 huyện với 3 châu là châu Ái, châu Thanh Hóa và châu Cửu Chân. Sang thời Lê chia nước làm 5 đạo thì Thanh Hóa thuộc Hải Tây Đạo sau thành thừa tuyên Thanh Hóa. Thừa tuyên Thanh Hóa đổi thành trấn Thanh Hoa rồi tỉnh Thanh Hoa. Vua Thiệu Trị, kiêng húy mẹ là Hồ Thị Hoa, đổi Thanh Hoa trở lại là tỉnh Thanh Hóa cho đến ngày nay.

(Hồ Thị Hoa là người vợ đầu tiên của Hoàng từ Đảm sau này là vua Minh Mạng. Lúc bấy giờ các nhà nho ở Huế kiêng không lấy tên các loài hoa để đặt tên con gái. Vì vậy một hôm lúc vui tiệc gia đình, vua Gia Long đã bảo con dâu: “Con tên là Hoa, hoa thì đẹp nhưng không bền lâu. Vậy ta đổi tên con là Thật để con được hưởng phúc lâu dài”. Nhưng việc đổi tên không đổi được số phận. Bà Hoa sinh hạ cho hoàng tử Đảm đứa con trai đầu lòng (sau này là vua Thiệu Trị) được 12 ngày thì bị hậu sản mà chết, tuổi mới 18. Đứa con trai như cảm thấy đau xót mất mẹ, gào khóc suốt 10 không thôi).

C. ĐỊA DƯ VÀ HÀNH CHÍNH

Tỉnh Thanh Hóa rộng hơn 11 ngàn cây số vuông, dân số chừng 4 triệu người gồm các dân tộc Việt, Mường, Thái, Thổ, Dao, Hoa, Khờ-Mú, H.Mông.

Thanh Hóa núi bọc 3 bề ở phía Bắc, phía Tây, phía Nam và biển Đông kéo dài 102 km từ Nga Sơn đến Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Quảng Xương, Tĩnh Gia (giáp Nghệ An). Phía Bắc, Thanh Hóa giáp tỉnh Ninh Bình qua núi Tam Điệp (đèo Ba Dội), đường quốc lộ 1A đi qua Dốc Xây (Bỉm Sơn) ; phía Tây Bắc giáp tỉnh Hòa Bình, từ Quan Hóa có đường đi ra Vạn Mai để đi Hà Nội ; Phía tây giáp nước Lào có đường từ Thường Xuyên qua cửa biên giới Na Méo – Bát Mọt để sang tỉnh Hủa Phăn nước Lào ; phía Nam giáp tỉnh Nghệ An, có đường 15 qua Bãi Trành để vào Hóa Quì, Nghĩa Đàn, đường quốc lộ 1A đi qua khe nước lạnh (Hoàng Mai – Tĩnh Gia).

Thanh Hóa có những ngòn núi cao ở miền Tây như Pha Ú Hô (Quan Hóa) núi Chí Linh (Trung Chánh – Thường Xuân) núi Nưa (Nông Cống, Triệu Sơn, Như Xuân). Ngoài ra trên đồng bằng Thanh Hóa có nhiều ngọn núi thấp như dãy Thần Phù (Nga Sơn), dãy Tam Điệp (Bỉm Sơn) và các núi nhỏ khác.

Thanh Hóa có những con sông lớn:

– Sông Mã (thuộc địa phận Thanh Hóa 242 km)

– Sông Chu (325 km) và các sông khác: sông Bưởi (130 km)

– Sông Lương (102 km), sông Yên (94,2 km), sông Cầu Chày (87,5 km), sông Hoàng (81 km), sông Âm (79 km), sông Lô (74,5 km), sông Nhơn hay Lăng Giang (66,9 km), sông Hoạt (55 km), sông Thị Long (50,4 km) và sông Bang (34,5 km).

Lê Hoàn là người khởi đầu khai hệ thống “sông nhà Lê”, nối sông Mã với sông Chu, sông Hoàng, sông Yên, sông Lạch Bang. Hệ thống “sông nhà Lê” bắt đầu từ núi Đồng Cổ, bắc Thanh Hóa cho tận sông Bà Hòa giáp Nghệ An, vừa là công trình dẫn thủy nhập điện rất thuận lợi cho đồng ruộng Thanh Hóa.

Hiện nay, tỉnh Thanh Hóa gồm 2 miền:

Miền núi có 3 huyện: Thạch Thành, Cẩm Thủy, Ngọc Lạc và 5 huyện miền núi cao là Quan Hóa, Bá Thước, Lang Chánh, Thường Xuân và Như Xuân.

Miền xuôi có: Thành phố Thanh Hóa, thị xã Sầm Sơn, thị xã Bỉm Sơn và 12 huyện: Thị Xuân, Triệu Sơn, Nông Cống, Tĩnh Gia, Quảng Xương, Đông Sơn, Thiệu Yên, Vĩnh Lộc, Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Nga Sơn và Hà Trung.

D. THANH HÓA VỚI NỀN VĂN MINH CỔ VIỆT NAM

– Di tích núi Đọ (xã Thiệu Tân, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa) và 19 di tích khác thuộc

I. Sơ kỳ đá cổ cách ngày nay khoảng 30 vạn năm phát hiện ở Thanh Hóa được coi là bắt đầu sự chuyển hóa vĩ đại của tự nhiên: vượn người xuất hiện, họ đi thẳng, sống bằng hái lượm và săn bắn nhờ các công cụ đá thô sơ, chế tác bằng cách ghè đá bazan lấy các mảnh sắc, thuật ngữ khảo cổ gọi là mảnh tước để cắt gọt và các hạch đá ghè đẽo qua loa vừa tay nắm, làm dụng cụ chặt, gọi là trô-pơ.

– Văn hóa Ngườm, do các nhà khảo cổ tìm thấy những mảnh tước ở núi đá Ngườm (tỉnh Thái Nguyên) nên lấy tên này đặt cho niên đại của nền văn hóa đó (khoảng 23 ngàn năm trước Công Nguyên TCN).

Văn hóa Ngườm còn gọi là Kỹ nghệ Ngườm là giai đoạn phát triển của người tối cổ sang người tinh khôn ở Việt Nam trước nền văn hóa Sơn Vi (18.000-16.000 TCN). Đặc điểm: cách ngày nay 2 vạn năm, sống trong mái đá, hang động, ven bờ sông bờ suối, đá cuội được ghè ở rìa thành cạnh sắc, săn bắn hái lượm, sống thành thị tộc, từ Sơn La đến Quảng Trị.

II. Hậu kỳ thời đại đồ đá cũ cùng với văn hóa Sơn ViSoi Nhụ.

– Văn hóa Sơn Vi: (20.000-12.000 TCN) Sơn Vi là tên liên xã thuộc huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ, nơi đầu tiên nhìn thấy di chỉ của nền văn hóa này. Đến nay khoảng 160 địa điểm thuộc văn hóa Sơn Vi đã được phát hiện.

Không gian của văn hóa Sơn Vi bao trùm các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Bắc Giang, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị.

Những người nguyên thủy chủ nhân của văn hóa Sơn Vi sống thành từng bộ lạ, sống ngoài trời trên các đồi gò trung du ở trung lưu sông Hồng, thượng lưu sông Lục Nam, thượng lưu sông Hiếu. Chỉ còn một ít sống trong hang động. Công cụ ghè đẽo từ đá cuội. Họ sống bằng săn bắn, hái lượm chưa có trồng trọt chăn nuôi.

– Văn hóa Soi Nhụ (18.000 – 7.000 TCN)

Soi Nhụ thuộc kênh Bái Tử Long là nền văn hóa của người tiền sử được phát hiện nawm và khai quạt năm 1967, phân bố trong khu vực các đảo đá vôi của vịnh Hạ Long và Bái Tử Long bao gồm cả Cát Bà, Hải Phòng, các huyện Vân Đồn, Cẩm Phả, Hoành Bồ, Hòn Gai, Yên Hưng, Kinh Môn, Đông Triều thuộc Quảng Ninh và Hải Dương. Hậu duệ của văn hóa Soi Nhụ là các văn hóa Cái Bèo và văn hóa Hạ Long.

III. Thơi đại đồ đá mới: Là một bước tiến triển như việc sử dụng các loại cây hoang dại hay thuần hóa và sử dụng các loài động vật được thuần hóa.

– Văn hóa Hòa Bình (12.000-10.000 TCN) thuộc thời đồ đá cũ sang đồ đá mới. Năm 1923 bà Madeleine Colani khám phá ra một số lượng rất lớn di cốt người và dụng cụ bằng đá trong một hang đá vôi thuộc tỉnh Hòa Bình. Trong mấy năm liền sau đó, bà liên tục khám phá thêm 12 hang động trong vùng Hòa Bình với một số lượng di vật hiếm thấy. Sau khi so sánh với đồ đá tìm thấy trong vùng Bắc Sơn, bà nhận ra toàn thể những di vật đặc biệt bằng đá cuội với đặc điểm chỉ được đẽolưỡi hay rìu, là cùng một nền văn hóa – “văn hóa hòa bình”

Các nhà khảo cổ còn phát hiện những di vật cùng một kỹ thuật chế tác ở Hòa Bình tại rất nhiều quốc gia khác trong vùng như Thái Lan, Miến Điện, Lào, Campuchia, Malaysia… và xa hơn nữa như Nhật Bản, Đài Loan, Australia…

Văn hóa Hòa Bình ở Thanh Hóa phân bố tại các huyện như Cẩm Thủy, Thạch Thành, Bá Thước, Ngực Lạc … tổng cộng đến 31 di tích.

Cư dân văn hóa Sơn Vi vừa cư trú trong hang động vừa cư trú ngoài trời trên vùng đồi. Cư dân văn hóa Hòa Bình cư trú chủ yếu trong hang động và mái đá.

Cư dân văn hóa Hòa Bình sinh sống chủ yếu bằng hái lượn, săn bắn, nướng chín thức ăn, bắt đầu biết trồng trọt, tổ chức xã hội thành thị tộc, nhiều thị tộc họp thành bộ lạc. Hiện tượng các hang động gần nhau đã góp phần chứng tỏ điều này.

Văn hóa Bắc Sơn (10.000 – 8.000 TCN): Bắc Sơn là đặt theo tên núi đá huyện Bắc Sơn thuộc tỉnh Lạng Sơn, nơi đầu tiên phát hiện những di vật của nền văn hóa này. Các bộ lạc chủ nhân của văn hòa Hòa Bình đã tạo ra nền văn hóa Bắc Sơn. Không gian của văn hóa Bắc Sơn là các miền đất thuộc các tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An. Người nguyên thủy của văn hóa Bắc Sơn sống trong hang động, mái đá gần sông suối, sống bằng săn bắn, hái lượm, bắt đầu canh tác nông nghiệp ở mức độ rất sơ khai. Công cụ làm bằng đá đẽo hoặc màu và bằng tre gỗ. Kỹ thuật chế tác đá có bước tiến bộ là họ đã biết MÀI, khiến cho lưỡi rìu cân xứng và có hiệu quả hơn. Điểm nổi bật nhất là họ đã biết làm đồ gốm có hoa văn, thich trang sức và nơi cư trú ổn định hơn.

Tiêu biểu nhất của văn hóa Bắc Sơn ở Thanh Hóa là tổng văn hóa trên cùng của di tích hang Con Moong và ở các di tích khác như mái đá Điều, hang Mỹ Tế, mái đá Thạch Cũng, hang Lộc Thịnh, mái đá Bon, hang Điền Hạ… Hang con Moong (Thạch Thành) gồm 3 tầng văn hoá chồng chất lên nhau từ hậu kỳ đá cũng dưới cũng đến đá mới (văn hóa Bắc Sơn) trên cùng.

Văn hóa Hòa Bình và văn hóa Bắc Sơn là sơ kỳ đá mới là “màn dạo đầu” (prolide) của cuộc cách mạng ĐÁ – Nông (Agrolithique) nghĩa là sự ra đời của Nông nghiệp

– Văn hóa Quỳnh Văn (8.000 – 6.000 TCN)

– Văn hóa Cái Bèo (7.000 – 5.000 TCN)

– Văn hóa Đa Bút (6.000 – 5.000 TCN): Đa Bút là đặt theo tên một thôn ở huyện Vĩnh Lộc (Thanh Hóa), nơi đầu tiên tìm được những di vật của nền văn hóa này cùng với những phát hiện, khai quật ở vùng Cổn Cổ Ngựa, Cồn Trừng, Bản Thủy, Làng Còng (Thanh Hóa). Cho nên văn hóa Đa Bút (Đa Bút – Cồn Cổ Ngựa) là một văn hóa – Hậu Bắc Sơn, góp phần quan trọng cùng với văn hóa Quỳnh Văn (Nghệ Tĩnh) và sự hình thành văn hóa Bàu Trò (cuối Đá Mới, sơ kỳ Đồng) cho cả miền Trung Việt Nam. Văn hóa Đa Bút với hàng loạt di tích dọc theo triền sông Mã suốt từ trung du đến ven biển. Đây là giai đoạn cuối cùng của đồ đá mới ở Thanh Hóa (có niên đại cách ngày nay khoảng 7 ngàn năm). Cư dân Đa Bút chiếm lĩnh đồng bằng và ven biển, biết làm nhà ngoài trời, biết giúp dân mài đá để mài những chiếc rìu đá đẹp và hoàn chỉnh, biết tu sửa mảnh trước để nạo, xẻ thịt hay cắt da thú, biết chế tạo ra chày và bàn nghiến bằng đá. Đồ gốm Đa Bút với hoa văn được chế tạo với kỹ thuật tiến bộ. Cư dân Đa Bút săn bắn giỏi, đánh cá bằng bè mảng kết lại từ cây luồng hay cây tre, trồng lúa rất phổ biến còn biết trồng nhiều loại củ cho bột và bắt đầu biết chăn nuôi gia súc.

IV. Thời kỳ đồ đồng đá hay sơ kỳ thời đại đồ đồng

– Văn hóa Hạ Long (3.000 – 1.500 TCN)

– Văn hóa Phùng Nguyên (2.000 – 1.500 TCN): Là một nền văn hóa tiền sử, cuối thời đại đồ đá mới, thuộc sơ kỳ thời đại đồ đồng. Phùng Nguyên là tên một làng ở xã Kinh Kê, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, nơi đầu tiên tìm ra di chỉ của nền văn hóa này. Tính đến 1998 có khoảng 55 địa điểm khác đã được phát hiện có di chỉ văn hóa đồng dạng với các di chỉ tại Phùng Nguyên như Phú Thọ, Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng … trong số đó có ba địa điểm có di cốt người, đa số chưa hề tìm thấy bất kỳ công cụ bằng đồng nào ngoài râ một ít mẩu xỉ đồng. Công cụ bằng đá chiếm ưu thế tuyệt đối: đồ trang sức (đặc biệt các vòng đá) bằng các loại đá, đá bán quý, ngọc… Cư dân Phùng Nguyên còn biết chế tạo đồ gốm đặc sắc với các hoa văn trang trí. Cùng thời với văn hóa Phùng Nguyên ở Việt Nam còn có văn hóa Cồn Chân Tiên, Hoa Lộc (lưu vực sông Mã), lưu vực sông Lam, thượng lưu sông Mã (huyện sông Mã, tỉnh Sơn La) và văn hóa Tiền Sa Huỳnh (2.000 – 1.000 TCN) thuộc văn hóa Hoa Lộc (Hậu Lộc, miền biển xứ Thanh) cho đến nay là nền văn hóa “độc nhất vô nhị” ở Việt Nam với các cuốc đá có vai, những đồ gốm hoa văn in hình vỏ sò, những “con lân” bằng đất nung với hình con đĩa.

V. Trung kỳ thời đại đồ đồng

– Văn hóa Đồng Đậu (1.500 – 1.000 TCN)

Đặt tên theo khu di tích Đồng Đậu ở thị trấn Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc nơi đầu tiên phát hiện ra một nền văn hóa đồ đồng phong phú năm 1962. Người Đồng Đậu sống ngoài trời trên các đồi gò trung du Bắc Bộ với nền kinh tế nông nghiệp (trồng lúa và các cây hoa màu. Các dấu tích luyện kim như xỉ đồng, các mảnh khuôn đúc bằng đá cho thấy nghề đúc đồng đã phát triển.

VI. Hậu kỳ thời đại đồ đồng

– Văn hóa Gò Mun (1.000 – 600 TCN) thuộc cuối thời kỳ đồ đồng, lấy tên của gò Mun, xã Tứ Xã, huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ, được khai quật nhiều di chỉ năm 1961 và được nhìn nhận như là một nền văn hóa tiền Đông Sơn. Thời kỳ này người Việt cổ đã có những chuyển biến rõ rệt về một xã hội phức tạp và giàu có, thúc đẩy việc ra đời một nhà nước sơ khai của người Việt.

Văn hóa Gò Mun được phân bố cùng một địa bàn với các giai đoạn trước (Phùng Nguyên,Đồng Đậu), là ba giai đoạn lớn của thời đại Đồng Thau.

Tuy vẫn thích sống trên gò đồi cao nhưng đã biết tập trung dưới chân đồi vùng trung du, vùng đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.

Công cụ và vũ khí bằng đồng. Lần đầu tiên những mũi tên bằng đồng thau xuất hiện, đòi hỏi phải có một khối lượng lớn vì tên bắn đi không bao giờ trở về. Truyền thống giỏi cung nỏ của người Việt cổ từ thời kỳ Gò Mun khiến quân thù phải khiếp sợ và khâm phục. Đồng cũng được dùng làm đồ trang sức và tượng động vật.

Những múi giáo gỗ và đồ gỗ tiếp tục cải tiến trừ nghề làm đồ đá

Đồ gốm nung ỏ độ cao, phổ biến là các loại bình, nồi có miệng loe gẫy và trang trí hoa văn khắc vạch phía trong miệng.

Người Việt cổ (Phùng Nguyên, Đồng Đậu,Gò Mun) bước vào nền kinh tế nông nghiệp, vào chế độ dòng da (phụ hệ), làm chủ vùng tam giác sông Hồng, mở đường cho một giai đoạn văn hóa rực rỡ, đỉnh cao thời đại dựng nước giai đoạn Đông Sơn.

VII. Thời đại đồ sắt

Văn hóa Đông Sơn (700 TCN – 100)

Văn hóa Sa Huỳnh (1.000 TCN – 200)

Văn hóa Đồng Nai (1.000 TCN – 0)

Văn hóa Óc Eo (1 – 630)

Văn hóa Đông Sơn có mối liên hệ mật thiết với các nền văn hóa phát triển cùng thời ven biển Đông như văn hóa Sa Huỳnh (ở Trung Nam Bộ) và văn hóa Đồng Nai (ở lưu vực sông Đồng Nai). Óc Eo là một địa điểm (do Louis Mallexet, người Pháp đặt tên) nằm ở phía Nam tỉnh An Giang. Nơi này có thể đã là một hải cảng sầm uất của vương quốc Phù Nam (thế kỷ 1 – thế kỷ 7).

Văn hóa Đông Sơn là một nền văn hóa cổ, đã từng tồn tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam và Bắc Trung Bộ (Phú Thọ, Yên Bái, Hòa Bình, Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh mà trung tâm là khu vực Đền Hùng) và 3 con sông chính và lớn của đồng bằng Bắc Bộ (sông Hồng, sông Mã, sông Lam) vào thời kỳ đồ đồng và đồ sắt sớm. Cũng tìm thấy nền văn hóa này ở các vùng lân cận (Vân Nam, Quảng Tây, Hải Nam, Lào và Thái Lan). Nền văn hóa này được đặt tên theo làng ĐÔNG SƠN (TP. Thanh Hóa, ven sông Mã) – là nơi đã phát hiện lần đầu tiên một cách ngẫu nhiên một số đồ đồng do một người câu cá tên là Nguyễn Văn Lắm vào năm 1924. Tiếp đó là những cuộc khai quật của một viên thuế quan Pháp yêu khảo cổ tên là L.PAIJOT mà 10 năm sau đó, năm 1934, R. Heine Feldem định danh là “Văn hóa Đông Sơn”, một nền văn hóa rực rỡ mà nhà nước văn minh đầu tiên của người Việt (nhà nước Văn Lang của các vua Hùng, nối tiếp là nhà nước Âu Lạc của An Dương Vương) đã phát triển trước khi bị ảnh hưởng của nền văn minh Hán tộc. Nền văn hóa Đông Sơn là sự phát triển liên tục tiếp sức các nền văn hóa [Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun] gọi chung là thời kỳ tiền Đông Sơn.

* Người như hiện nay (homosapiens) cổ nhất có thể đã có mặt ở Việt Nam dựa vào sự kiện đã có chứng cớ rõ rệt là di chỉ của người homosapien cổ nhất tìm thấy ở làng Mã Bá (thuộc tỉnh Quảng Đông) ngay sát biên giới miền Bắc Việt Nam và ở đảo Kalimomtran mà cách đây 4 vạn năm là một dải đất liền với Việt Nam không ngăn cách bằng biển cả. Miền Bắc Việt Nam nằm giữa 2 địa điểm Kelimantian và Mã Bá nên giả thuyết về sự hiện diện của người Homosapien cổ nhất tại Việt Nam từ 4 vạn năm trước là có bằng cớ.

* Đồ đồng Đông Sơn có kỹ thuật cao nhất vì biết pha với chì khiến hợp kim có độ dai bền đặc biệt và độ nóng chảy thấp hơn để dễ đúc hơn và dễ tạo nên các chi tiết tinh xảo sắc nét trong khi đúc. Vì vậy mà người Việt cổ sử dụng hợp kim (đồng, thiếc, chì) trong khi ở Thái Lan hay các nơi khác có thể pha chế đồng với sắt, thiếc, antimoin như Đông Sơn nhưng không có chì. Hơn nữa thành phần trong hợp kim (đồng, thiếc, chì) hay (đồng – kẽm – chì) lại thay đổi tùy theo chức năng của từng loại đồ nghề, đồ dùng hay vũ khí. Đặc trưng hợp kim đồng Đông Sơn là hàm lượng chì cao có khi đến 20%. Một số công cụ nhỏ như lưỡi câu, mũi nhọn … mang dấu vết của kỹ thuật rèn còn hầu hết các di vật đồng là sản phẩm đúc. Người ta tìm thấy hơn 30 loại khuôn đúc bằng (đất, đása thạch). Các khuôn đúc thường có hai mảnh, mặt giáp hai mảnh rất nhẵn và kín, nếu úp hai mặt rồi soi lên, không thấy chút ánh sáng nào lọt qua.

* Trống đồng Đông Sơn: Sinh hoạt văn hóa của cư dân Đông Sơn được mô tả khá phong phú trên các hoa văn rất sắc nét của trống đồng. Thật may mắn cho những trang sử được chạm khắc trên chất liệu đồng đã được lưu giữ cho đến ngày nay. Văn hóa Đông Sơn không hề có bóng dáng ngoại lai. Thời điểm văn hóa Đông Sơn phát triển rực rỡ nhất cách ngày nay hơn 2.500 năm (niên đại xác định bằng C14).

Nghệ thuật Đông Sơn với sự cảm nhận tinh tế của cư dân thời đó qua khả năng chạm khắc, tạo hình tinh tế miêu tả một đời sống ca múa nhạc phong phú trên mặt trống đồng Đông Sơn cho ta thấy những hình người thổi kèn, các vũ công đầu đội nũ lông chim trĩ, chim công (một loài chim đặc sắc phương Nam nhiệt đới), nhà sàn của cư dân vùng nhiệt đới Đông Nam Á và bộ sưu tập các loại chim cổ mà ngày nay đã tuyệt chủng.

Số lượng trống đồng Đông Sơn tìm được ở các vùng đất Việt Nam vào khoảng 140 cái, quá nửa số lượng của cả miền Đông Nam Á.

KẾT LUẬN:

Văn hóa Đông Sơn (kế thừa của các nền văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun) có các điểm chính như sau:

– Văn hóa lúa nước phát triển thực phẩm dồi dào, có dự trữ dẫn đến sự phân giai cấp trong xã hội người Việt cổ.

– Kỹ thuật đúc đồng mà đỉnh cao là trống đồng Đông Sơn.

Những dị đồng giữa văn hóa Đông Sơn và văn hóa Sa Huỳnh: là hai nền văn hóa quá khứ của người Việt và người Chiêm vô cùng đặc sắc, phong phú có ảnh hưởng lớn đến sự sống còn và thịnh suy của nền văn minh Việt Nam ngày nay. Sau đây là các điểm tương đồng và dị biệt cùng sự giao thao của hai nền văn hóa này.

1. Địa bàn cư trú: Tuy hiện nay, địa bàn cư trú của hai nền văn hóa cổ này có chung một lãnh thổ thống nhất nhưng trong quá khứ chúng vốn thuộc địa là của những quốc gia khác nhau đã từng tồn tại trong lịch sử.

Địa bàn của văn hóa Đông Sơn nằm trong lưu vực của sông Hồng, sôn Mã, sông Cả (thượng lưu của sông Lam) mà đa số là các vùng trung du và đồng bằng của người Việt cổ còn văn hóa Sa Huỳnh hiện diện dọc theo dải đất ven biển miền Trung Việt Nam ngày nay trong lưu vực các con sông ngắn và dốc với những bãi cát trắng dài ven biển như các con sông Thu Bồn, Trà Khúc… Sa Huỳnh là tên gọi một địa danh thuộc tỉnh Quảng Ngãi, nơi có bờ biển đẹp với những dải cát vàng nên có tên là SA HUỲNH. Văn hóa Sa Huỳnh được phát hiện vào năm 1909 chủ yếu ở vùng ven biển miền Trung trên các cồn cát, ven các bàu nước… Nền văn hóa Sa Huỳnh còn gọi là “VĂN HÓA CỒN – BÀU”. Trên địa bàn này đã từng tồn tại hai bộc lạc: CAU và DỪA. Bộ lạc CAU (chữ Phạn là Kramuka vams’a) cư trú ở phía Nam (Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận). Bộ lạc DỪA (chữ Phạn là Narihela amas’a) cư trú ở phía Bắc (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định). Cư dân văn hóa Sa Huỳnh là tiền chủ nhân của các quốc gia Lâm Ấp, Chăm Pa, Chiêm Thành đã từng tồn tại dọc dải đất miền Trung Việt Nam trong nhiều thế kỷ.

Tuy đều nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm nhưng nền văn hóa Đông Sơn nằm trong khu vực thời tiết bốn mùa Xuân, Hạ, Thu và Đông của khí hậu tiền lục địa còn nền văn hóa Sa Huỳnh lại có hai mùa MƯA NẮNG của khí hậu biển. Văn hóa Đông Sơn chịu ảnh hưởng của thủy văn sông nước ngọt chảy trong nội địa còn thủy văn của văn hóa Sa Huỳnh gồm các con sông nội địa ngắn, dốc là biển cả phía trước và cao nguyên đồi núi của dãy Trường Sơn phía sau ; chủ nhân của văn hóa Sa Huỳnh dựa mình vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, vươn mình ra chống chọi với sóng gió biển Đông: “dựa núi, men sông, vươn ra biển”. Đó là văn hóa của những con người lấn biển.

Tóm lại, văn hóa Đông Sơn là “Văn hóa Đồng Bằng”, “Văn hóa lục địa” còn văn hóa Sa Huỳnh là một văn hóa duyên hải “Văn hóa cồng thị”.

2. Thời gian cư trú: Hai nền văn hóa này tồn tại trong cùng một thời điểm lịch sử (nửa sau của thiên niên kỷ thứ nhất TCN đến 1 thế kỷ sau CN).

Văn hóa Đông Sơn: Từ thế kỷ thứ 7 TCN đến thế kỷ I sau CN.

Văn hóa Sa Huỳnh: Từ thế kỷ 5 TCN đến thế kỷ I sau CN.

Di chỉ văn hóa

Dấu tích của 2 nền văn hóa tìm thấy hầu hết trong lòng đất, đặc biệt nhất là những ngôi mộ cổ: MỘ THUYỀN với văn hóa Đông Sơn và MỘ CHUM với văn hóa Sa Huỳnh.

* Di chỉ Mộ Thuyền của văn hóa Dông Sơn: Các mộ được làm từ các thân cây gỗ lớn đục đẽo thành hình thuyền. Thi hài được đặt vào trong rồi chôn xuống đất ở độ sâu từ 0.5 đến 1.5m thường được phát hiện ở vùng đất phù sa, đầm lầy có nền đất không cứng. Đây là những quan tài khá lớn, chiều ngang tới 0.5m, chiều dài tới 2.3m. Trong quan tài có chứa rìu, mũi dáo, mũi lao, khuyên tai, nồi gốm, đồ gỗ, tre nứa và vải liệm.

– Di chỉ Mộ Chum – Vò của văn hóa Sa Huỳnh: Các chum vại bằng gốm coa 1m – 1.5m. Thi hài người chết được đặt ngồi hay đứng trong chum, thường tạo dáng ngồi khom như bào thai trong bụng mẹ. Đồ tùy táng gồm các khí cụ sản xuất hay chiến đấu (rìu, thuổng, dao, kiếm) và các đồ trang sức bằng thủy tinh, kim quý. Ít khi phát hiện được di cốt mà chủ yếu là tro than. Có lẽ cư dân văn hóa Sa Huỳnh có tục Hỏa táng, mà các mộ chum chỉ là mộ tượng trưng, thường được chôn trên cồn cát ven biển hay bên những bàu nước ngọt. Bên cạnh các mộ chum còn phát hiện mộ hình nồi, cao 0.3m đường kính trong 0.35m, đáy phẳng, miệng ngắn có nắp đậy. Có thể đó là mộ trẻ con.

* So sánh di chỉ văn hóa Đông Sơn với văn hóa Sa Huỳnh

Mộ chum Sa Huỳnh phát hiện được nhiều đồ trang sức bằng thủy tinh, đá quý và vàng trong khi mộ Thuyền Đông Sơn còn có các tượng người bằng đồng trong tư thế tự nhiên đặc tả cơ quan sinh dục với ước mong sinh sôi nảy nở. Bên cạnh tượng người còn có tượng cóc, chim, vịt, bồ nông.

Số lượng các quan tài hình thuyền trong một quần thể các khu mộ Đông Sơn thường rất ít trong khi ở các khu mộ Sa Huỳnh thường rất nhiều lên tới hàng chục mộ chum trong một khu vực gần nhau.

Hiện vật trong các khu mộ của cả hai nền văn hóa đều cùng có: công cụ sản xuất, vũ khí và đồ trang sức. Điều đó chứng tỏ vào thời đó đã có chiến tranh, tín ngưỡng và nghệ thuật cùng những tư duy khá cao trong cách ứng xử của người sống với người đã khuất. Đó là “từ Hiện Thực đến Biểu Tượng”. Đặc biệt cư dân văn hóa Sa Huỳnh dựa trên các đồ trang sức bằng đá quý mã não, ngọc bích…, thủy tinh và vàng cho ta thấy họ là những người có năng khiếu thẩm mỹ, khéo tay và một mỹ cảm tuyệt vời.

Kết: Trên nền tảng của nền văn hóa Sa Huỳnh, quốc gia Chiêm Thành đã sớm ra đời được hưởng nền độc lập tự chủ, phát triển trong 15 thế kỷ sau Công nguyên. Nhưng sau đó lại rơi vào vòng suy yếu diệt vọng trong việc giao thoa cạnh tranh như một thực tế phũ phàng của lịch sử.

Trong khi nền văn hóa Đông Sơn cả ngàn năm sau đó phải sống trong đêm dài Bắc thuộc, mới thoát ra thành một nước độc lập tự chủ, chủ nhân của văn minh Đại Việt, kết quả của một hợp lưu văn hóa:

(Văn hóa Đông Sơn + văn hóa Sa Huỳnh = Văn minh Việt Nam)

*Bàn thêm về Văn Hóa Ốc Eo – Phù Nam:

Châu thổ sông Cửu Long (sông Tiền, sông Hậu) với văn hóa Ốc Eo Eo (xã Vọng Khê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang) đã làm sống lại một nền văn hóa cổ đã hình thành và phát triển trên địa bàn sông Cửu Long từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VII sau Công nguyên. Đó là nền văn hóa Ốc Eo, sản phẩm vật chất của vương quốc Phù Nam nên còn gọi là nền “Văn hóa Ốc Eo – Phù Nam”. Phù Nam do chữ Fon Nam (cách phát âm của người Trung Hoa) xuất phát từ ngôn ngữ Môn-Kuer cổ: Bonam mà ngày nay đọc là phnom (núi, đồi). Trong thời kỳ hưng thịnh vương quốc này về phía về phía Đông đã kiểm soát cả vùng đất phía Nam Trung Bộ (Việt Nam) về phía Tây đến thung lũng sông Mê Nam (Thái Lan) về phía Nam đến phần phía Bắc bán đảo Mã Lai.

Sau năm 627 bị Châu Lạp (vốn là một chư hầu của Phù Nam) chiếm lấy Châu Lạp (530 – 802) coi như tiền thân của đế quốc Kmer (802 – 1432) rộng gấp 3 lần ngày nay rồi hậu Angkor (1432 – 1863) sang thời kỳ Pháp thuộc (1863 – 1953).

Sau khi giành độc lập từ năm 1954, trở thành một quốc gia tự chủ Cao Miên qua chế độ Cộng hòa Kmer (1970 – 1975), Campuchia tức Kmer đỏ (1975 – 1979), CHND Campuchia (1979 – 1993) và vương quốc Campuchia từ 1993 cho đến nay.

Trở lại thời kỳ trước, sau khi Châu Lạp đánh bại Phù Nam, trong sách Trung Quốc đã xuất hiện cái tên Thủy Châu Lạp để gọi phần lãnh thổ Phù Nam trên vùng đồi Nam Bộ thuộc về Việt Nam kể từ thế kỷ VI – 183 để phân biệt với Lục Châu Lạp, tức vùng đất gốc của Vương quốc Châu Lạp. Theo sách “Lược sử vùng đất Nam Bộ” đã khẳng định rằng Ốc Eo là một nền văn hóa có nguồn gốc bản địa mà chủ nhân của nó là cư dân Phù Nam. Nền văn hóa này phát triển trên nền tảng của văn hóa Đồng Nai, có quan hệ mật thiết với nền văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung và có giao lưu rộng rãi với nước ngoài (Trung Quốc, Ấn Độ, Tây Á và Địa Trung Hải) đặc biệt là tiếp thu những tinh hoa của nền văn minh Ấn Độ. Người Phù Nam thường buôn bán vàng bạc tơ lụa. Nhà quý tộc mặt xà rông bằng lụa the. Người nghèo thì quấn một mảnh vải thô quanh mình. Đàn bà mặc một thứ áo vải luôn qua đầu. Họ đúc nhẫn và vòng đeo tay bằng vàng, làm bát đĩa bằng ngọc. Đốn gỗ làm nhà, tường cao quanh nhà, trồng cây thốt nốt dọc bờ biển lấy lá dài để lợp nhà. Đóng thuyền dài 20m, rộng 0.8m giống hình đầu cá (mũi thuyền) và đuôi cá (lái thuyền). Nhà vua ngự trên mình voi. Đàn bà cũng cưỡi voi. Thích chơi chọi gà, không có nhà tù, không có trộm cắp. Khi có kiện cáo tranh chấp, họ rút nhẫn vàng hay trứng vào nước sôi, ai dùng tay tay lấy ra mà không bị bỏng thì được kiện. Hoặc bắt cầm ở tay một chiếc xích nung đỏ rồi đi bảy bước ai có tội thì bàn tay bị cháy bỏng, người vô tội chẳng việc gì, nhận những người kiện nhau xuống nước, người có tội thì chìm, người vô tội thì nổi.

Cư dân Phù Nam không đào giếng ở gần nhà ở. Mấy chục gia đình chung nhau xây một cái bể chứa nước để dùng. Cư dân Phù Nam da đen tóc quăn, xấu xí. Đàn ông đóng khó, đàn bà tròng cái chăn từ cổ tới chân, xỏ lỗ tai đeo bông tòng teng. Họ làm nghề nông theo lối cổ, gieo trồng một lần, gặt hái luôn trong ba năm, thích điêu khắc, chạm trổ rất khéo, biết đọc sách. Văn tự như nét chữ của dân Hồ, một sắc dân ở Trung Á dùng Ấn tự. Cảnh vật trong xứ rất đẹp.

Sử nhà Lương chép nước Phù Nam ở trong một vịnh lớn biển phía Tây, kinh đô cách biển 500 lý, có con sông lớn từ Tây Bắc chảy qua rồi đổ ra biển nên trở thành một nơi giao thương sầm uất. Phù Nam ở phía Nam quận Nhật Nam (quận Nhật Nam từ đèo ngang tỉnh Quảng Bình tới Quảng Ngãi, Bình Định) và phía Tây Nam là nước Lâm Ấp (Lâm Ấp là tiền thân của Chiêm Thành). Xin nhắc qua về lịch sử Chăm Pa theo thứ tự thời gian là các quốc gia LÂM ẤP (192 – 749), Hoàn Vương (757 – 859), Chiêm Thành (875 – 1471), Pamduroga – Chăm Pa (1471 – 1693) và Thuận Thành trấn (1692 – 1832). Kinh đô của các quốc gia này cứ lùi dần về phía Nam cho đến khi bị diệt vong. Từ 1694 đến 1832 các chúa Chăm Pa (trấn vương Thuận Thành) nằm dưới sự đô hộ của các chúa Nguyễn, vua nhà Tây Sơn và vua nhà Nguyễn cho đến khi bị sát nhập hoàn toàn vào thành phần của Trung Bộ Việt Nam.

Từ nền văn hóa Đông Sơn (đầu tiên phát hiện tại Thanh Hóa) cùng thời gian với nền văn hóa Sa Huỳnh ảnh hưởng tới các vương quốc Chăm Pa (Lâm Ấp, Chiêm Thành) và cũng cùng thời gian với văn hóa Đồng Nai rồi tiếp theo là văn hóa Ốc Eo của vương quốc Phù Nam sau này.

(Sau này) thuộc Châu Lạp (Cao Miên). Trong lịch sử bang giao giữa Việt Nam với Chiêm Thành và Châu Lạp có ba vị công chúa có công trong việc mở mang bờ cõi cho nước Việt là Huyền Trân Công Chúa, Ngọc Vạn công chúa và Ngọc Khoa công chúa.

– Công chúa Huyền Trân – Hoàng Hậu Chiêm Thành

Năm 1301 Thượng Hoàng Trần Nhân Tông sang du ngoạn Chiêm Thành và hứa gả con gái là công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành là Chế Mân.

Năm 1306 Chế Mân xin dâng hai Châu Ô và Châu Rí (lý) làm sinh lễ. Vua Trần Anh Tông quyết định gả em gái là Huyền Trân công chúa cho Chế Mân. Khi về Chiêm Thành Huyền Trân công chúa được phong Hoàng Hậu. Sang năm sau (1307) vua Trần Anh Tông nhận Châu Ô và Châu Lý, đổi tên lại thành Thuận Châu và Hóa Châu (Quảng Trị, Thừa Thiên). Lấy Huyền Trân công chúa chưa được một năm thì Chế Mân mất. Theo tục Chiêm, các hậu phải hỏa thiêu chết theo, Trần Anh Tông sai Trần Khắc Chung (Đỗ Khắc Trung) và Đặng Văn sang Chiêm Thành cứu Huyền Trân về.

– Công chúa Ngọc Vạn – Hoàng Hậu Châu Lạp (Cao Miên)

Chúa Nguyễn Phúc Nguyên, tức chúa Sãi (1563 – 1635), là con thứ 6 của chúa Nguyễn Hoàng, là người đầu tiên mang họ Nguyễn Phúc, lên kế nghiệp chúa được 22 năm (1613 – 1635), là người rất khôn khéo, biết sử dụng nhân tài giúp nước như Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến. Chúa Sãi có 11 người con trai và 4 con gái:

– Con gái trưởng và út lấy hai phó tướng của chúa Sãi.

– Con gái thứ hai là công chúa Ngọc Vạn lấy vua Châu Lạp (Cao Miên)

– Con gái thứ ba là công chúa Ngọc Khoa lấy vua Chiêm Thành.

Thời bấy giờ quân Xiêm thường hay xâm lấn nước Châu Lạp (tức là Cao Miên) nên vua Châu Lạp Cheg Chatthe II xin cưới một con gái của Chúa Sãi làm hoàng hậu để được chúa Nguyễn ủng hộ.

Bà Hoàng hậu rất xinh đẹp và có nhiều tính tốt, được vua Cao Miên ưng quý vô cùng. Bà đã góp nhiều ý kiến hữu ích vào việc trị nước. Ngược lại vua Cao Miên đồng ý khi bà xin cho nhiều người Việt Nam vào giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình cũng như cho người Việt Nam lập hãng xưởng và buôn bán gần kinh đô. Chúa Nguyễn thường giúp quân Châu Lạp chống lại những cuộc xâm lăng của quân Xiêm và đồng thời yêu cầu cho dân Việt Nam đến lập nghiệp làm ăn. Người Việt Nam đã đến làm ăn ở các vùng Gia Định, Biên Hòa, Bà Rịa ngày càng thêm đông. Người Miên không muốn sống chung với người khác văn hóa và mạnh hơn nên hễ người Việt đến thì họ lánh đi nơi khác. Lịch sử Việt Nam không ghi chép vì thành kiến với việc công chúa Việt phải “để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo” nhưng sử Cao Miên và các sử gia Tây Phương đề cập nhiều đến việc công chúa Ngọc Vạn trở thành Hoàng Hậu Somadach của nước Châu Lạp (Cao Miên).

– Công chúa Ngọc Khoa – Hoàng Hậu Chiêm Thành

Cũng vì lý do trên, chính sử Việt Nam không ghi chép về chuyện này, chỉ viết là “khuyết sử” nhiều tài liệu của Chiêm Thành và các tác giả độc lập có chép lại việc công chúa Ngọc Khoa lấy vua Chiêm Thành Po Romé (1627 – 1651). Trong bài ca Chiêm Thành có câu: “Vua Po Romé có ba vợ: hai người giống da sậm và một người Việt Nam. Cả ba đều ghen nhau, cãi vã ồn ào trong cung điện nhà vua”.

Cổ tích Chiêm Thành Po Romé có ghi: “Po Romé sinh được một công chúa gả cho ông hoàng Phik Chek. Ông hoàng này kết tình bang giao với Việt Nam cho vua Việt Nam biết tính háo sắc của Po Romé. Vua ở Huế bèn chọn công chúa đẹp nhất giả làm người đi buôn vào đất Chiêm Thành. Danh tiếng cô nàng xinh đẹp đến tai Po Romé. Vua cho vời đến, vừa trông thấy mặt nàng là say mê, rước về làm vợ tức là nàng Bía Út, hoàng hậu Út.

Từ cuối thế kỷ 16, người Chiêm Thành thường buôn bán với người Bồ Đào Nha ở Ma Cao (thuộc địa của Bồ Đào Nha gồm Hồng Kông) tại hải cảng Cam Ranh và Phan Rang. Sự liên kết này khiến chúa Sãi lo ngại người Chiêm sẽ liên kết với Bồ Đào Nha chống lại mình. Vậy đây có thể là một lý do đã dẫn đến cuộc hôn nhân giữa Ngọc Khoa với vua Ro Pomé để giúp chúa Nguyễn Phúc Nguyên có được sự hòa hảo với Chiêm Thành.

Sử sách không ghi lại là bà Ngọc Khoa đã làm những gì ở triều đình Chiêm Thành, chỉ biết rằng truyền thuyết cũng như tục ngữ Chiêm Thành đều có ý trách cứ, cho rằng bà Ngọc Khoa đã làm cho vua Po Romé trở nên mê muội, chặt bỏ cây “kaik”, biểu tượng thiêng liêng của vương quốc Chiêm Thành khiến cho nước Chiêm mau sụp đổ.

Ngoài ra, người Chăm còn dùng tên bà Bia Út trong một thành ngữ để mỉa mai những phụ nữ béo mập: “béo như bà Út (limuk you Bia Út)”.

KẾT:

Những truyền thuyết trên đây đã phản ánh một phần sự thật, đó là nước Chiêm Thành một lần nữa suy yếu hẳn đi sau cuộc hôn nhân Việt Chiêm năm 1631, nhờ đó người Việt nhanh chóng vượt qua Chiêm Thành, xuống đồng bằng sông Cửu Long. Như thế hai công chúa Ngọc Khoa và Ngọc Vạn tuy không chính thức đem lại đất đai như công chúa Huyền Trân nhưng cả hai đều đã mở đường cho cuộc Nam Tiến của các chúa Nguyễn.

Thi sĩ Á Nam Trần Tuấn Khải đã có thơ ca ngợi Ngọc Khoa, Ngọc Vạn như sau :

Hồng Lạc ta đâu hiếm nữ tài

Nghìn xưa Trương Triện đã từng oai

Noi gương Khoa – Vạn hai công chúa

Một sớm ra đi mở nước non

Cũng vì hạnh phúc của muôn dân

Vì nước vì nhà xá quản thân

Lá ngọc cành vàng coi nhẹ bổng

Hiếu Trung cho trọn đủ mười phân

Những tiếc riêng cho phận nữ hài

Đem thân giúp nước há nhường trai

Vắng trang sứ, nào ai biết

Người đã hy sinh vì giống nòi

Tới nay kể đã mấy tinh sương

Mượn bút quan hoài để biển dương

Bà Rịa, Phan Bang ngàn văn dặm

Công người rạng rỡ chốn quê hương.

Tân Việt Điển cũng có thơ rằng:

Ngọc Vạn, Ngọc Khoa giữ một niềm

Vì ai tô điểm nước non tiên

Chị lo giữ vẹn tình Miên – Việt

Em nhớ làm tròn nghĩa Việt – Chiêm

Bà Rịa, Biên Hòa thêm vạn dặm

Phan Rang, Phan Rí mở hai miền

Non sông gấp mấy lần Ô Lý

Nam tiến công người chẳng dám quên.

Chú thích:

– Tuy nhiên mãi đến khi Nguyễn Phúc tộc thế phả được xuất bản tại Huế (1995) thì tiểu truyện của hai công chúa Ngọc Vạn và Ngọc Khoa mới được xác định rõ ràng.

“Về cuộc Nam Tiến, Ngài (Chúa Sãi) đã dùng chính sách hòa bình, thân thiện với Chiêm Thành và Cao Miên. Năm 1620 Chúa gả công nữ Ngọc Vạn cho vua Cao Miên là Chư Chetta II (1618 – 1686) nên dân chúng vào làm ăn sinh sống ở vùng đất Thủy Châu Lạp của Cao Miên được thuận lợi. Năm 1631, Chúa lại gả công nữ Ngọc Khoa cho vua Chiêm Thành Po Romé, nhờ đó mà có sự hòa hiếu Miên Việt” (con gái vua là Công chúa, con gái Chúa chỉ được gọi là Công nữ)

E-THANH HÓA ĐẤT CỦA VUA CHÚA

Từ Bà Triệu nhà Ngô (với Ngô Quyền), Nhà Tiền Lê (với Lê Hoàn), nhà Hồ (với Hồ Quý Ly), nhà Hậu Lê (với Lê Lợi) dài hơn 400 năm cho đến 12 đời chúa Trịnh, 9 đời chúa Nguyễn và 13 đời vua Nguyễn Gia Long tất cả đều xuất phát từ Thanh Hóa.

Trong Dư địa chí – lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú viết “Thanh Hóa mạch núi cao vót, sông lớn lượn quanh, biển ở phía đông, Ai Lao sát phía Tây, Bắc giáp Trấn Sơn nam, Nam giáo đạo Nghệ An, núi sông rất đẹp và nhiều nơi xung yếu. Các triều về trước vẫn gọi là một trấn rất quan trọng. Đến Lê là nơi căn bản. Vẻ non sông tươi tốt chung đúc nên sinh ra nhiều bậc vương tướng, khí tinh hoa tụ họp lại xảy ra nhiều văn nho. Đến sản vật quý cũng khác mọi nơi. Bởi vì đất thượng thì người giỏi nên nảy sinh ra những bậc phi thường, vương khí chung đúc nên xứng đáng được đứng đầu cả nước.

I. BÀ TRIỆU

Bà Triệu tên là Triệu Thị Trinh quê ở huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, nổi dậy đánh Ngô vào thế kỷ thứ II nổi tiếng võ nghệ cao cường Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim viết:

“Bà là người quê ở huyện Yên Định (Thanh Hóa), cha mẹ mất sớm, ở với anh cả Triệu Quốc Đạt. Năm 248 căm thù sự tàn bạo của quan lại nhà Ngô, Triệu Quốc Đạt khởi binh đánh chiếm quân Cửu Chân. Bà Triệu ra sức giúp anh, sau được Triệu Quốc Đạt và quân sĩ tôn lên làm thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa. Khi xông trận Bà mặc áo giáp vàng, cưỡi voi, xưng danh là Nhụy Kiếm tướng quân. Thứ sử Giao Châu là tục dân mang quân đi đánh. Bà đem quân về Bồ Điền (nay là Phú Điền, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa) thì tuẫn tiết, lúc bấy giờ mới có 23 tuổi.

Nhân dân Phú Điền còn kể rằng Bà Triệu được 3 anh em họ Lý người quê Phú Điền giúp sức, xây thành đắp lũy lấy núi Tùng làm Sở chỉ huy căn cứ. Trước đình Đông Ngô phái tướng Lục Dân mang 8000 quân sang đàn áp. Sau khi dẹp xong các cuộc nổi dậy ở Giao Chỉ, Lục Dân vội tiến quân vào quận Cửu Chân (Thanh Hóa). Tại căn cứ Bồ Điền (Phú Điền) nghĩa quân Bà Triệu đã đánh địch trên 30 trận trong thời gian hơn 2 tháng, tiêu hao không ít sinh lực địch. Lục Dân điều thêm quân tăng viện bao vây căn cứ. Do chênh lệch quá lớn về lực lượng, nghĩa quân lại phải chiến đấu với một đội quân nhà nghề, ngày 26 tháng 2 năm Mậu Thìn (Tháng 3 năm 248) Bà Triệu cùng 3 vị tướng họ Lý đã anh dũng hy sinh tại núi Tùng trong trận chiến cuối cùng ác liệt. Hiện nay dưới chân núi Tùng còn 3 tấm bia đá và lăng mộ do nhân dân xây để tưởng nhớ ba vị tướng họ Lý. Lăng Bà được xây trên đỉnh núi Tùng, đối diện với ngôi đền thờ Bà tọa lạc lưng sườn núi Gai ngay sát quốc lộ I con đường xe lửa Bắc Nam (thuộc Phú Điền huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa) cách thành phố Thanh Hóa 3 km về phía Bắc… Lăng và đền Bà trong khung cảnh núi đồi, cây xanh bao bọc nằm trong thung lũng gần núi Tam Điệp ở phía Bắc và sông Mã ở phía Nam.

Ba trăm năm sau, Lý Nam Đế (544-548) tiến quân vào trừng trị Lâm Ấp quấy rối bờ cõi Phương Nam, đã đến đền thờ Bà Triệu khẩn cầu Bà phù hộ khi chiến thắng trở về, Lý Nam Đế lại dừng chân ở đền thờ Bà để tạ ơn và tôn hiệu Bà là “Bật Chính Anh Kiệt Hùng Tài Trinh Nhất Phu Nhân”. Nhân dân biết ơn ngài nữ anh hùng cứu nước, gọi Bà với những cái tên như U, Mẹ, vua Bà, Lệ Hải Bà Vương.

“Muốn coi lên núi mà coi

Coi bà Triệu tướng cỡi voi bành vàng ?’’

(Ca dao)

“Đầu voi phất ngọn cờ vàng

Sơn thôn mấy cõi chiến tràng xông pha”

(Đại Nam Quốc sử diễn ca)

‘‘Cửu Chân có một nữ nhi

Lận đận qua kỳ, tuổi ngoại hai mươi

Chồng con chưa có được nơi

Cao trong tám thước, rộng ngoài mười gang.

Uy nghi diện mạo đoan trang

Đi đường chớp thét, đồng (tiếng) dường sấm vang

Mặt như vừng nguyệt mới lên

Mắt sáng như đèn, má tựa lan gioi

Vú dài ba thước lôi thôi

Ngồi chấm đến đùi, cúi rủ đến chân

Sức quảy nổi vạc nghìn cân

Chẳng sờn Mã Viện, hơn phân Lý Thù,

Nàng chít hai vú, lên voi

Trận ra, ai kẻ dám coi đâu là

Tay cầm hoàng việt, kim qua

Mình mặc áo giáp, quang hoa dậy dàng?

Ầm ầm thần sắc ai đang

Gió đưa uy ngựa, sấm vang trống người

Lục Dận mất vía, binh lui

Nàng xông voi sấn, thác tươi giữa đường.’’

(Trích Thiên Nam ngữ lục)

II. DƯƠNG ĐÌNH NGHỆ (?-937)

Dương Đình Nghệ tuy không xưng là vua xong là Tiết Độ Sứ, đứng đầu là Giao Châu quận mở ra nền tự chủ tiếp sau họ Khúc cũng kể là có công dựng nước, giữ nước sánh ngang với các vua.

Dương Đình Nghệ: có sách chép là Dương Diên Nghệ (?-937) là người khởi binh đánh đuổi quân Nam Hán giải phóng thành Đại La, giành quyền tự chủ cho đất nước Việt được 6 năm.

Dương Đình Nghệ vốn là một hào trưởng, người làng Giàng, nay thuộc xã Thiệu Dương, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Thời Khúc Hạo cầm quyền (907 – 917), Dương Đình Nghệ từng là một trong những bộ tướng của họ Khúc. Năm 917, Khúc Hạo mất, con là Khúc Thừa Mỹ lên nối nghiệp cha. Dương Đình Nghệ tiếp tục làm bộ tướng cho Khúc Thừa Mỹ (917 – 930). Năm 930 Nam Hán – một tiểu vương quốc do họ Lưu lập nên đã đưa quân sang xâm lược nước ta, bắt Tiết độ sứ Khúc Thừa Mỹ  (con Khúc Hạo), đánh chiếm Đại La, sai Lý Tiến làm thứ sử.

Sự nghiệp

Dương Đình Nghệ tập hợp hơn 3.000 “con nuôi” làm vây cánh tại lò võ ở làng Giàng (Ràng), Tư Phố (nay là đất các xã Thiệu Dương, Thiệu Khánh, Huyện Thiệu Hóa), dùng Ngô Quyền, Đinh Công Trứ (thân sinh của Đinh Bộ Lĩnh), Kiều Công Tiễn… làm nha tướng.

Để lung lạc ông, vua Hán là Lưu Cung sai người phong ông làm Thứ sử Ái Châu.

Nhưng chẳng bao lâu sau, tháng 3 năm 931, Dương Đình Nghệ ra quân từ Ái Châu, đánh đuổi thứ sử Lý Tiến của nước Nam Hán. Lý Tiến bỏ chạy, Dương Đình Nghệ giải phóng thành Đại La. Lưu Cung sai Trần Bảo mang quân sang tiếp viện. Dương Đình Nghệ chủ động mở cửa thành nghênh đón địch, tiêu diệt viện binh Nam Hán, chém chết Trần Bảo. Sau đó ông tự lập làm Tiết độ sứ.

Tháng 4 năm 937, ông bị Kiều Công Tiễn, hào trưởng Phong Châu, một tướng dưới triều quyền ông, giết hại để cướp quyền.

Con trai ông là Dương Tam Kha, sau này tranh đoạt ngôi vị với con của Ngô Quyền, con rể ông. Một vài tài liệu còn ghi cháu nội ông, con gái của Dương Tam Kha là Dương Vân Nga chính là hoàng hậu họ Dương nổi tiếng – người đã mời Lê Hoàn lên ngôi thay nhà Đinh.

Không rõ Dương Đình Nghệ bao nhiêu tuổi, ông hoạt động từ thời Khúc Hạo tới năm 937, trong khoảng hơn 20 năm. Hiện nay ở quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội và thành phố Thanh Hóa tỉnh Thanh Hóa có phố mang tên ông.

Bình luận

Việc đánh đuổi quân Nam Hán của Đương Đình Nghệ là trận đọ sức đầu tiên bằng vũ lực giữa Việt Nam và Trung hoa, dù chỉ là một nước cát cứ, kể từ khi tách ra khỏi tay người phương Bắc dưới thời họ Khúc. Quan trọng hơn, đó là việc giành lại đất đai đã mất từ tay người Bắc chứ không phải “phòng thủ, kháng chiến” trên cơ sở đất đã có để chống người Bắc sang.

Bừng bừng bắc tiến, đánh bại liên tiếp hai đạo quân Nam Hán, hạ thành, giết tướng cứu viện; đánh trận đối đầu thắng ngay không cần dùng chiến thuật du kích, vu hồi, trường kỳ… Dương Đình Nghệ đã chứng tỏ ông là một vị tướng thiện chiến và huấn luyện được một đạo quân tinh nhuệ dù không thật hùng hậu.

Dở dĩ Dương Đình Nghệ làm được điều đó vì ông đã nêu cao tinh thần đoàn kết nội bộ, tận tâm thương yêu tướng sĩ khiến họ đồng lòng hết sức đánh giặc và đã thu được thắng lợi nhanh chóng. Có ý kiến cho rằng việc ông nhận quá nhiều con nuôi là bắt chước theo lối của người phương Bắc thời Ngũ Quý lúc bấy giờ, để gây thành họa phản bội của Kiều Công Tiễn. Tuy nhiên nhận xét như vậy có phần phiến diện.

Việt Nam, với tên gọi “Tĩnh Hải quân” lúc đó, dù đã thoát khỏi tay người Bắc, nhưng dưới thời họ Khúc trước đây và cả nhà Ngô sau này, vẫn có nhiều biểu hiện của sự chia rẽ giữa các địa phương, chưa thần phục chính quyền trung ương (điển hình là các cuộc làm loạn của Chu Thái, ở thôn Đường, Nguyễn thời Ngô). Việc làm của Dương Đình Nghệ để cố kết lòng người, tập hợp những hào kiện giỏi nhất lúc đó từ các địa phương (Ngô Quyền, Dương Công Trứ, Kiều Công Tiễn…) là cần thiết. Ông đã lấy tình cha con để ràng buộc họ. Việc làm của ông không thể coi là “thái quá” và sai lầm, bởi vì trong 3.000 người ông nhận làm con nuôi, cũng chỉ có một mình Kiều Công Tiễn phản bội ông, và theo một số nguồn tài liệu, ngay cả trong Kiều tộc cũng nhiều người phản đối hành động đó của Kiều Công Tiễn (xem chi tiết bài Kiều Công Tiễn). Các nhân tài mà ông đào tạo, trọng dụng như Ngô Quyền, Dương Tam Kha, Đinh Công Trứ về sau đều trở thành những trụ cột trong chính trường Việt Nam thế kỷ 10.

Chiến thắng quân Nam Hán của ông dù không được đánh giá cao như trận Bạch Đằng của người con rể Ngô Quyền sau này nhưng nó có tác động cổ vũ tinh thần rất lớn cho người Nam và nó đã chỉ ra cho thế hệ sau ông thấy rằng: dù đã bị Bắc thuộc 1.000 năm, người Nam vẫn hoàn toàn đủ sức đứng vững và đương đầu được với các cuộc tấn công của người Bắc để tách riêng thành một cõi độc lập.

III. NGÔ QUYỀN (898-944)

Ngô Quyền con rể của Dương tiết độ sứ, tuy sinh ở đường Lâm Sơn Tây, song gốc họ Ngô ở Thanh Hóa từ các thời các ông tổ khai sáng là Ngô Nhật Đại, Ngô Thừa Dụ… Ngô Mân là cha của Ngô Quyền từ đây ra làm quan ở Sơn Tây và sinh ra ông: chắc rằng trong tuổi thiếu niên, cậu bé Ngô Quyền có nhiều quan hệ với quê cha, lớn lên tu nghiệp với lò võ Dương Xá và được Dương Đình Nghệ tin cậy đểvề sau gả con gái cho và được Dương Tiết Độ sứ trao giữ Ái Châu khi ông kéo quân ra Bắc đuổi quân giặc Nam Hán. Công dựng nước và giữ nước của Ngô Quyền là tiếp tục giữ vững ngọn cờ tự chủ từ tay Dương Đình Nghệ với chiến thắng Bạch Đằng nổi tiếng:

Đại Việt sử ký toàn thư (ngoại kỷ, quyển 5) mô tả: “Ngô Quyền có dung mạo khác thường, lưng có ba nốt ruồi. Các thầy tướng cho là lạ, rằng có thể làm chủ được một phương, nhân đó (Ngô Mân) mới đặt cho vua tên là Quyền. Khi vua lớn lên, tướng mạo khôi ngô, mắt sáng như chớp, dáng đi thong thả như bố, trí dũng hơn người, sức có thể nâng được vạc”.

Lúc trưởng thành, Ngô Quyền có võ nghệ tinh thông và có chí lớn. Ông đã từng tham gia xây dựng chính quyền họ Khúc ở Đại La, đã từng theo Dương Đình Nghệ đánh đuổi quân Nam Hán, giải phóng thành Đại La năm 931 (tên đầu tiên của thành bây giờ là Tống Bình, Cao Biền đổi lại là Đại La, Lý Thái Tổ đổi tên lại là Thăng Long).

Dương Đình Nghệ lên cầm quyền, vẫn tự xưng là Tiết Độ sứ, đóng tại thành Đại La. Ông phong cho Đinh Công Trứ (cha Đinh Bộ Lĩnh) chức thứ sử Hoan Châu, gả con gái là Dương Thị Như Ngọc cho Ngô Quyền và giao coi giữ Ái Châu. Chính quyền họ Dương tồn tại bảy năm (từ năm 931 đến tháng 3 năm Đinh Dậu 937) thì Dương Đình Nghệ bị kẻ phản bội là Kiều Công Tiễn (một viên tướng dưới quyền) sát hại để cướp đoạt chức Tiết độ sứ.

Chiến thắng Bạch Đằng Lịch sử

Vào những ngày mùa đông năm Mậu Tuất (938), Ngô Quyền từ Ái châu đem quân ra hỏi tội Kiều Công Tiễn.

Theo thần tích, truyền thuyết dân gian và gia đình họ Dương ở làng Ràng (xã Dương Xá, huyện Thiệu Yên, tỉnh Thanh Hóa) thì dưới sự chỉ đạo của Ngô Quyền, Dương Tam Kha (con Dương Đình Nghệ) và Đỗ Cảnh Thạc đã cầm quân tiến công thành Đại La, giết Kiều Công Tiễn.

Dẹp xong nội loạn, Ngô Quyền vào thành họp bàn với các tướng lĩnh về kế hoạch chống ngoại xâm. Thành Đại La trở thành trung tâm đầu não của cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán lần thứ hai. Hào kiệt bốn phương đem quân hội tụ về Đại La dưới cờ đại nghĩa của người anh hùng dân tộc Ngô Quyền.

Tại đây, một kế hoạch chiến đấu mưu trí và chắc thắng đã được Ngô Quyền và các tướng lĩnh bàn định và thông qua. Trong một cuộc họp bàn, với lòng tự tin và làm chủ tình thế, Ngô Quyền đề ra ý kiến như sau:

“Hoằng Thao là một đứa trẻ, lại đem quân từ xa đến, quân lính mệt mỏi, lại nghe Kiều Công Tiễn đã chết, không có người làm nội ứng đã mất vía trước rồi. Quân ta sức còn mạnh, địch với quân mỏi mệt tất phá được. Song giặc có lợi về thuyền chiến, nếu ta không phòng bị trước thì chuyện được thua chưa thể biết được. Nhưng ta sẽ cho người đem theo cọc lớn đóng ngầm ở cửa biển trước, vạt đầu nhọn bịt sắt, thuyền của chúng nhân khi nước thuỷ triều lên tiến vào bên trong hàng cọc, bây giờ ta sẽ dễ bề chế ngự, không kế gì hay hơn kế ấy cả”.

Vùng cửa sông và hạ lưu sông Bạch Đằng được Ngô Quyền chọn làm điểm quyết chiến.

Sông Bạch Đằng là cửa ngõ phía đông bắc và là giao thông quan trọng từ biển Đông vào đất Việt. Theo cửa Nam Triệu vào Bạch Đằng, địch có thể ngược lên và tiến đến thành Cổ Loa hoặc thành Đại La hoàn toàn bằng đường sông.

Sông Bạch Đằng chảy qua một vùng núi non hiểm trở, có nhiều nhánh sông phụ đổ vào. Hạ lưu sông thấp, chịu ảnh hưởng của nước triều khá mạnh. Triều lên từ nửa đêm về sáng, cửa biển rộng mênh mông, nước trải rộng ra hai bên bờ đến hơn 2km. Đến gần trưa thì triều rút mạnh, chảy rất nhanh.

Bấy giờ vào cuối năm 938. Trời rét, gió đông bắc tràn về, mưa dầm lê thê kéo dài hàng nửa tháng. Chính trong những ngày ấy, theo kế hoạch của Ngô Quyền, quân và dân ta lặn lội mưa rét, ngày đêm vận chuyển gỗ, dựng cọc.

Hàng nghìn cây gỗ lim, sến, đầu được vạt nhọn và bịt sắt được đem về đây cắm xuống hai bên bờ sông (quãng cửa Nam Triệu hiện nay) thành những hàng dài chắc chắn, đầu cọc hướng chếch về phía nguồn.

Khi triều rút các hàng cọc mới phơi ra, còn lúc sáng sớm nước mênh mông thì thuyền lớn qua lại hai bên bờ vẫn dễ dàng. Trận địa cọc được tiến hành rất gấp rút và chỉ trong khoảng thời gian hơn một tháng là mọi việc đã hoàn thành.

Theo dự kiến của Ngô Quyền, trận đánh sẽ diễn ra ở phía trong bãi cọc. Tướng Dương Tam Kha (con của Dương Đình Nghệ) chỉ huy đội quân bên tả ngạn, Ngô Xương Ngập (con trai cả của Ngô Quyền) và Đỗ Cảnh Thạc chỉ huy đội quân bộ bên hữu ngạn, mai phục sẵn, phối hợp với thủy quân đánh tạt sườn đội hình quân địch và sẵn sàng diệt số quân địch chạy lên bờ.

Từ cửa biên ngược lên phía trên không xa là một đạo thủy quân mạnh phục sẵn do chính Ngô Quyền chỉ huy chặn ngay đường tiến lên của địch, chờ khi nước xuống sẽ xuôi dòng đánh lại đội binh thuyền địch.

Trận địa bố trí vừa xong thì binh thuyền Nam Hán từ Quảng Đông kéo sang. Cuộc chiến đấu đã diễn ra như sự trù liệu và dự tính của Ngô Quyền đã vạch ra.

Cả đoàn binh thuyền lớn của Hoằng Thao vừa vượt biển vào cửa sông Bạch Đằng đã bị dồn dắt vào thế trận bố trí sẵn của ta, và bị tiêu diệt trong thời gian ngắn. Toàn bộ chiến thuyền của địch bị nhấn chìm xuống biển, hầu hết quân địch bị tiêu diệt, chủ soái Lưu Hoằng Thao bị giết tại trận.

Chiến thắng Bạch Đằng diễn ra nhanh chóng khiến vua Nam Hán là Lưu Cung đang đóng quân ở sát biên giới mà không kịp tiếp ứng cho con. Sử chép: “Vua Hán thương khóc, thu nhặt quân còn sót mà rút lui’’.

Chiến thắng Bạch Đằng thời Ngô Quyền là một bước phát triển rực rỡ của nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Trong điều kiện lực lượng ta địch chênh lệch không nhiều, Ngô Quyền đã lợi dụng được cả thời tiết, địa hình có lợi cho ta, tạo lên thế mạnh giáng cho quân xâm lược vừa mới thò mặt tới một đòn trời giáng, giành thắng lợi quyết định bằng một trận mai phục thủy chiến trên sông.

Ca ngợi người anh hùng dân tộc Ngô Quyền, sử gia Lê Văn Hưu viết: “Tiền Ngô Vương có thể lấy quân mới hợp của đất Việt ta mà phá được trăm vạn quân của Lưu Hoằng Thao, mở nước xưng vương, làm cho người phương Bắc không dám lại sang nữa. Có thể nói một cơn giận mà yên dân được, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy”.

Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 là trận trung kết toàn thắng của dân tộc ta trên con đường đấu tranh Bắc thuộc, giành lại độc lập hoàn toàn.

Chiến công hiển hách đó đập tan mưu đồ xâm lược của Nam Hán, tạo cơ sở để Ngô Quyền phát triển chính quyền tự chủ của họ Khúc, họ Dương thành chính quyền độc lập, chấm dứt hoàn toàn thời Bắc thuộc kéo dài trên nghìn năm.

Ngô Vương Quyền và kinh đô Cổ Loa

Mùa xuân năm Kỷ Hợi (939), Ngô Quyền quyết định bỏ chức Tiết độ sứ, tự xưng vương, thành lập một vương quốc độc lập đàng hoàng. Chọn kinh đô cũ của Âu Lạc là Cổ Loa làm kinh đô nước Việt, Ngô Vương Quyền tỏ ý nối tiếp truyền thống của các vua Hùng, vua Thục.

Sử gia Lê Văn Hưu đời Trần nêu cao ý tưởng này của Ngô Vương Quyền khi viết với Ngô Vương “chính thống của nước Việt ta đã nối lại được”.

Tại kinh đô Cổ Loa, Ngô Vương bước đầu tổ chức một triều chính độc lập: “đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục, có thể thấy được quy mô của đế vương”.

Bà vợ họ Dương, con gái Dương Đình Nghệ, được lập làm hoàng hậu. Triều đình của Ngô Vương tuy còn đơn sơ, nhưng được xây dựng theo thể chế của một vương triều hoàn toàn độc lập.

Ngô Vương đóng đô ở Cổ Loa được 6 năm (939 944). Trong sáu năm ngắn ngủi đó chắc chắn triều Ngô vẫn chưa xây dựng được thêm gì nhiều ở Loa thành xưa. Khảo cổ học chỉ phát hiện được những đoạn thành sửa đắp vào thời Ngô Quyền trên nền tảng hoang phế thành cũ của Thục An Dương Vương.

Truyền thuyết dân gian vùng đất Cổ Loa kể lại rằng, Ngô Vương Quyền khi đóng đô ở đây đã cho trồng cây đa ở trước am thờ Mỵ Châu và cho đào cái giếng nước ở trên của đền. Người dân vùng này còn truyền tụng những câu cửa miệng: “Cây đa nghìn tuổi”, “giếng nước nhà Ngô”.

Với việc Ngô Vương đóng đô ở Cổ Loa, vùng đất Hà Nội lại khôi phục vị trí trung tâm chính trị của đất nước trong buổi đầu phục hưng độc lập sau hơn nghìn năm Bắc thuộc.

Ngô Quyền mất năm 944, thọ 47 tuổi. Tại xã Đường Lâm (thị xã Sơn Tây, Hà Tây) có đình thờ và lăng Ngô Quyền. Trong nhà truyền thống xã Đường Lâm còn lưu giữ nhiều hiện vật quý như rìu đá, di chỉ đồ đá mới, cọc gỗ Bạch Đằng; gần đó có những rộc sâu, tương truyền xưa kia là hồ sen, nơi Ngô Quyền thường cùng bạn bè thuở nhỏ chơi trò thủy chiến.

Tại thành phố Hải Phòng, bên cạnh dòng sông Bạch Đằng lịch sử, cũng có những ngôi đền và đình thờ Ngô Quyền. Ở đình Hàng Kênh – ngôi đình tráng lệ ở Hải Phòng xây dựng năm 1718 – có câu đối lớn với dòng chữ nho:

“Vương nghiệp khởi Loa thành, trường biên thanh sử.

Chiến công lưu Đằng thủy, cộng mục hồng ân.”

Nghĩa là: “Vương nghiệp bắt đầu từ Loa thành, ghi mãi trong sử sách. Chiến công lưu lại trên sông Đằng, cùng chứng kiến ơn đức rộng lớn.”

IV. LÊ HOÀN, LÊ ĐẠI HÀNH HOÀNG ĐẾ (941-1005)

Lê Hoàn sinh năm 941 ở Xuân Lập, Thọ Xuân, Thanh Hoá trong một gia đình nghèo khổ “bố dỡ đó, mẹ xó chùa”. Cha là Lê Mịch, mẹ là Đặng Thị Sen đều lần lượt qua đời khi Lê Hoàn còn nhỏ tuổi. Bởi vậy, cũng ngay từ bé, Lê Hoàn phải làm con nuôi cho một vị quan nhỏ, người cùng họ. Lớn lên, Lê Hoàn đi theo Nam Việt Vương Đinh Liễn. Dù chỉ là lính thường nhưng trí dũng khác thường tính tình phóng khoáng nên được cha con Đinh Bộ Lĩnh yêu mến. Trong công cuộc đánh dẹp các sứ quân, Lê Hoàn tỏ rõ là người có tài nên được Đinh Bộ Lĩnh giao cho trông coi 2000 binh sĩ. Đến khi dẹp yên các sứ quân, thống nhất đất nước, lập nên cơ nghiệp nhà Đinh, Lê Hoàn được phong chức Thập đạo tướng quân, Điện tiền đô chỉ huy sứ (Tổng chỉ huy quân đội kiêm chỉ huy đội quân cấm vệ) của triều đình Hoa Lư. Lúc này Lê Hoàn vừa tròn 30 tuổi.

Tháng 10 năm Kỷ Mão (979), cha con Đinh Tiên Hoàng bị Đỗ Thích giết hại. Đinh Toàn 6 tuổi lên ngôi vua, Lê Hoàn làm nhiếp chính, trong một tình thế đầy khó khăn. Các đại thần Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp nổi loại nhưng bị Lê Hoàn dẹp tan. Ngô Nhật Khánh, phò mã nhà Đinh, bỏ vào Nam rước vua Cham pa cùng hơn nghìn chiến thuyền toan cướp kinh đô Hoa Lư nhưng bị bão đắm hết. Tháng 7 năm Canh Thìn (980), đại quân Tống theo hai đường thủy, bộ xâm lược Đại Cồ Việt. Lê Hoàn lúc này đã lên ngôi hoàng đế tức Lê Đại Hành vừa triển khai lực lượng sẵn sàng chiến đấu vừa sai sứ đưa thư cầu hòa. Vua Tống đòi Dương Vân Nga và con là Đinh Toàn sang chầu. Tình thế bức bách, Lê Hoàn buộc phải cho quân đánh giặc quyết bảo vệ đất nước. Ông đã tái tạo một Bạch Đằng, sáng tạo một Chi Lăng, thắng lợi lớn trên cả hai mặt thủy bộ, giết được tướng giặc Hầu Nhân Bảo, diệt quá nửa quân Tống, buộc vua Tống phải xuống chiếu lui quân.

Đại thắng năm Tân Tỵ (981) đã mở đầu kỷ nguyên Đại Việt bách thắng bọn phong kiến phương Bắc.

Không chậm trễ, Lê Hoàn dốc sức chăm lo xây dựng và bảo vệ đất nước. Bên trong, Lê Hoàn chống cát cứ, xây dụng cơ sở của nền kinh tế. Đối với bên ngoài thì Ông thi hành chính sách ngoại giao mềm dẻo khôn khéo nhưng cương quyết bảo vệ nền độc lập của đất nước. Ông là vị vua nội trị, ngoại giao đều xuất sắc. Chuyện rằng:

Năm Canh Dần (990), vua Tống sai Tống Cảo dẫn đầu đoàn sứ mang chiếu thư sang phong cho Lê Hoàn hai chữ “Đặc Tiến”. Vốn biết nhà Tống hống hách, ngạo mạn, Lê Hoàn thay đổi cách đón tiếp. Ông sai Đinh Thừa Chính mang chín chiến thuyền và 300 quân sang tận Liên Châu (Quảng Đông, Trung Quốc), để đón sứ rồi bảo vệ đoàn sứ đến Đại Cồ Việt. Tháng 10 năm đó, đoàn sứ Tông tới kinh đô Hoa Lư trong cảnh tưng bừng khác lạ: dưới sông, chiến thuyền tinh kỳ san sát; bên các sườn núi, quân lính võ phục chỉnh tề, gươm giáo sánh lòa; trên các cánh đồng, hàng trăm hàng ngàn trâu bò rong ruổi đen đặc, bụi bay mù mịt. Sứ Tống không thể không thấy sự hùng mạnh, giàu mạnh của nước Việt.

Theo nghi lễ của Tống triều, khi nhận chiếu thư của “Thiên Triều”, vua các nước chư hầu phải “lạy”. Nhưng Lê Hoàn lấy cớ ngã ngựa, bị đau chân, không chịu “lạy”. Tống Cảo đành chấp nhận.

Sau bữa tiệc vui, Lê Hoàn cho người khiêng một con trăn lớn, dài vài trượng đến quán dịch nói với sứ Tống:

– Nếu sứ thần ăn được thịt trăn thì vua tôi sẽ cho người làm cỗ để mời.

Sứ Tống khiếp đảm từ chối.

Lần khác, Lê Hoàn cho dắt tới hai con hổ dữ để sứ thần thưởng ngoạn. Sứ thần lại một phen sợ toát mồ hôi.

Trước khi bọn Tống Cảo về nước, Lê Hoàn bảo họ:

– Sau này, nếu có quốc thư thì nên giao nhận ngay đầu địa giới, không phiền sứ thần đến đây nữa.

Năm Quý Tỵ, nhà Tống sắc phong cho vua Đại Hành làm Giao Chỉ quận vương rồi năm Đinh Dậu (977) là Nam Bình Vương.

Năm Ất Tỵ (1005) vua Lê Đại Hành mất, thọ 65 tuổi, làm vua được 24 năm.

Giải oan cho nghi án thông dâm giữa vua Lê Đại Hành và Thái hậu Dương Vân Nga có một giai thoại kể về mối tình thời trẻ giữa ông và Dương Thị ở Ninh Bình mà ít người biết đến.

Chỉ là nối lại tình xưa

Giai thoại này cho rằng, việc quan hệ của vua Lê Đại Hành và Thái hậu Dương Vân Nga sau này, trong cung đình khi vua Đinh Tiên Hoàng đã băng hà, chỉ là việc hợp pháp hóa mối tình thời thanh xuân và là cách họ nối lại tình xưa.

Theo giai thoại này, Lê Hoàn vốn là một vị tướng rất thương yêu binh sĩ và luôn đồng cam cộng khổ cùng binh sĩ. Một ngày đẹp trời, ông thăm nhà một anh lính họ Dương để kết thêm tình quân dân và gặp Dương Vân Nga. Trai tài gái sắc sóng mắt đưa tình, thế là “tình trong như đã, mặt ngoài còn e.”

Trong lúc đó, Ðinh Bộ Lĩnh đang là hoàng đế ở Hoa Lư. Ông không thể không quan tâm đến tiếng đồn về sắc đẹp của Dương Vân Nga và không hề biết giữa nàng và vị tướng Lê Hoàn đã ‘thầm yêu trộm nhớ”. Nhưng vì được hoàng đế để mắt, Dương Vân Nga trở thành hoàng hậu của vua Ðinh là thế bắt buộc.

Sau khi lấy Dương Vân Nga, Ðinh Bộ Lĩnh mới được biết người vợ yêu chính là người thương của Lê Hoàn, vì thế không ngừng thử thách lòng trung thành của vị tướng này. Và Lê Hoàn – không phụ lòng Ðinh Bộ Lĩnh – trước sau thể hiện sự trung quân, nên được vua Đinh trao cả 10 đạo quân. Nắm trong tay binh quyền, nếu Lê Hoàn có lòng phản nghịch thì thật không phải đợi đến ngày vua băng hà.

Tuy nhiên, có lẽ Ðinh Bộ Lĩnh dù tin Lê Hoàn cũng không muốn ông ở gần ái hậu của mình vì thế Lê Hoàn luôn phải ra biên ải. Đó cũng là chứng cứ ngoại phạm khi Ðinh Bộ Lĩnh và Ðinh Liễn bị Ðỗ Thích giết, ông không có ở trong cung. Mối nghi giết vua không phải là Ðỗ Thích thì cũng không thể đổ lên đầu Lê Hoàn được.

Tiếp đó, vì phải bảo vệ con và chính bản thân mình, Dương Vân Nga phải mời Lê Hoàn về kinh đô để lo mọi sự. Điều này cho thấy, mối quan hệ của Dương Vân Nga và Lê Hoàn thật sự không đơn giản ở vai trò Hoàng Hậu và Thập Ðạo tướng quân, mà là một mối quan hệ sâu lắng. Khi thấy nguy ngập thì người đầu tiên Hoàng hậu họ Dương nghĩ đến là Lê Hoàn và khi Lê Hoàn về đến kinh đô, tình cảm đè nén của hai người bao nhiêu lâu được dịp bùng nổ mãnh liệt. Kết quả là Dương Vân Nga tự tay khoác áo long bào lên vai Lê Hoàn và chính thức trở thành Hoàng hậu lần thứ hai.

Dẫu chỉ là giai thoại không thể kiểm chứng những câu chuyện cho thấy sự cảm tình đặc biệt của dân gian với vị vua tài trí của nhà tiền Lê. Đó cũng là lý do tại Hoa Lư dân thờ Dương Vân Nga chung với Lê Hoàn, khi đến ngày giỗ của Ðinh Tiên Hoàng thì thỉnh Dương Vân Nga đến đền thờ ông một đêm, rồi sáng mai đem trả lại đền thờ của vua Lê.

Mối liên hệ giữa gia đình Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn:

Đinh Tiên Hoàng có ba người con trai được sử sách chép tới. Con trưởng là Đinh Liễn, người từng cùng Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn mười hai sứ quân. Tháng năm (nhuận) năm Kỷ Tỵ (969), Đinh Liễn đã được phong làm Nam Việt Vương. Năm Nhâm Thân (972), Nam Việt Vương Đinh Liễn được cử làm sứ giả sang nhà Tống. Năm Ất Hợi (975) Nam Việt Vương Đinh Liễn được nhà Tống phong làm Khai Phủ Nghi Đồng Tâm Thám Kiểm Hiệu Thành Sư, tước Giao Chi Quận Vương. Tóm lại, việc kế vị trong tương lai của Đinh Liễn đã rất rõ. Nhưng, tháng giêng năm Mậu Dần (978), Đinh Tiên Hoàng vì quá yêu mến người con út còn nhỏ tuổi là Hạng Lang nên đã lập Hạng Lang làm Thái Tử. Việc này khiến cho Đinh Liễn uất ức. Đầu năm Kỉ Mão (979), Đinh Liễn đã giết chết Hạng Lang, và đến tháng mười năm ấy, thì cả Đinh Tiên Hoàng lẫn Đinh Liễn đều bị bề tôi là Đỗ Thích giết hại.

Con thứ của Đinh Tiên Hoàng là Đinh Toàn, do bà Hoàng Hậu Dương Vân Nga sinh hạ vào năm Giáp Tuất (974). Năm Mậu Dần (978) khi Hạng Lang được phong làm Thái Tử thì Đinh Toàn được phong làm Vệ Vương. Cuối năm 979, khi Đỗ Thích giết hại cả Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn, triều đình bèn tôn Đinh Toàn (lúc này mới 5 tuổi) lên ngôi Hoàng Đế.

Tháng 7 năm Canh Thìn (980), trước nguy cơ bị quân Tống xâm lăng, triều đình bèn tôn quan Thập Đạo Tướng Quân là Lê Hoàn lên ngôi Hoàng Đế. Đinh Toàn bị giáng làm Vệ Vương như cũ và được Lê Hoàn thương như con đẻ của mình. Năm Tân Sửu (1001), Đinh Toàn mất khi cùng với Lê Hoàn đi đánh dẹp ở Cừ Long (vùng người Mường, nay thuộc huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa), hưởng dương 27 tuổi.

Người con út là Hạng Lang bị giết khi còn quá nhỏ, không để lại chính tích gì đáng kể.

Như vậy là Lê Hoàn được tôn lên ngôi Hoàng Đế trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của đất nước. Bá quan văn võ đã tin ở Lê Hoàn và Lê Hoàn cũng đã thực sự xứng đáng với niềm tin lớn lao đó. Từ đây, triều Lê được dựng lên. Để phân biệt với triều do Lê Lợi dựng lên sau này, sử gọi triều Lê mở đầu từ Lê Hoàn là triều Tiền Lê. Ngay sau khi lên ngôi, Lê Hoàn đã lãnh đạo cả nước đập tan hoàn toàn cuộc xâm lăng của quân Tống vào năm 981 và ngay năm sau (982) lại trừng trị đích đáng hành vi quấy phá của Chiêm Thành. Năm 982, Lê Hoàn sai sứ đi Chiêm Thành bị vua Chiêm bắt giữ, Lê Hoàn tức giận: “sai đóng chiến thuyền, sửa binh khí, tự làm tướng đi đánh, chém Bê Mi Thuế tại trận. Bắt sống nhiều quân sĩ, cung nữ và một nhà sư người Thiên Trúc, thu được vàng bạc châu báu vô kể, san phẳng thành trì, phá hủy tông miếu, vừa một năm thì trở về kinh sư.

Khi biên giới mặt Bắc và mặt Nam đều đã được ổn định, Lê Hoàn đã tiến hành xây dựng và củng cố sức mạnh của đất nước. Lê Hoàn ở ngôi 25 năm (980-1005).

Tên tuổi Lê Hoàn trong tâm tưởng của các cây đại bút

Với thắng lợi trọn vẹn của mình, Lê Hoàn đã có công giữ vững độc lập và chủ quyền của quốc gia. Tên tuổi của ông được đời đời ghi nhớ, sự nghiệp của ông (được trăm họ tri ơn. Các cây đại bút, cũng là sứ thần lỗi lạc thuở xưa đã trân trọng chép những lời tôn kính Lê Hoàn. Các tác giả của bộ Đại Việt Sử Ký toàn thư viết: “Vua trừ được bọn gian thần trong nước rồi được tôn lên ngôi, đuổi giặc ngoài để yên dân, khiến cho quốc gia thanh bình, Bắc Nam vô sự”.

Bảng nhãn Lê Văn Hưu (1230 – 1322) viết:

“Lê Đại Hành giết Dinh Điền, bắt Nguyễn Bặc rồi tóm bọn (Quách) Quân Hiên), (Triệu) Phụng Huấn dễ như lùa trẻ con, như sai lũ nô lệ, chưa đầy vài năm mà đã định yên được bờ cõi, công đánh dẹp và thắng trận, cho dầu là nhà Hán hay nhà Đường (tên hai triều đại lớn của Trung Quốc) cũng không thể sánh được”.

Trong Lịch triều hiến chương loại chi (Nhân vật chí ), sử gia lỗi lạc thời Nguyễn là Phan Huy Chú (1872 – 1840) đã viết về Lê Hoàn như sau: “Vua phá Tống, bình Chiêm, khiến cho cả Hoa Hạ và man di đều sợ hãi. Trung Quốc đã mấy lần sách phong khen ngợi Vua, khiến cho tiếng tăm của Vua trở nên lừng lẫy. Nói về việc trị nước thì Nhà vua luôn chăm lo đến những điều cần của dân, dốc lòng lo cho chính sự, trọng nông nghiệp, cẩn trọng nơi biên cương, quy định pháp chế tuyển dân làm lính, lại còn đổi chia các trấn… quả là cố gắng chăm chỉ.”

Năm 1981, giới sử học Việt Nam đã long trọng tổ chức hội thảo khoa học và lễ kỷ niệm 1.000 năm Lê Hoàn đại phá quân Tống. Một lần nữa, tên tuổi của Lê Hoàn lại được kính cẩn đề cao, sự nghiệp của Lê Hoàn được hậu thế tưởng nhớ.

Nhận định

Về vua Lê Đại Hành, Sử nhà Tống dẫn lời Tống Cảo, người đi sứ sang Đại Cồ Việt đã từng gặp Lê Hoàn mô tả ông là “con người mắt lé” nhưng “hung hãn” và “có chí vác cả núi ngăn cả bể”. Ngô Sĩ Liên với tư tưởng Nho giáo nhận xét: “Vua nhân gian dâm trong cung mà lấy được nước, dẹp giặc bên ngoài để yên dân, trong nước lặng yên, Bắc Nam vô sự”.

Tài cầm quân

Trong thời dẹp loạn 12 sứ quân, Lê Hoàn đã sớm bộc lộ tài năng, tuy nhiên do còn trẻ tuổi nên chức vụ của ông vẫn ở dưới các bạn thân thiết của Tiên Hoàng. Chỉ từ khi làm nhiếp chính, trực tiếp nắm vận mệnh đất nước, tài năng của ông mới được thi triển hết. Chẳng những các công thần khai quốc kỳ cựu của nhà Đinh mà ngay cả các tướng phương Bắc đều không phải đối thủ của ông. Dù đời sau có thể nhận định việc đánh dẹp của ông là hợp lẽ hay trái lẽ nhưng tài cầm quân của ông thì không ai có thể phủ nhận.

Vua trị nước

Lê Đại Hành là một vị vua mà “Sứ thần Trung Quốc phải tôn sùng, tù trưởng sơn động hết chuyện làm phản. Thành Hoa Lư phồn vinh hơn cả nhà Đinh. Còn lưu ý đến sức dân, quan tâm đến chính sự của nước, chú trọng nghề làm ruộng, nghiêm ngặt việc biên phòng, quy định pháp lệnh. Tuyển lựa quân ngũ… có thể nói là hết sức siêng năng, hết lòng lo lắng”. Ông là một vị vua có tài, dẹp nội loạn, khéo bang giao, giữ thể diện cho quốc gia không bị nước lớn chèn ép. Đó là điều không phải đời vua nào của Việt Nam cũng làm được.

Đại Hành làm vua tỏ rõ là một người chí công vô tư, vì việc chung chứ không vì thù oán riêng. Ông giết Phạm Hạp vì tội làm loạn nhưng lại trọng dụng em Hạp là Phạm Cự Lạng, dùng làm tướng, thăng tới chức thái úy chỉ huy quân đội. Con của Nguyễn Bặc, một người cùng bị giết với Phạm Hạp là Nguyễn Đê cũng được cất nhắc làm quan võ của nhà Tiền Lê. Lê Đại Hành vô tư tới mức không phòng ngừa rằng sau này chính Đê là người tham gia đưa Lý Công Uẩn lên ngôi thay nhà Tiền Lê. Ngoài ra, các đại thần từng là bạn thân của Tiên Hoàng như Trịnh Tú, Lưu Cơ, hai người nằm trong bộ tứ “Điền, Bặc, Tú, Cơ” theo vua Đinh từ ngày hàn vi cũng được Đại Hành trọng dụng, không vì lý do “cùng bè đảng” với Nguyễn BặcĐinh Điền mà kiếm cớ trừ khử hay sa thải hai người này. Chính nhờ chính sách dùng người khoan dung, trọng tài năng không vì tình riêng khiến ông quy tụ được nhân tâm, củng cố sức mạnh trong nước, vượt qua được khó khăn trong thời buổi đất nước rối ren, lòng người dao động khi nam, bắc đều bị uy hiếp.

Phát triển kinh tế

Lê Đại Hành khi làm vua cho xây dựng nhiều công trình, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệpthủ công nghiệp để chấn hưng đất nước. Ông là vị vua mở đầu cho lễ tịch điền nhằm khuyến khích sản xuất nông nghiệp dưới chế độ phong kiến Việt Nam. Mở đầu cho một lễ nghi trọng đại mà các vương triều sau tiếp tục noi theo để khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp.

Lê Đại Hành cũng là vị vua đầu tiên tổ chức đào sông nối sông Mã với sông Chu thành hệ thống sông nhà Lê chằng chịt khắp tỉnh Thanh Hóa. Công trình đào sông Nhà Lê (hiện vẫn còn ở Thanh Hóa và là một di tích lịch sử) do Lê Hoàn khởi dựng là con đường giao thông thủy nội địa đầu tiên của Việt Nam. Sự nghiệp mở đầu vĩ đại đó đã trở thành phương châm hành động của các thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn sau này. Từ con sông đào do Lê Hoàn khai phá trên đất Thanh Hoá, đến thời Lý, Trần sông đào đã xuất hiện ở đồng bằng Bắc Bộ đến Thanh-Nghệ-Tĩnh. Đến thời Lê đã rộng khắp dải miền Trung Bộ và đến thời Nguyễn thì sông đào có mặt ở khắp mọi miền Việt Nam.

Ngoại giao

Lê Hoàn là người mở đầu và xác lập những nguyên tắc cơ bản của nền ngoại giao Đại Việt. Nhà Tống là triều đại phong kiến hùng mạnh nhất châu Á đương thời mang nặng tư tưởng bành trướng đã phải từng bước thừa nhận sức mạnh, thế lực của quốc gia độc lập Đại Cồ Việt, đã phong cho Lê Hoàn các tước vị cao như Giao Chỉ quận vương, Nam Bình vương, sứ thần Tống còn làm thơ tôn Lê Hoàn tài ba không khác gì vua Tống. Phan Huy Chú đánh giá: “Nhà Tiền Lê tiếp đãi sứ nhà Tống, tình ý và văn thư rất là chu đáo. Khúc hát hay cũng đủ khoe có nhân tài mà quốc thể được thêm tôn trọng làm cho người Bắc phải khuất phục” Lê Hoàn sử dụng chính sách ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo nhưng cương quyết.

Hai áng văn dưới thời Lê Đại Hành

Bài thơ Nam quốc sơn hà, một kiệt tác văn chương, cũng đồng thời là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam xuất hiện đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất của Lê Hoàn và cũng được Lý Thường Kiệt vận dụng ở lần kháng chiến chống Tống thứ hai. PGS.TS Trần Bá Chí cũng khẳng định: Nam quốc sơn hà là bản tuyên ngôn độc lập, chỉ có thể ra đời sau hàng ngàn năm Bắc thuộc, nhưng không phải vào thời Ngô Quyền còn loạn lạc, chưa tức vị, trước khi chống Nam Hán, mà là ở thời Vua Lê Đại Hành chống Tống khi thể chế, ngôi vị đã vững vàng, an định.

Kiệt tác thứ hai, ở triều đại hoàng đế Lê Hoàn là một bài ngũ ngôn tuyệt cú của nhà sư Pháp Thuận. Đây là bài thơ có tên tác giả xuất hiện sớm nhất, nên được đặt vào vị trí khai sáng cho văn học cổ dân tộc. Cũng như Nam quốc sơn hà, Quốc tộ là bài thơ giàu sắc thái chính luận, một bài thơ viết về những vấn đề chính trị xã hội hiện hành của đất nước. Để trả lời nhà vua “hỏi về vận nước ngắn dài”, nhà thơ đã lấy ngôn từ giản dị mà thâm thúy, bày tỏ chính kiến của mình: “Vận mệnh nước nhà dài lâu, bền vững khi nhà vua dựng mở được nền thái bình bằng phương sách”. Nếu Nam quốc sơn hà có giá trị như một bản tuyên ngôn độc lập, thì các nhà nghiên cứu khẳng định Quốc tộ có giá trị như một bản tuyên ngôn hòa bình. Hai bài thơ là hai kiệt tác văn chương bổ sung cho nhau, hoàn thiện Tuyên ngôn độc lập, Tuyên ngôn hoà bình đầu tiên của dân tộc, chính là cột mốc khai sáng văn học Việt Nam.

Chuyện một người Việt làm vua nước Chiêm Thành

Chuyện một người Việt tên Lưu Kế Tông, vốn là một võ quan trọng đạo quân nam chinh của vua Lê Đại Hành, đã lên làm vua Chiêm Thành là một chuyện có thực, được sử nhà Tống ghi chép rành rẽ, nhưng sử cũ nước ta hoàn toàn không đề cập đến. Với tài trí siêu việt của vua Lê Đại Hành, cùng với quân lực hùng hậu của Đại Cồ Việt thuở bấy giờ, nước ta có thừa khả năng thu phục toàn bộ quân Nhật Nam ngày trước. Nhưng nhà Tống không muốn Giao Châu trở nên quá mạnh, đích thân vua Tống Thái Tông đã đứng ra hòa giải để ngăn cản Đại Cồ Việt thôn tính Chiêm Thành, dùng lá bài tấn phong làm áp lực buộc vua Lê Đại Hành rút quân. Mặt khác, vua Lê Đại Hành tuy vừa oanh liệt đánh bại quân Tống, Nhưng vẫn muốn thông hiếu với Trung Quốc, nên trước đòi hỏi của Tống triều, vua Lê lúc đầu, bề ngoài thì minh thị rút quân nhưng bên trong thì âm thầm bố trí đạo binh Lưu Kế Tông ở lại chiếm đóng miền bắc Chiêm Thành nổi dậy chiếm lại đất cũ, vua Lê buộc lòng ra mặt cất quân đánh châu Địa Lý để rồi cuối cùng chịu bãi binh chỉ giữ lại châu Bố Chính và đổi lấy việc phong vương trong mục đích tranh thủ Tống triều tiếp tục chính thức thừa nhận nền tự chủ của Đại Cồ Việt.

Cái tước quận vương Giao Chỉ của nhà Đinh và nhà Tiền Lê Đại Cồ Việt buổi đầu dựng cờ tự chủ đã mở đường cho cái quốc gia Đại Việt, Đại Nam, Việt Nam, độc lập và thống nhất. Chính sách ngoại giao kiên trì, mềm dẻo và khôn khép của vua Lê Đại Hành xuyên qua câu chuyện Lưu Kế Tông làm vua nước Chiêm Thành đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệp mở nước của dân tộc ta.

V. HỒ QUÝ LY (1336-1407) với nước ĐẠI NGU

Về dòng dõi Hồ Quý Ly, Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Tổ tiên của Hồ Quý Ly là Hồ Hưng Dật, vốn người Chiết Giang bên Trung Quốc thời Hậu Hán (947-950) được vua Hán cử sang làm Thái thú Châu Diễm (tức Diễn Châu, Nghệ An). Đến thời loạn mười hai sứ quân, họ Hồ dời nhà vào hướng Bào Dột thuộc châu ấy và trở thành một trại chủ. Đến thời Lý, trong họ có người lấy công chúa Nguyệt Đích sinh ra công chúa Nguyệt Đoan. Đến đời cháu thứ 11 của Hồ Hưng Dật, là trại chủ đất Bào Đột có quan hệ với Tuyên úy Lê Huấn, người có thế lực ở hương Đại Lý phủ Thanh Hóa. Ông cho con trai là Hồ Liêm ra làm con nuôi Lê Huấn rồi lấy họ Lê làm họ mình. Hồ Quý Ly là cháu bốn đời của Lê Liêm”. Hồ Quý Ly tuy gốc họ Hồ ở Diễn Châu, Nghệ An nhưng bốn đời đã ở đất Thanh và đã đổi thành họ Lê, cho nên có thể xem quê quán của ông là Thôn Đại Lý (hay Đại Lại) nay là Hà Đông, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

Mẹ của Hồ Quý Ly là con gái Phạm Bân, một thầy thuốc giỏi người Vĩnh Lộc, từng được giữ chức Thái y dưới triều Trần Anh Tông. Đến đời Hồ Quý Ly thì hai người cô trong họ của ông lấy Trần Minh Tông, một bà sinh ra Nghệ Tông được phong là Đôn từ Hoàng thái phi. Hồ Quý Ly thuộc ngoại thích vua Trần.

Vào thời Trần Nghệ Tông cuối thế kỷ XIV, đất nước đứng trước cuộc khủng hoảng trầm trọng. Nội bộ triều đình có sự phế bỏ, giành giật, vua Trần phải dựa vào thế lực địa phương là họ Lê ở hương Đại Lại để tồn tại. Lớp nhà nho như Lê Quát, Phạm Sư Mạnh… thì mạnh dạn đòi cải cách hạn chế bớt quyền lực của các lãnh chúa, giải phóng sức sản xuất, song lực lượng bảo thủ của nhà Trần vẫn còn mạnh. Mâu thuẫn giữa quý tộc Trần và nông nô căng thẳng. Trong khi đó, nhà Minh ở phương Bắc vẫn luôn luôn nhòm ngó; Chiêm Thành ở phương Nam đem quân tràn cướp do Chế Bồng Nga cầm đầu, song mối họa Chiêm Thành chưa dứt. Hồ Quý Ly xuất hiện trong tình thế lịch sử đặc biệt.

Năm 1370, Hồ Quý Ly được làm chức võ quan Chi hậu tức cục Chánh chưởng, năm năm sau (1371) ông được thăng chức võ quan cao cấp “khu mật viên đại sứ”. Hồ Quý Ly đã dựa vào vua Trần Nghệ Tông để thi hành những dự án táo bạo của mình. Cho đến năm 1395, Trần Nghệ Tông chết, vua Trần Thuận Tông là con rể Hồ Quý Ly trao cho ông chức “Nhập nội phụ chính thái sư. Bình chương quân quốc trọng sự. Tuyên trung vệ quốc đại vương”, thì thế lực vua Trần chỉ còn trên danh nghĩa, mọi quyền binh đều do Hồ Quý Ly nắm giữ.

Suốt thời gian cầm quyền, Hồ Quý Ly đã tỏ ra là một nhà cải cách táo bạo, có đầu óc canh tân.

Trước hết ông cải cách quân đội nhà Trần, thải bớt lính già yếu, tuyển người khỏe mạnh, trai tráng kể các nhà sư, chọn tướng không cứ là tôn thất nhà Trần, miễn là giỏi binh như võ nghệ. Ông thay mười hai người không phải tôn thất trong số mười sáu tướng chỉ huy quân ở triều đinh, tăng cường sắm sửa binh khí, thuyền bè, duyệt quân thủy bộ… Đó là lực lượng cần thiết để bảo vệ Tổ quốc.

Về tiền tệ, ông đã mạnh dạn dùng tiền giấy thay tiền đồng. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “mùa hạ, tháng 4 năm Ất Hợi (1396) bắt đầu phát hành Thông Báo Hội Sao” có loại: 10 đồng vẽ rồng; 30 đồng vẽ sóng; tờ một tiền vẽ mây; tờ hai tiền vẽ rùa; tờ ba tiền vẽ lân; tờ năm tiền vẽ phương; tờ một quan vẽ rồng. Đây là lần đầu tiên nước ta, dùng tiền giấy để lưu hành trao đổi, buôn bán.

Về ruộng đất, “tháng Sáu năm Bính Tý (1397) xuống chiếu hạn chế danh điền”, nhằm hạn chế ruộng đất sở hữu của địa chủ và quí tộc, tăng cường số ruộng đất sở hữu của địa chủ và quí tộc, tăng cường số ruộng đất công của Nhà nước giao cho làng xã quản lý; lại ban hành chế độ hạn điền, đo đạc, kê khai ruộng đất, bỏ ngạch xã quan. Các cải cách của Hồ Quý Ly về ruộng đất và tiền tệ đã tấn công vào chế độ”lãnh chúa”, “điền trang thái ấp” của quí tộc nhà Trần cho nên vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ.

Về văn hóa, Hồ Quý Ly đã thi hành một loạt cách tân: Định lại phép thi cử, bỏ thi ám tả cổ văn; đặt đề thi kinh nghĩa; thu thơ đường luật; thi chiếu chế biểu và văn sách, kinh nghĩa. Đặc biệt Hồ Quý Ly đã dùng chữ Nôm dịch các sách kinh, truyện để dạy cho vua, làm sách “Minh Đạo” và bàn sách luận ngữ, nêu ra bốn điều nghi vấn về sách của Khổng Tử. Cải cách về văn hóa, giáo dục của Hồ Quý Ly chứng tỏ tinh thần dân tộc và suy nghĩ độc lập có ý nghĩa khoa học của một đầu óc tân tiến chứ không báo thù, nệ cổ.

Về kiến trúc xây dựng tuy với mục đích chính trị song Hồ Quý Ly đã để lại các công trình đồ sộ, có ý nghĩ văn hóa nghệ thuật trên đất Thanh Hóa. Đó là Thành nhà Hồ (xây năm 1397) và Cung Bảo Thanh (còn gọi là Ly Cung).

Ngày 28 tháng Hai năm Canh Thìn (1400) Hồ Quý Ly lên ngôi vua, đặt niên hiệu là Thánh Nguyên, quốc hiệu là Đại Ngu, đổi từ họ Lê trở lại họ Hồ (Toàn thư). Lên làm vua, ông lại tiếp tục đẩy mạnh cải cách. Năm 1401, ban chiếu hạn nô, qui định số nô tì mà mỗi phẩm tước được phép dùng; điều tra số dân để nắm tình hình dân đinh trong nước, đánh thuế ruộng đất, thuế buôn bán, định lại các đơn vị đo lường, qui định đổi tiền giấy…

Về văn hóa giáo dục, Triều Hồ qui định việc mở trường học, đặt thể lệ thi cử và tổ chức kỳ thi Thái học sinh ở thành An Tôn (thành nhà Hồ) tại Vĩnh Lộc. Ông còn tiến hành khảo bạch quan lại để thăng trật hoặc giáng chức, sử dụng theo tài đức.

Hồ Quý Ly còn chú ý củng cố quốc phòng, rèn luyện và tổ chức quân đội, bố trí các tuyến phòng thủ hiểm yếu trên đất nước ta.

Tuy thế, giặc Minh vừa tập trung tổng lực để tấn công. Hồ Quý Ly đã bị thua và bị bắt bởi đúng như lời tướng quốc Hồ Nguyên Trừng nói với Hồ Quý Ly: “Không sợ đánh giặc, chỉ sợ không được lòng dân”.

Năm 1406, lấy cớ “Phù Trần diệt Hồ”, nhà Minh sai Trương Phụ, Mộc Thạnh mang 20 vạn quân sang đánh Đại Ngu.

Trước các mũi tiến công của địch, đội quân nhà Hồ có chặn đánh ở một vài nơi rồi rút về phòng tuyến Nam sông Hồng. Quân Minh thừa cơ hội đã tập trung binh lực vượt sông Hồng đánh chiếm thành Đa Bang. Cuối năm Bính Tuất (ngày 20 tháng 1 năm 1407) thành Đa Bang thất thủ, tuyến phòng ngự của quân nhà Hồ cũng tan vỡ nhanh chóng. Từ Đa Bang ngày 22 tháng 1 năm 1407, quân nhà Minh tràn xuống chiếm cố đô Thăng Long. Quân nhà Hồ lại một lần nữa rút lui xuống miền hạ lưu sông Hồng. Và sau một vài trận phân công thất bại, Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương đem theo các thuộc hạ chạy ra biển rồi vào Thanh Hóa.

Đến Lỗi Giang (Mã Giang) quân Minh đuổi kịp, quân Hồ lại một phen tan tác. Tướng Ngụy Thức thấy thế nguy cấp, bèn tâu:

“Nước đã mất, làm ông vua không nên để cho người ta bắt được, xin Bệ hạ tự đốt đi mà chết còn hơn”.

Hồ Quý Ly giận lắm, bắt Ngụy Thức chém rồi chạy vào Nghệ An. Quân Minh tiếp tục đuổi theo, đến Kỳ La (Kỳ Anh, Hà Tĩnh) cha con Hồ Quý Ly đều bị bắt. Lúc đó là tháng 6 năm Đinh Hợi (1407). Có thuyết nói ông bị nhà Minh sát hại khi sang Yên Kinh (Bắc Kinh), có thuyết lại nói ông bị đày làm lính ở Quảng Tây và mất sau đó vài năm.

Nhà Hồ vì đất nước từ năm Canh Thìn (1400) đến năm Đinh Hợi (1407), được trọn 7 năm thì sụp đổ. Việt Nam lại nằm trong vòng đô hộ của phong kiến phương Bắc.

Hồ Nguyên Trừng: (1374 – 1446)

Hồ Nguyên Trừng là con trai cả của Hồ Quý Ly. Tháng 11.1394 lần đầu tiên sử sách nhắc đến Nguyên Trừng với việc bổ nhiệm ông làm Phán sự tự dưới triều đình của Thái thượng hoàng Nghệ Tông. Tháng 6.1399 Nguyên Trừng lãnh chức Tư đồ.

Tháng 2 năm 1400 Hồ Quý Ly tiếm ngôi nhà Trần, trong lòng muốn lập con thứ Hồ Hán Thương (là cháu ngoại Trần Minh Tông) làm Thái tử, bèn thăm dò ý Nguyên Trừng bằng cách ra câu đối: ‘Thử nhất quyển kỷ thạch, hữu thì vi vân vũ di nhuận sinh dân.’’ (Hòn đá bằng nắm tay này, có lúc làm mây làm mưa để nhuần thấm sinh dân). Nguyên Trừng khiêm tốn trả lời, ý nói không màng ngôi cao, chỉ mong được phụng sự đất nước : ‘Giá tam thốn tiểu tùng, tha nhật tác đống tác lương dĩ phù xã tắc’. (Cây thông nhỏ mới ba tấc kia, ngày sau làm rường cột để chống nâng xã tắc). Tháng 12 năm 1400 Hồ Quý Ly tự xưng Thái thượng hoàng và nhường ngôi cho Hán Thương. Hồ Nguyên Trừng lãnh chức Tả tướng quốc.

Cuối năm 1405, nguy cơ xâm lăng của nhà Minh ngày càng rõ rệt. Khi nghị bàn quốc sự các trong quan trong triều chia thành hai phái đánh và hòa. Hòa tức là chấp nhận sức ép của Bắc triều, cắt đất, cống nộp từ con người đến sản vật, Hồ Nguyên Trừng nói : ‘Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo thôi’’. Hồ Quý Ly rất tâm đắc ý chí của Nguyên Trừng nên đã thưởng cho Trừng chiếc hộp đựng trầu bằng vàng.

Giữa năm 1406 Hồ Nguyên Trừng thống lĩnh binh mã cự 10 vạn quân Minh từ Quảng Tây đánh sang. Trận đầu ông thất bại ỏ khu vực Đáp Cầu Bắc Ninh ngày nay, vì khinh quân địch ít. Sau đó ông cũng đuổi được chúng ra khỏi bờ cõi. Cuối năm 1406, đợt xâm lược mới của nhà Minh có quân số lên tới 80 vạn, Tả tướng quốc Nguyên Trừng chỉ huy một cánh quân tiên phong dọc sông Cái.

Thất bại này nối thất bại kia vì giặc mạnh lại biết dùng kế ly gián, chia rẽ họ Hồ với quân tướng và dân chúng. Giữa năm 1407, toàn bộ gia tộc họ Hồ, từ Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương, Hồ Nguyên Trừng đến con cháu đều bị bắt sống và giải về Kim Lăng, Trung Quốc.

Trên đây là tóm tắt gốc tích và hành trạng trong nước của Hồ Nguyên Trừng theo Đại Việt sử ký toàn thư, NXB KHXH Hà Nội 1993. Sách này còn ghi năm 1411 Hồ Ngạn Thần theo lệnh vua Trùng Quang Trần Quý Khoáng đến Yên Kinh (Bắc Kinh ngày nay) để cầu phong. Vua Minh sai Hồ Nguyên Trừng gặp Ngạn Thần thu thập tin tức Giao Chỉ.

Đến Khâm định Việt sử thông giám cương mục, NXB Hà Nội 1998, ngoài nội dung cũ, liên quan đến Hồ Nguyên Trừng còn có các chi tiết : Vua nhà Minh ngự điện nhận tù binh và hỏi Quý Ly rằng : ‘‘Giết vua, cướp nước, như thế có phải là đạo người bầy tôi không ?’’ Quý Ly không trả lời được, bèn giao cả xuống giam vào ngục tù, chỉ tha cho con là Trừng, cháu là Nhuế. Sau, Quý Ly ở trong ngục được tha ra, bắt đi làm lính ở Quảng Tây.

Theo Minh sử sau đây là chân dung nhà khoa học quân sự Hồ Nguyên Trừng: Theo lệnh vua Minh, các tù binh Đại Việt biết chế tạo vũ khí như Hỏa súng, Đoạn tiễn, Thần tiễn, Thuốc súng ; đã bị áp giải đến Nam Kinh cùng với thợ thủ công các loại, tổng cộng lên đến khoảng 17.000 người. Trong số này có Hồ Nguyên Trừng, Đại Việt sử ký toàn thư cũng đặc biệt ghi nhận năm 1407 Hồ Nguyên Trừng đã chế tạo nhiều súng ống và tàu chiến để chống lại quân Minh xâm lược. Việc ngài Tả tướng quốc Nguyên Trừng nắm kỹ năng chế tạo vũ khí cầm tay cho thấy tầm quan trọng mà Đại Việt gửi gắm ở kỹ nghệ sản xuất thuốc súng cũng như cuộc cạnh tranh quyết liệt giữa Đại Việt và các nước láng giềng, trước hết là với Trung Hoa và Chiêm Thành. Thú vị là sự tinh thông ấy đã thay đổi vận mệnh Hồ Nguyên Trừng tại Trung Hoa… Nguyên Trừng được tha bổng và nhậm một chức quan thuộc Công bộ, ông chịu trách nhiệm chế tạo hỏa súng, hỏa tiễn và thuốc súng trong Bình trượng cục (Cục chế tạo vũ khí) và rồi được thăng chức Thượng thư bộ Công. Theo một số sách vở Trung Hoa (Minh sử cảo), triều Minh khi tế thần súng cũng thường hiến cúng Hồ Nguyên Trừng. 73 tuổi, Hồ Nguyên Trừng mất, con ông là Lê Thúc Lâm đã thay ông tiếp tục chế tạo vũ khí cho nhà Minh đến khi về hưu năm 1470 ở tuổi 70.

Từ những dữ kiện trên đây, có thể khẳng định Hồ Nguyên Trừng và con cháu ông là những công trình sư có đóng góp nghiên cứu và thực nghiệm khoa học quân sự lớn lao cho triều Minh. Phải chăng chính công tác ‘‘gián điệp’’ trong quá trình xâm lăng Đại Việt đầu thế kỷ 15, nhà Minh đã nhìn thấy ‘‘mỏ vàng’’ nhân lực trí lực đồ sộ ở nước Nam. Cướp đất và ra sức tiêu diệt văn hóa chưa đủ, họ đã bắt đi 17.000 trái tim khối óc người Việt đem về để kiến thiết Trung Quốc. Nguyễn An, nhân vật tham gia thiết kế và xây dựng Tử Cấm Thành, và Hồ Nguyên Trừng là những cái tên chói sáng trong số tù nhân kia. Họ bất tử vì tài năng kiệt xuất, lưu truyền thiên cổ.

Cuối đời, sống trong nhà tù lớn mang tên Trung Hoa, dù chức cao bổng hậu Hồ Nguyên Trừng vẫn ngóng về quê hương với nỗi niềm sâu nặng. Phải chăng đấy là lý do Nguyên Trừng lấy bút hiệu Nam Ông (ông già nước Nam) và viết quyển ‘Nam Ông mộng lục’ bất hủ.

Trước tác gồm 31 phần, do Hồ Huỳnh, Thượng thư bộ Lễ Minh triều đề từ năm 1440, có cả hậu tự năm 1442 của Tống Chương. Ở lời nói đầu, Hồ Nguyên Trừng bảo : Trong xóm mười nhà thế nào cũng có người tín nghĩa như Khổng Tử, huống hồ nhân vật nước Nam không kể hết. Thời gian và chiến tranh làm sách vở tiêu tán hết, nên ông phải viết lưu lại cho đời. Bằng nỗi niềm thương nhớ cố quốc, hồi tưởng năm tháng đã qua, Hồ Nguyên Trừng ngỡ cuộc đời là một giấc mộng dài. Ông giải thích chữ ‘mộng’. Những nhân vật trong sách, một thời phồn hoa, rồi thời cuộc biến đổi không còn để lại vết tích, chỉ còn một mình tôi biết được và kể ra, như vậy chẳng phải mộng là gì ! Qua ‘‘Nam ông mộng lục’’ người ta phần nào hình dung được đất nước con người Việt Nam cách đây hơn 500 năm. Các mảng đời sống, tín ngưỡng, phong tục, lề thói… rất sinh động và chân thật. Hồ Huỳnh nhận định : ‘Văn họ Hồ ngắn gọn mà nghiêm trang, cẩn mật, cao nhã mà uyên bác, theo tình kể lại, theo nghĩa đặt lời … Ca ngợi sự tiết nghĩa thì bừng bừng cảm khái, có thể uốn nắn phong tục, biểu dương trước thuật thi siêu thoát, thanh tân, có thể nuôi dưỡng tính tình …’’.

Gần đây ở ngôi làng Nam An Hà, cách Bắc Kinh 30km về phía Tây, nơi có mộ chí Hồ Nguyên Trừng và con cháu ông đang ồn ào vụ kiện giải tỏa đất đai mồ mả để làm trường đua ngựa.

Dám mong một ngày nào đó, nếu lăng mộ Hồ Nguyên Trừng bị giải tỏa, di cốt ông sẽ được nhân dân Việt Nam đón về cải táng trong thành đá Tây Đô, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Tòa thành ấy còn gọi là Thành nhà Hồ, vẫn ngạo nghễ với thời gian, ghi dấu nỗ lực chiến đấu chống ngoại xâm ngoan cường của ba cha con Hồ Quý Ly, Hồ Nguyên Trừng và Hồ Hán Thương.

Hồ Hán Thương

Hồ Hán Thương (chữ Hán: 胡漢蒼) là con thứ của vua Hồ Quý Ly và Công chúa Huy Ninh – con gái vua Trần Nghệ Tông.

Hồ Hán Thương được vua cha yêu và có ý định truyền ngôi. Chính Hồ Quý Ly e ngại con trưởng Hồ Nguyên Trừng không bằng lòng. Tuy nhiên Hồ Nguyên Trừng khẳng khái tỏ lòng mình không tranh giành với em, do đó Hồ Quý Ly quyết định truyền ngôi cho ông.

Năm 1401, ông được phụ hoàng chính thức truyền ngôi. Bản thân Quý Ly trở thành Thái Thượng Hoàng và vẫn nắm quyền quyết định mọi việc.

Trong thời gian ở ngôi, Hồ Hán Thương đã 2 lần đánh Chiêm Thành. Lần đầu năm 1402, quân Đại Ngu thắng lợi, khiến vua Chiêm phải dâng Chiêm Động và Cổ Lũy (Quảng Nam và bắc Quảng Ngãi hiện nay). Nhà Hồ chiếm được đất ấy đặt ra 4 châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa.

Năm 1403 Hồ Hán Thương lại sai Phạm Nguyên Khôi đi đánh Chiêm. Quân Đại Ngu vây kinh đô Đồ Bàn của Chiêm Thành trong 9 tháng không hạ được, bị hết lương phải rút về.

Lãnh thổ Đại Ngu dưới thời Hồ Hán Thương được mở về phía Nam đến bắc Quảng Ngãi.

Sau khi bị bắt về Tàu, riêng Hồ Nguyên Trừng có tài được thu dụng, còn cha con Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương bị đày ra Quảng Tây. Trong số những quan lại nhà Hồ bị bắt, vua Minh giả cho một số người làm thị lang, tham chính các nơi xa, nhưng trên đường đi sai người trừ khử.

Hồ Hán Thương sau này lấy vợ người Hán, con cháu nối nghiệp sinh sống ở Quảng Tây. Không rõ ông mất năm nào. Nhà chính trị Hồ Hán Dân thời Trung Hoa Dân Quốc nhận mình là dòng dõi của Hồ Hán Thương.

Nhận định

Về cải cách và chống xâm lược

Sách Hồ Quý Ly và những cuộc cải cách trong lịch sử của Viện Sử học đã nêu nhận định khái quát về Hồ Quý Ly.

Nói chung, những cải cách của Hồ Quý Ly nhằm mục đích xây dựng một nước Đại Ngu cường thịnh. Tuy nhiên, tư tưởng đổi mới của Hồ Quý Ly và những cải cách của ông thực hiện quá dồn dập trong một thời gian ngắn, không đạt kết quả như mong đợi và gây ra sự phẫn nộ trong nhân dân; đặc biệt là với các sĩ phu trung thành với nhà Trần.

Hồ Quý Ly, theo nhận định của một số nhà nghiên cứu, là một nhà cải cách có tài nhưng khả năng về quân sự của ông chưa tương đương với tài năng về văn trị. Khi còn làm tướng nhà Trần cầm quân chống Chiêm Thành, Hồ Quý Ly thường bị thua trận (thậm chí đã bị tướng dưới quyền chê là “bất tài”). Khi phải đối phó với nguy cơ xâm lược của nhà Minh, Hồ Quý Ly chỉ mong dùng lực đối lực để chống lại kẻ địch đất rộng người nhiều mà không tính tới chiến thuật. Ông than thở với các quan: “Ước gì có 100 vạn quân để chống lại giặc bắc.” Về điểm này Hồ Nguyên Trừng sáng suốt hơn ông. Khi được Hồ Quý Ly giao phó việc quân sự, Hồ Nguyên Trừng nói “Thần không ngại đánh, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi”. Nguyên nhân chính dẫn đến thất bại của Hồ Quý Ly chống lại thế lực ngoại bang của nhà Minh là sự mất lòng dân.

Khi lâm nguy, ông cũng mang phong độ của một văn nhân chứ không giống một chiến tướng (xem bài thơ phần Nội trị) nên không dám liều mình chết ở Lỗi Giang, dù lúc đó tuổi đã 70.

Hồ Quý Ly là vị vua giỏi cầm bút hơn cầm gươm. Nếu không có sự can thiệp mạnh của nhà Minh, rất có thể sự nghiệp của ông hoàn toàn có khả năng phát triển, mặc dù gặp phải sự chống đối của những người trung thành với nhà Trần trong nước…

Về trách nhiệm trước sự xâm lăng của nhà Minh

Sử gia Trần Trọng Kim trong sách Việt Nam sử lược nêu một giả thiết khác hơn về ông.

Xem công việc của Hồ Quý Ly làm thì không phải là một người tầm thường, nhưng tiếc thay một người có tài kinh tế như thế, mà giả sử cứ giúp nhà Trần cho có thủy chung (trước sau), thì dẫu giặc Minh có thế mạnh đến đâu đi nữa, cũng chưa hầu dễ đã cướp được nước Nam, mà mình lại được cái tiếng thơm để lại nghìn thu. Nhưng vì cái lòng tham xui khiến, hễ đã có thế lực là sinh ra bụng muốn tranh quyền, cướp nước. Bởi thế Hồ Quý Ly mới làm sự thoán đoạt, và nhà Minh mới có cái cớ mà sang đánh lấy nước An Nam. Cũng vì cái cớ ấy, cho nên lòng người mới bỏ họ Hồ mà đem theo giặc, để đến nỗi cha con họ Hồ thua chạy, bị bắt, phải đem thân đi chịu nhục ở đất nước người!

Nhưng đấy là cái tội làm hại riêng cho một họ Hồ mà thôi, còn cái tội làm mất nước Nam, thì ai gánh vác cho Quý Ly?”

Tuy nhiên, các sử gia hiện đại có ý kiến cho rằng: Dù nhà Hồ thay ngôi nhà Trần hay không thì nhà Minh vẫn xâm lược. Dẫn chiếu từ thời Trần Phế Đế cho thấy khi Trần Duệ Tông tử trận ở Chiêm Thành, Minh Thái Tổ đã định đánh Đại Việt, nhưng do có người can gián (chưa có thời cơ tốt) nên tạm thôi. Tới khi Minh Thái Tổ qua đời, cháu nội Minh Huệ Đế (Chu Doãn Văn) là ông vua ôn hoà lên thay (1398), Hồ Quý Ly chọn thời điểm lấy ngôi nhà Trần (1400) lúc đó khá phù hợp, khi bản thân ông tuổi đã cao. Nhưng biến cố sau đó nằm ngoài dự tính của ông. Không lâu sau (1403), Doãn Văn bị chú là Chu Đệ cướp ngôi. Chu Đệ – Minh Thành Tổ là một vị vua hiếu chiến như vua cha Thái Tổ, và đây cũng có thể xem là một nguyên nhân khiến Đại Ngu bị xâm lược. Nếu Quý Ly không lấy ngôi nhà Trần thì sau khi ông mất, nhà Trần suy yếu và kiệt quệ sau “hoạ Chiêm Thành” cũng sẽ trở thành tiêu điểm cho “lòng tham” của những vua phương bắc hiếu chiến như Chu Đệ.

Tổng quát chung

Hồ Quý Ly là một nhân vật lịch sử khó mà nhận xét cho đích đáng được. Nếu nhìn bằng quan điểm kiểu phong kiến, Hồ Quý Ly là kẻ nghịch thần tiếm ngôi, đại gian đại ác; nhưng xét theo mặt khác, Hồ Quý Ly lại là nhà cải cách, nhà chính trị không tệ, mang hoài bão xây dựng đất nước thái bình. Nhận xét về ông, có nhiều sử gia bàn luận khen chê khác nhau.

Nhìn lại và đánh giá cho thật kỹ lưỡng thì Hồ Quý Ly tuy là người có tấm lòng vì sự phồn vinh của đất nước, nhưng tư cách lại quá tầm thường, ích kỷ. Lúc làm quan cho nhà Trần, đầu tiên thì ông ta xu phụ quyền thế, chỉ biết dựa vào thân thế và tài nịnh vua để mà leo lên vũ đài chính trị, lại ngầm dựng bè đảng tạo thế lực hùng hậu cho mình. Thân là quan đại thần mà không chính trực vì công việc mà lại làm chuyện nịnh dối vua, lôi kéo bè thế, ấy quả là gian thần rồi. Một điều lạ lùng là vua Trần Nghệ Tông lại tin ông ta một cách lạ lùng, điều đó cũng có thể vì Nghệ Tông quá u muội, mà cũng vì tài dối vua của Hồ Quý Ly quá “cao cơ”. Đến khi nắm quyền rồi, ông ta bắt đầu cải cách đất nước (những cải cách của ông đã bắt đầu từ khi lên nắm quyền phụ chính cho nhà Trần chứ không phải mới ban khi lên ngôi vua), có vẻ là người am hiểu thế sự, biết canh tân đổi mới đất nước, tỏ tài kinh bang tế thế, nhưng lòng dạ ông ta lại quá vị kỷ, hẹp hòi, lòng tham vô đáy một cách đúng nghĩa, có quyền cao rồi còn muốn leo lên ngôi vua, lại còn hãm hại những kẻ không cùng phe cánh với mình. Có thể nói, công lao kiến thiết của ông ta thì chưa tỏ bao nhiêu, mà cái đức xấu đã hiện ra quá rõ. Hồ Quý Ly tuy có tài mà cái đức bị mang tiếng nhơ thì làm sao mà được lòng người, huống chi những cải cách của ông ta quá dồn dập, khiến đảo lộn cả xã hội một nước. Mặc dù những cải cách đó có vẻ nghe qua thì lợi dân lợi nước, nhưng thực chất thì chẳng hợp lòng dân được, vì cái tính của dân rất ngại có thay đổi mà họ chưa biết điều thay đổi đó có đem lại cho họ tương lai tốt hơn không.

Rốt cuộc từ dân cho đến giới quyền quý, ai nấy đều ghét ông, mà cũng vì cái tư tưởng Nho giáo thời đó người người đều kì thị ông là phản nghịch, thành ra cái “lòng thành” vì nước của Hồ Quý Ly lại chẳng được ai đón nhận, mà còn trở thành cái cớ cho giặc Minh xâm lược. Nói cho gọn thì công lao của ông ta đương thời chẳng ai thèm ghi nhận, mà cái tội nhơ nhuốc cũng ông thì ai cũng biết, thế mới biết, một nhà chính trị ngoài cái tài kinh tế ra, còn phải biết gây dựng cho mình cái danh tiếng tốt trước khi bước lên vũ đài chính trị vậy.

VI. LÊ LỢI – Mười năm bình định giặc Minh và nhà Hậu Lê

Lê Lợi là nhân vật được nhiều sử sách ghi chép, nghiên cứu nhất trong các loại sử sách viết về nhân vật của nước ta. Tác phẩm viết về ông sớm nhất là “Thiên cổ hùng văn”, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi, cuốn sử viết theo kiểu tự truyện “Lam Sơn thục lục”, cũng có nhiều ý kiến cho là Nguyễn Trãi chấp bút và văn hóa Vĩnh Lăng cũng do Nguyễn Trãi soạn thảo, khắc lên đá đến nay vẫn đứng sừng sững trên đất Lam Kinh. Tiếp đó là nhân dân Thanh Hóa, nhân dân cả nước kể chuyện về ông với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn hình thành một dòng truyền thuyết độc đáo trong nền văn học nước ta, tồn tại suốt 600 năm không hề phai nhạt, tuy trong 600 năm ấy đất nước bao phen chìm nổi, lao đao và dòng vua Lê do ông khai sáng cũng nổi chìm theo lịch sử..

Lê Lợi là người Hương Lam Sơn thuộc sách Khả Lam, huyện Lương Giang nay là xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Toàn thư chép: Trước kia, tổ ba đời của vua húy là Hối, từng một hôm đi chơi Lam Sơn, thấy đàn chim bay quanh dưới núi giống như hình trạng nhiều người tụ họp, bèn nói: “chỗ này tất là đất tốt”, mới dời nhà đến ở đây. Được ba năm thì thành sản nghiệp”.

Lê Lợi sinh ngày mồng Sáu tháng Tám năm Ất Sửu (tức 10.9.1385) tại làng quê mẹ cạnh hương Lam Sơn là làng Chú Sơn (làng Chúa),huyện Lôi Dương, Phương Ngôn, Thanh Hóa có câu: Nội Cham, ngoại Chúa” (quê nội của vua là làng Cham (Lam Sơn) và quê ngoại ở làng Chúa (Chú Sơn) là vì thế.

Lê Lợi là cháu bốn đời của ông tổ Lê Hối, Lê Hối sinh ra Lê Đinh: Lê Đinh sinh ra Lê Tông và Lê Khoáng, Lê Khoáng lấy bà Trịnh Thị Ngọc Thương (Chú Sơn), sinh được ba con trai là Lê Học, Lê Trừ và Lê Lợi cùng ba người con gái.

Toàn thư chép về ông: “Thiên tư tuấn tú khác thường, tinh, thần và dáng người tinh anh mạnh mẽ: mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, vai có nốt ruồi, tiếng nói như chuông, đi như rồng, bước như hổ, kẻ thức giả đều biết là người phi thường”.

Mười năm bình định giặc Minh

Bia Vĩnh Lăng chép về Lê Lợi: “Tuy gặp thời loạn mà chí càng bền, ẩn náu trong núi rừng, chăm nghề cày cấy. Vì giận quân giặc tàn bạo lấn hiếp nên càng chuyên tâm về sách thao lược, dốc hết của nhà, hậu đãi tân khách”.

Bình Ngô đại cáo cũng khắc họa:

Ta đây:

Núi Lam Sơn dấy nghĩa

Chốn hoang dã nương mình

Ngẫm thù lớn há đội trời chung

Căm giặc nước thề không cùng sống

Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời

Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.

Nung nấu, liên kết những bạn “đồng cừu” đợi thời cơ cho đến năm 1416 (năm Bính Thân), Lê Lợi và mười tám đồng chí mở Hội thể Lũng Nhai, dựng cờ nghĩa Lam Sơn. Anh hùng hào kiệt xứ Thanh và khắp nơi trong nước ta hướng tới “ngọn đèn Do Sơn” hội tụ dưới “cờ nghĩa Lam Sơn”. Trước hết là người trong nhà, trong họ như Lê Thạnh (con anh cả Lê Học); Lê Khôi, Lê Khang, Lê Khiêm (con anh hai Lê Trứ), Đinh Lễ, Đinh Bồ, Đinh Liệt… là cháu ngoại; Trần Hoành là bố vợ, Trần Vân là anh vợ. Những người đồng chí, đồng cừu trong xứ Thanh tìm đến như Lê Sát, Lê Ngân, Lê Lý, Lê Văn An, Nguyễn Thận, Lê Lai, Lê Lô, Lê Lộ, Lê Lâm, Trịnh Khả, Lý Triện, Lê Văn Linh… Anh hùng hào kiệt khắp nơi như: Nguyễn Trãi (Đông Quan), Phạm Văn Xảo (Kinh Bắc), Lưu Nhân Chú (Thái Nguyên), Trần Nguyên Hãn (Vĩnh Phú), Nguyễn Xí (Nghệ An) và Bùi Quốc Hưng, Trịnh Võ, Võ Uy, Lê Liễn, Lê Xa Lôi, Trịnh Đồ, Trương Lôi…

Lê Lợi xưng là Bình Định Vương. Theo Lam Sơn thực lục thì lực lượng lúc đó chỉ gồm 35 quan võ, một số văn quan, 200 thiết kỵ, 200 nghĩa sĩ, 14 con voi, một số người già yếu vận chuyển lương thực và phục vụ độ 2.000 người.

Giặc Minh ráo riết vây đuổi, tìm diệt cho nên thời kỳ đầu là thời kỳ bôn tẩu, náu tránh trong lòng dân, có khi trốn vào gốc cây nhờ con cáo trắng mà thoát, có khi nhờ “bà hàng nước giấu trong váy” mà qua, một nắm cơm của bà “Mẫu Hậu”, một bát canh của “ông Hầu bà Hầu” mà sống được… Truyền thuyết Lam Sơn đã ghi lại khá chân thực trong thời đầu gian khổ của khởi nghĩa Lam Sơn tập trung trong nhân vật Lê Lợi. Gian khổ nhất là thời kỳ phải ẩn náu trong núi Chí Linh, đói ăn đến nỗi phải giết voi để nuôi quân sĩ; giặc vây ngặt buộc phải “Lê Lai liều mình cứu chúa”.

Thế nhưng, giặc Minh cũng không rảnh tay để đàn áp khởi nghĩa Lam Sơn. Khắp nơi, các anh hùng hào kiệt nổi dậy như Phan Liêu (Nghệ An), Phạm Nhuyến (Nga Lạc), Trần Trực Thành (Nghệ An), Trần Thuận Khánh (Quảng Trị), Nông Văn Lịch (Khâu Ôn, Lạng Sơn), Trịnh Công Chứng (Hải Dương), Đào Cường (Hà Bắc), Lê Điệt (Thái Bình), rồi Đinh Tôn Lão (Nam Định), Nguyễn Thuật (Thái Bình), Nguyễn Đa, Cấn Sư Lỗ (Sơn Tây), Phạm Công Trịnh (Hà Đông)… Lê Lợi lợi dụng sự lúng túng của giặc Minh để tung lực lượng đánh địch, lập được nhiều chiến công bắt đầu từ tháng 9 năm 1419 như trận Mường Thôi, trận Bến Bổng, trận Bồ Mộng – Bồ Thi Lang, trận Quan Du … Chiến thắng sau mạnh mẽ và vang dội hơn chiến thắng trước. Sau đó là “hai năm hưu chiến” giữa nghĩa quân và giặc Minh để củng cố lực lượng.

Cuối năm 1424 (Giáp Thìn) mở đầu cho kế hoạch tiến vào Nghệ An theo kế sách của tướng Nguyễn Chinh. Thời kỳ chủ động tấn công địch từ các trận Bồ Đằng, Trà Lân… chiếm thành Nghệ An, rồi chủ động chiếm Tây Đô, vây Đông Đô đưa quân giặc vào thế bị động, chờ bị tiêu diệt. Các chiến thắng vang dội như chiến dịch tiến công vào nam giải phóng Tân Bình, Thuận Hóa, chiến thắng Ninh Kiều, Nhân Mục, Xa Lộc, chiến thắng Chúa Động, Tốt Động … Đã khẳng định thế cờ không thể lật ngược mà ưu thế chiến thắng thuộc về Lê Lợi.

Giai đoạn cuối quyết định cho sự nghiệp giải phóng là chiến dịch diệt viện: Trận Chi Lăng chém chết Liễu Thăng khiến mũi quân do mộc Thạch chỉ huy phải bỏ chạy. Tiếp sau là chiến thắng Xương Giang dẫn đến việc Vương Thông phải mở thành Đông Quan xin hàng. Lê Lợi đã chủ động tạo điều kiện để bọn giặc Minh sống sót được trở về Tàu một cách an toàn.

Mười năm chiến đấu vì nền độc lập của Tổ quốc (1416 – 1427), Lê Lợi đã thành công cùng với các tướng sĩ và quân nghĩa Lam Sơn viết nên trang sử anh hùng của dân tộc.

Ngày 15 tháng tư Mậu Thân (1428) Lê Lợi lên ngôi hoàng đế ở Đông Kinh đổi niên hiệu là Thuận Thiên, đặt quốc hiệu là Đại Việt, đóng đô ở Thăng Long.

Xã tắc từ đây vững bền

Non sông từ đây đổi mới

Càn khôn bĩ mà lại thái

Nhật nguyệt hối mà lại minh

Để dựng nên muôn thuở thái bình

Rửa sạch mối vô cùng sỉ nhục

(Bình Ngô đại cáo)

Lê Lợi mở đầu cho các triều đại Lê về sau là Lê Thái Tổ để các vua sau nối nghiệp: Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, Lê Thánh Tông… Cho đến vua cuối cùng là Lê Chiêu Thống trong chiều dài lịch sử 374 năm (1428 – 1802).

Luận về Lê Thái Tổ toàn thư đã chép:

“Ở ngôi sáu năm, thọ 51 tuổi, chôn ở Vĩnh Lăng. Vua hăng hái dấy nghĩa binh đánh dẹp giặc Minh 10 năm mà thiên hạ đại định. Đến khi lên ngôi, định luật lệnh, chế lễ nhạc, mở khoa thi, đặt cấm vệ, dựng quan chức, lập phủ huyện, thu sách vở, mở học hiệu. Có thể gọi là có mưu lớn sáng nghiệp. Song đa nghi hay giết, đó là chỗ kém”.

Triều Hậu Lê

     Năm 1428, nghĩa quân Lam Sơn đã giải phóng hoàn toàn đất nước, khôi phục nền độc lập dân tộc, đưa Lê Lợi lên ngôi tại kinh thành Thăng Long, triều đại Hậu Lê được thiết lập. Dựa trên đặc điểm phát triển, giới sử học chia nhà Hậu Lê thành 2 giai đoạn: Lê sơ và Lê trung hưng (Lê mạt).

– Giai đoạn Lê sơ (1428 – 1527) trải qua 10 đời vua: Lê Thái Tổ (1428 – 1433); Lê Thái Tông (1434 – 1442); Lê Nhân Tông (1460 – 1497); Lê Hiến Tông (1497 – 1504); Lê Túc Tông 1504; Lê Uy Mục (1505 – 1509); Lê Tương Dực (1509 – 1516); Lê Chiêu Tông (1516 – 1522); Lê Cung Hoàng (1522 – 1527).

Giai đoạn Lê sơ gắn liền với tên tuổi các vị vua anh minh: Thái Tổ, Thái Tông, Thánh Tông. Đại Việt dưới thời các vị vua này phát triển rực rỡ: Nhà nước trung ương tập quyền được củng cố vững chắc, giữ yên biên giới phía Bắc, mở rộng lãnh thổ phía Nam tới Bình Định, hoạt động lập pháp đạt nhiều thành tựu đáng kể. Các vua cuối thời Lê sơ đều ham mê tửu sắc, ngu tối, bất minh khiến triều thần lộng quyền. Năm 1527, Mạc Đăng Dung giết Lê Cung Hoàng lập ra triều Mạc, giai đoạn Lê sơ kết thúc.

– Giai đoạn Lê trung hưng (1532 – 1789)

Năm 1532, một số cựu thần nhà Lê tôn Lê Duy Ninh (Lê Trang Tông) lên ngôi, nhà Hậu Lê bước vào giai đoạn Lê trung hưng. Đây là giai đoạn các vua Lê mất dần thực quyền, đất nước lâm vào tình trạng nội chiến phân liệt. Đại Việt xuất hiện cục diện nhiều chính quyền tồn tại trên một phạm vi lãnh thổ.

– Cục diện Nam, Bắc triều (1532 – 1592): Là giai đoạn Đại Việt có 2 triều đại Lê, Mạc song song tồn tại. Triều Lê sau khi tái lập đã chiếm cứ và làm chủ toàn bộ khu vực từ Thanh Hoá trở vào Nam nên lịch sử còn gọi là Nam triều. Triều Mạc sau khi thiết lập vẫn đóng đô tại Thăng Long nên gọi là Bắc triều.

– Cục diện Đàng Trong, Đàng Ngoài: Sau khi Lê Duy Ninh lên ngôi, quyền bính ở Nam triều nằm trong tay công thần Nguyễn Kim. Năm 1545, Nguyễn Kim bị đầu độc chết, vua Lê trao quyền bính cho Trịnh Kiểm (con rể của Nguyễn Kim). Để củng cố thế lực của mình, Trịnh Kiểm loại trừ ảnh hưởng của họ Nguyễn, giết hại Nguyễn Uông – con cả của Nguyễn Kim. Nhằm bảo toàn tính mạng, xây dựng lực lượng chống Trịnh, Nguyễn Hoàng (con út của Nguyễn Kim) xin vào trấn ở vùng Thuận Hoá (1558) và Quảng Nam (1570). Cục diện Đàng Trong, Đàng Ngoài xuất hiện sau khi Nguyễn Hoàng thoát khởi sự kiểm soát của vua Lê, chúa Trịnh xây dựng lực lượng cát cứ. Sau 7 lần Trịnh – Nguyễn phân tranh, sông Gianh trở thanh giới tuyến chia cắt Đại Việt. Bắc sông Gianh là đất của vua Lê – Chúa Trịnh (Đàng Ngoài), nam sông Gianh là nơi thiết lập chính quyên của chúa Nguyễn (Đàng Trong).

Thời Trung hưng với 2 cục diện Nam — Bắc triều,  Đàng Trong – Đàng Ngoài kéo dài 256 năm, tồn tại 17 đời vua Lê: Lê Trang Tông (1522 – 1548); Lê Trung Tông (1548 – 1556); Lê Anh Tông (1556 – 1573); Lê Thế Tông (1573 – 1599); Lê Kính Tông (1600 – 1619); Lê Thần Tông (1619 – 1643); Lê Chân Tông (1643 – 1649); Lê Thần Tông (1649 – 1662); Lê Huyên Tông (1663 – 1671); Lê Gia Tông (1672 – 1675); Lê Huy Tông (1676 – 1704); Lê Dụ Tông (1705 – 1729); Lê Duy Phương (1729 – 1732); Lê Thuân Tông (1732 – 1735); Lê Ý Tông (1735 – 1740); Lê Hiển Tông (1740 – 1786); Lê Man Đế (1787 – 1789).

Dòng Chúa Trịnh tồn tại 242 năm, với 11 đời Chúa: Trịnh Kiểm (1545 – 1570); Trịnh Tùng (1570 – 1623); Trịnh Tráng (1623 – 1652); Trịnh Tạc (1653 – 1682); Trịnh Căn (1682 – 1709); Trịnh Cương (1709 – 1729); Trịnh Giang (1729 – 1740); Trịnh Doanh (1740-1767); Trịnh Sâm (1767 – 1782); Trịnh Tông (1782 – 1786); Trịnh Bồng (1786 – 1787).

Dòng Chúa Nguyễn Đàng Trong tồn tại 177 năm với 9 đời Chúa: Nguyễn Hoàng (1600 – 1635); Nguyễn Phúc Nguyên (1613 – 1635); Nguyễn Phúc Lan (1635 – 1648); Nguyễn Phúc Tần (1648 – 1687);  Nguyễn Phúc Trăn (1687 – 1691); Nguyễn Phúc Chu (1691 – 1725); Nguyễn Phúc Chú (1725 – 1738); Nguyễn Phúc Khoát (1738 – 1765); Nguyễn Phúc Thuần (1765 – 1777).

Từ khu vực Thuận – Quảng các Chúa Nguyễn Đàng Trong không ngừng mở mang lãnh thổ về phía Nam. Tới năm 1708, Chúa Nguyễn đã kiểm soát tới tận mũi Cà Mau và khẳng định chủ quyền cũng như khai thác lợi ích kinh tế ở các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Lê Thánh Tông

Lê Thánh Tông tên húy là Tư Thành, được các sử gia đánh giá là vị vua tài giỏi anh minh nhất trong thời Lê sơ.

Là con vua Lê Thái Tông và bà Ngô Thị Ngọc Dao, ở ngôi 38 năm, đặt niên hiệu hai lần: Quang Thuận (10 năm) và Hồng Đức (28 năm). Ông sinh ngày 20 tháng Bảy năm Nhâm Tuất (1442). Tư Thành là cháu nội của Lê Thái Tổ.

Về Lê Thái Tông, Toàn thư chép: “Vua húy là Nguyên Long, con thứ của Thái Tổ, ở ngôi chín năm, đi tuần về miền Đông rồi băng, thọ hai mươi tuổi, chôn ở Hựu Lăng. Vua thiên tư thông minh trí tuệ, nối vận thái bình, bên trong ức chế quyền thần, bên ngoài dẹp nước di địch, trọng đạo sùng nho, mở khoa thủ sĩ, xét tù xử ngục phần nhiều rộng tha. Cũng là bậc vua giỏi thủ thành. Song ham mê tửu sắc đến nỗi thình lình băng ở ngoài là tự mình làm vậy”.

Lê Tư Thành sinh ra và lớn lên là nhờ có mẹ cùng gia đình bên ngoại. Bà Ngô Thị Ngọc Dao là con gái Ngô Từ, một dũng tướng có công bảo vệ gia đình Lê Lợi và lo việc hậu cần lương thực cho nghĩa quân Lam Sơn khi cuộc khởi nghĩa còn rất chông chên trong buổi đầu. Ngô Từ có hai vợ là bà Đinh Thị Ngọc Kế và bà Đinh Thị Son là hai cô cháu ruột (bà kế là em ông Đinh Vĩnh Thái, còn bà Son là con ông Thái theo Ngô phả). Hai bà sinh được 11 con trai và 8 con gái. Ngô Thị Ngọc Xuân (có người đọc là Thung) và Ngô Thị Ngọc Dao là hai chị em kề nhau. Bà Ngọc Xuân được tuyển làm cung phi. Khi bà Ngọc Dao đến thăm chị, Vua Thái Tông có quan hệ rồi tuyển vào cung làm Tiệp Dư và sinh ra Lê Tư Thành. Triều đình lúc này có sự lục đục, tranh giành quyền lực mà phe cánh của bà Nguyễn Thị Anh khuynh loát cho nên bà Ngọc Dao bị hắt hủi khi mang thai. Bà được Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ che chở, trốn ra chùa Huy Văn và sinh Tư Thành ở đây. Xảy ra vụ án Lê Chi Viên, toàn gia Nguyễn Trãi bị tru di, bà Ngọc Dao và cậu bé Tư Thành phải ẩn náu. Thời niên thiếu, có lẽ Lê Tư Thành sống nhiều năm ở quê mẹ là làng Động Bàng nay là xã Định Hòa, huyện Thiệu Yên. Gia phả họ Ngô ghi chép nhiều giai thoại về ông hoàng trẻ bị hắt hủi này. Và ngay ở tuổi thanh thiếu niên chàng trai Tư Thành đã tỏ ra mẫn tiệp, thông minh, có khẩu khí đế vương song lại rất đa tình, nhạy cảm.

Nghi Dân thoán nghịch giết mẹ con vua Lê Nhân Tông, tự lên làm vua. Các tể thần như Đinh Luật, Nguyễn Xí… đã liên kết lật đổ được Nghi Dân cùng bè đảng và đón Lê Tư Thành lên ngôi Hoàng đế, xưng hiệu Lê Thánh Tông.

Lê Thánh Tông là ông vua chăm lo việc nước, sáng suốt: “Vua sáng lập ra chế độ, văn vật khả quan, mở mang đất đai, cõi bờ khá rộng, thực là vị vua anh hùng tài lược… (Toàn thư). Thời Lê Thánh Tông là thời kỳ cực thịnh trong các triều đại phong kiến Việt Nam, là thời đại “Thái bình ấu ca”, nông nghiệp phát triển, “dân no đủ khắp mọi phương”.

Lê Thánh Tông còn là một thi nhân. Ông sáng lập ra Hội Tao đàn gồm có 28 vị danh sĩ đương thời, được gọi là “Tao đàn nhị thập bát tú” và tự ông lĩnh trách nhiệm Tao đàn nguyên soái. Có thể nói đây là Hội văn thư đầu tiên đất Việt Nam mà Lê Thánh Tông là chủ tịch hội vậy. Các tác phẩm thơ văn như: Hồng Đức Quốc âm thi tập (chữ Nôm), Minh Lương Cẩm tú (chữ Hán), Quỳnh uyển cửu ca (chữ Hán), Thập giới cô hồn quốc ngữ văn, Thánh Tông di thảo là tác phẩm của Hội Tao đàn, phần lớn là của Tao đàn nguyên soái Lê Thánh Tông. Các tác phẩm trên đã cho ta thấy cuộc sống nông nghiệp yên bình, cảnh đất nước non sông tươi đẹp, vua tôi thuận hòa song chủ yếu là tinh thần trách nhiệm, lo lắng cho bổn phận, chăm lo chức vụ mong muốn dân no dân yên của người đứng đầu đất nước.

Ngày 30 tháng Giêng năm Đinh Tỵ (1497) ông mất. Trước khi mất, ông còn làm một bài thơ nói lên thái độ trước cuộc sống, tình yêu cuộc sống, gắn với thiên nhiên bộc lộ một quan niệm về kiếp người trần thế:

Ngũ thập hoa niên thất xích khu

Cương trường như thiết khước thành nhu

Phong suy, song ngoại hoàng hoa tạ

Lô ấp, đình tiền lục liễu cô

Bích hán vọng cùng, vân điếu điểu

Hoàng lương mộng tỉnh dạ du du

Bồng lai sơn thượng âm dương đoạn

Băng ngọc u hồn nhập mộng vô.

Dịch thơ :

Bảy thước thân kia đã ngũ tuần

Lòng như sắt cứng cũng mềm dần

Gió rung làm héo hoa ngoài cửa

Sương rải thêm gầy liễu trước sân

Tầng biếc trông mây xa thẳm thẳm

Kẻ vàng tỉnh giấc những phân vân

Âm dương cách biệt non bồng vắng

Băng ngọc hồn thiêng nhập mộng chăng.

(chép theo Toàn thư)

Kỷ lục buồn nhà Hậu Lê: 9 vua bị giết đau đớn

Nhà Hậu Lê (1428 – 1789) chia làm hai thời kỳ là Lê sơ (1428-1527) và Lê trung hưng (1533-1789). Với 27 triều vua và gần 4 thế kỷ tồn tại, đây là triều đại kéo dài nhất trong lịch sử Việt Nam.
Do tồn tại trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động, đây cũng là triều đại nắm giữ “kỷ lục” về số vua bị giết hại…

Cái chết cay đắng của Lê Bang Cơ

Lê Nhân Tông, vị vua thứ ba của nhà Lê sơ tên thật là Lê Bang Cơ. Dù chỉ là con trai thứ ba, nhưng ông được vua cha Thái Tông phong làm Hoàng Thái tử vào năm 1441, khi mới vài tháng tuổi. Thái hậu Nguyễn Thị Anh làm Nhiếp chính cho ông từ khi mới lên ngôi báu cho đến khi ông tự thân chấp chính vào năm 1452. Lên ngôi lúc còn nhỏ, Lê Nhân Tông tỏ ra là vị Hoàng đế anh minh, biết thương dân, sùng kính Nho giáo, xem trọng nghề nông và kính cẩn tông miếu. Ông không có thói đam mê tửu sắc, và biết tôn trọng những người có công đối với Vương triều. Dưới triều Nhân Tông, nước Đại Việt thái bình thịnh trị, đời sống nhân dân ổn định, bờ cõi được bảo vệ và mở rộng.
Dù sáng suốt và nhân từ, nhưng vua Nhân Tông vẫn bị anh cả là Lê Nghi Dân oán hận và muốn đoạt ngôi vì ông chỉ là con thứ. Trong khi đó, Nhân Tông không đề phòng gì vì luôn coi Nghi Dân là anh ruột. Một đêm cuối năm 1459, Nghi Dân cùng các thủ hạ đã bắc thang vào cung cấm giết vua Nhân Tông. Khi đó ông mới 18 tuổi. Cái chết của ông khiến cho quan lại “nuốt hận ngậm đau”, và thần dân “như mất cha mất mẹ”.

Quả báo dành cho Lê Nghi Dân

Lê Nghi Dân vốn được lập làm thái tử khi mới 3 tháng tuổi (năm 1440). Ông bị mất ngôi thái tử vào tay người em Bang Cơ của mình chỉ vì mẹ bị vua thất sủng. Sau khi giết Bang Cơ năm 1459, Lê Nghi Dân
lên ngôi, đặt niên hiệu là Thiên Hưng. Do bất mãn, tháng 5/1460, các tể tướng đại thần là Đỗ Bí, Lê Ngang, Lê Thụ, Lê Ê đã bí mật bàn việc lật đổ vua Thiên Hưng. Vụ việc đó bị lộ, tất cả những người mưu phản đều bị bắt giết.

Do vua thay đổi nhiều pháp chế của đời trước, dùng những người thân tín của mình vào triều nên các cựu thần ngày càng không bằng lòng. Tháng 6/1460, các đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Lăng, Lê Niệm…lại bàn nhau làm binh biến. Sau một buổi chầu, Nguyễn Xí đã dẫn quân vào giữ chặt quân cấm binh, đóng các cửa thành và giết các bề tôi tin cẩn của vua Thiên Hưng. Hơn 100 người thuộc phe cánh của vua đã mất mạng. Bản thân Lê Thiên Hưng bị bắt, phế truất làm Lệ Đức hầu và bị thắt cổ chết khi mới 22 tuổi, ở ngôi được một năm.

“Vua quỷ” Lê Uy Mục đền mạng

Năm 1505, Lê Uy Mục lên ngôi sau khi vua Lê Túc Tông mất sớm ở tuổi 17. Trong thời gian trị vì, vị vua này đã bị gọi là “vua quỷ” vì ăn chơi vô độ, ham rượu chè, gái đẹp, tàn bạo giết hại nhiều người vô tội. Quyền hành trong triều rơi vào tay họ ngoại của vua.
Điều này làm dấy lên sự phẫn nộ trong quan lại, dân chúng cũng như dòng dõi họ Lê. Giản Tu Công Lê Oanh (vua Lê Tương Dực sau này) đã được lập làm minh chủ nổi dậy chống lại Uy Mục. Tháng 11/1509, Lê Oanh sai Cẩm Giang Vương Lê Sùng ở Tây Đô đưa quân về Đông Kinh (Hà Nội). Uy Mục có ưu thế hơn, đã bắt giết Lê Sùng và mẹ của Lê Oanh. Sau đó, Lê Oanh vào chiếm kinh thành bắt được và bức tử Lê Uy Mục. Hận Uy Mục giết hại gia đình mình, Lê Oanh còn sai người dùng súng lớn, nhét xác Uy Mục vào miệng súng, cho nổ tan hết hài cốt, chỉ lấy ít tro tàn về chôn tại quê mẹ tại làng Phù Chẩn. “Quỷ vương” Lê Uy Mục ở ngôi được 4 năm, thọ 21 tuổi.

Sau “vua quỷ”, đến lượt “vua lợn” Lê Tương Dực

Lê Oanh sinh năm 1495, là cháu nội của vua Lê Thánh Tông. Dưới thời Lê Hiến Tông, ông được phong làm Giản Tu công. Sau khi giết Lê Uy Mục, Lê Oanh tự lập mình làm vua, lấy niên hiệu là Hồng
Thuận, tức là vua Tương Dực Đế. Đi theo vết xe đổ của Lê Uy Mục, Lê Tương Dực chơi bời xa xỉ truỵ lạc, bỏ bê việc nước. Dân chúng oán ghét và khinh bỉ Tương Dực, nên gọi ông là vua lợn. Triều chính trở nên hết sức rối ren, bên ngoài khắp nơi loạn lạc.
Dù tình hình căng thẳng nhưng Lê Tương Dực không đoái hoài. Nguyên Quận công Trịnh Duy Sản là người có công trạng, nhiều lần can ngăn không được mà còn bị vua cho người đánh bằng trượng. Sản bất mãn, mưu với thái sư Lê Quảng Độ và Trình Trí Sâm lập vua khác.
Mượn tiếng đi đánh giặc, mờ sáng một ngày tháng 5/1516 Trịnh Duy Sản đem binh vào cửa Bắc Thần giết “vua lợn”. Lê Tương Dực ở ngôi được 7 năm, hưởng thọ 21 tuổi.

Cuộc đời bão tố và cái chết của Lê Chiêu Tông

Lê Chiêu Tông (1506 – 1526), có tên húy là Lê Y, chắt của vua Lê Thánh Tông, là vị vua thứ 10 của nhà Lê sơ. Lúc mới 11 tuổi, ông được đại thần Trịnh Duy Sản và Lê Quảng Độ lập làm vua khi dấy quân lật
đổ Lê Tương Dực. Trong thời gian trị vì của Lê Chiêu Tông, triều đình bị thao túng bởi Trần Chân, con nuôi của Trịnh Duy Sản. Vua nghe lời gièm pha, sợ uy quyền của Trần Chân nên sai người dụ Chân vào triều rồi giết Chân cùng các thủ hạ thân tín.

Nhóm thủ hạ còn lại của Trần Chân phục thù, mang quân từ Sơn Tây đánh kinh thành, khiến vua phải tháo chạy. Với sự lãnh đạo của Mạc Đăng Dung, quân triều đình đánh bại những kẻ nổi loạn. Dung lần lượt được phong làm Minh quận công, rồi thái phó, quyền thế dần dần át cả vua.
Chiêu Tông không muốn bị Đăng Dung khống chế, bí mật bàn cùng các nội thần hạ bệ Đăng Dung. Nhưng kế hoạch bị đổ vỡ, Chiêu Tông phải trốn chạy. Sau đó Đăng Dung tuyên bố phế truất ông và lập em ông là Lê Xuân lên ngôi (Lê Cung Hoàng). Như vậy, trong nước lúc này có 2 vua là Chiêu Tông và Cung Hoàng. Các tướng thân cận của Chiêu Tông đem quân giúp vua, khôi phục lại được thanh thế và đẩy lùi quân của mạc Đăng Dung. Nhưng do nội bộ bất hoà, nhiều tướng lại bỏ theo phe của kẻ tiếm quyền. Từ đó quân của Mặc Đăng Dung làm chủ tình hình. Ngày 28/10/1525, Mạc Đăng Dung bắt được Chiêu Tông mang về Thăng Long giam lỏng. Đến tháng 12/1526, ông bị Đăng Dung sai người giết chết, thọ 24 tuổi, ở ngôi được 6 năm.

Lê Cung Hoàng chết trong tủi nhục

Vua Lê Cung Hoàng (1507 – 1427) có tên húy là Lê Xuân là vị vua cuối cùng của Thời Lê sơ. Ông là em ruột Lê Chiêu Tông, chắt của Lê Thánh Tông, được Mạc Đăng Dung lập lên để giữ danh chính khi
Chiêu Tông trốn thoát vào năm 1522. Sau khi Chiêu Tông bị giết, vai trò lá chắn của Cung Hoàng không còn. Đã đến lúc để Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê. Ngày 15/6/1527, Mạc Đăng Dung đem quân vào kinh, bắt vua nhường ngôi. Triều thần lúc đó hầu hết đã là người của Đăng Dung hoặc theo Đăng Dung, tự khởi thảo chiếu nhường ngôi cho vua. Mạc Đăng Dung xưng hoàng đế, tức là Mạc Thái Tổ, lập ra nhà Mạc, lấy niên hiệu là Minh Đức. Lê Cung Hoàng bị giáng xuống làm Cung Vương rồi giam cùng với Hoàng thái hậu ở cung Tây Nội. Vài tháng sau, Đăng Dung ép mẹ con Cung Hoàng phải tự tử. Lê Cung Hoàng ở ngôi được 5 năm, thọ 21 tuổi.

Cuộc trỗi dậy không thành của Lê Anh Tông

Lê Anh Tông (1532 – 1573), tên thật là Lê Duy Bang, là vị vua
thứ ba của thời Lê trung hưng. Trong thời kỳ này, quyền hành của các chúa Trịnh tăng lên rất nhiều. Năm 1570, Trịnh Kiểm chết, hai con là Trịnh Cối và Trịnh Tùng tranh giành quyền bính. Trịnh Cối thất bại
phải sang hàng nhà Mạc. Năm 1572, thấy quyền hành Trịnh Tùng lớn quá, Lê Cập Đệ bàn mưu với Lê Anh Tông mưu trừ khử Tùng để lấy lại quyền bính cho nhà Lê. Kế hoạch bị lộ, Cập Đệ bị đao phủ của Trịnh Tùng giết chết. Lê Anh Tông bỏ hành cung chạy trốn cùng 4 người con trai lớn ra Nghệ An. Năm 1573, Trịnh Tùng đưa con trai thứ năm còn nhỏ tuổi của ông là Lê Duy Đàm lên ngôi vua và sai quân về Nghệ An bắt Anh Tông. Vua bị đưa về triều giám sát ngày đêm và bức chết. Khi đó ông mới 42 tuổi.

Bi kịch của Lê Anh Tông lặp lại với cháu nội Lê Kính Tông 

Lê Kính Tông (1588 – 1619), có tên húy là Lê Duy Tân, là vị vua thứ 5 của thời Lê trung hưng. Ông lên ngôi khi mới 11 tuổi.
Vào lúc này, chính quyền nhà Lê đã trở thành bù nhìn, mọi quyền hành thực sự nằm trong tay chúa Trịnh. Ông nội của Kính Tông là Lê Anh Tông (Duy Bang) đã bị Trịnh Tùng sát hại vì chống lại Trịnh Tùng.
Từ năm 1600, Trịnh Tùng đã cơ bản dẹp được nhà Mạc ở miền Bắc, mâu thuẫn mới nổi lên giữa họ Trịnh và họ Nguyễn khi Nguyễn Hoàng tự ý bỏ vào vùng Thuận – Quảng. Nhân cơ hội này, tàn dư nhà họ Mạc
lại nổi lên. Trong tình hình đó, vào năm 1619, Lê Kính Tông cùng Trịnh Xuân mưu giết chết Trịnh Tùng để giành lại địa vị. Nhưng kế hoạch thất bại, Trịnh Xuân bị tống vào ngục, còn nhà vua bị bức thắt
cổ chết. Lê Kính Tông thọ 31 tuổi, ở ngôi 20 năm.

 

Lê Duy Phường sống oan khuất, chết cay đắng

Lê Duy Phường (1709 – 1735) là vị vua thứ 12 của thời Lê trung hưng. Là cháu ngoại chúa Trịnh Cương – người nắm thực quyền khi đó – ông đã có nhiều hậu thuẫn để lên ngôi vua năm 1729, khi 21 tuổi, với
niên hiệu là Vĩnh Khánh. Tháng 10/1729, Trịnh Cương mất, con là Trịnh Giang lên nối ngôi. Cũng như các đời trước, việc triều chính do Trịnh Giang định đoạt, vua Vĩnh Khánh không có thực quyền. Trịnh Giang còn muốn thay đổi ngôi vua do Trịnh Cương đã sắp đặt để ra oai với thần hạ. Năm 1732, vua Vĩnh Khánh bị ép ra ở cung riêng. Tháng 8 năm đó, Trịnh Giang vu cho vua Vĩnh Khánh tư thông với vợ Trịnh Cương, rồi phế bỏ, lập con trưởng của Dụ Tông (anh cả của Duy Phường) là Lê Duy Tường lên ngôi, tức Lê Thuần Tông. Tháng 4/1735, Lê Thuần Tông mất, Trịnh Giang lập em Duy Phường là Lê Duy Thận làm vua, tức là Lê Ý Tông. Duy Phường bị dời đến ở một ngôi nhà ở bên ngoài. Tháng 9/1735, Trịnh Giang sai người thắt cổ giết chết ông. Lê Duy Phường ở ngôi 3 năm , thọ 27 tuổi.

Hoàng Phương

VII. NGUYỄN KIM, nội và ngoại tổ của hai dòng Trịnh – Nguyễn

Nguyễn Kim thuộc dòng dõi công thần huân tướng dòng họ Nguyễn ở Thanh Hóa.

Ông tổ xa xưa của Nguyễn Kim là Nguyễn Bặc, một nhân vật lịch sử ở thế kỷ X, là trụ cột của triều đình vua Đinh Tiên Hoàng trong buổi đầu mở nước và được phong tước Định quốc công. Định quốc công Nguyễn Bặc cùng Ngoại giáp Đinh Điền và tướng quân Phạm Hạp chống lại việc trao ngôi Hoàng Đế cho Lê Hoàn nên người thì bị giết, người thị bị bắt. Định quốc công Nguyễn Bặc trở về quê, chọn đất Gia Miêu, nay là xã Hà Long, huyện Hà Trung làm nơi sinh nghiệp, khai sáng dòng họ Nguyễn. Chi họ Nguyễn Trãi cũng từ gốc này mà ra.

Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa Lam Sơn, họ Nguyễn Gia Miêu (Hà Trung) có nhiều ứng nghĩa như các ông Nguyễn Lý, Nguyễn Công Duẩn. Nguyễn lý là một võ tướng của Lê Lợi đã tham gia nhiều trận đánh quan trọng như các trận diệt Liễu Thăng, vây Xương Giang. Còn Nguyễn Công Duẩn được xem là Bình Ngô khai quốc công thần tham gia khởi nghĩa từ buổi đầu. Khi nước độc lập, Nguyễn Lý được vua Lê Thái Tổ phong Thái úy Dụ quốc công, Nguyễn Công Duẩn được phong Thái Bảo Hoàng quốc công. Các nhân vật họ Nguyễn nổi lên các đại thần như Nguyễn Đức Trung, Nguyễn Văn Lang, Nguyễn Hoàng Dụ đều là công thần nhà Lê dưới triều Lê Thánh Tông, Lê Tương Tông, mẹ của Hiếng Tông.

Nguyễn Kim là con của Trường Quốc công Nguyễn Hoàng Dụ, cháu nội Nghĩa Huân vương Nguyễn Văn Lang, là chắt nội của Nguyễn Đức Trung.

Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi vua Lê (1588) thì Nguyễn Kim đang giữ chức Hữu vệ Điện tiền tướng quân trấn Thanh Hóa tước An thạch hầu. Ông là người đầu tiên xướng nghĩa, giương cao ngọn cờ “phò Lê diệt Mạc”. An thạch hầu Nguyễn Kim đã đem quân bán bộ kéo lên Sầm Châu (nay là miền Quan Hóa) lập căn cứ, liên hệ giao ước với vua Sa Đẩu nước Lào (Ai Lao) lúc này.

Nguyễn Kim đã tìm được Lê Ninh (có húy là Lê Huyến), con của Lê Chiêu Tông (cháu của đời Thành Tông) lúc này đang trốn tránh Mạc Đăng Dung ở châu lang Chánh. Tháng Giêng năm Quý Tỵ (1533), Nguyễn Kim cùng các tướng Trịnh Duy Thuân, Trịnh Duy Sản… tôn Lê Ninh làm vua ở đất Sầm Châu, đặt niên hiệu là Nguyên Hòa (tức vua Lê Trang Tông) lấy lại Sầm Châu làm nơi hành tại. Triều đình Lê Trung Hưng được đặt đầu tiên ở đây. Nguyễn Kim được giữ chức Thái sư thượng phu chưởng nội ngoại sư tước Hưng quốc công. Ít lâu sau, Trịnh Kiểm theo về, tỏ là người có khả năng chỉ huy, Nguyễn Kim tin dùng, lúc đầu giao cho chức Tri mã cơ, gả con gái là Ngọc Bảo cho Kiểm, về sau tới Đại tướng quân Dực quận công. Năm 1532, Mạc Đăng Doanh cho Dương Chấp Nhất là Đại tướng quân cai quản trấn Thanh Hóa để không chế quân của Nguyễn Kim. Sau đó, Đăng Doanh lại chia quyền Dương Chấp Nhất, giao cho Lê Phi Thừa cai quản một nửa trấn Thanh Hóa là các huyện Thụy Nguyễn, Vĩnh Phúc, Yên Định, Đông Sơn, Cẩm Thủy, Thạch Thành và Quảng Bình; Dương Chấp Nhất chỉ con cai quản các huyện Lôi Dương, Ngọc Lặc, Nông Cống, Tĩnh Gia, Quảng Xương, Hoằng Hóa, Hậu Lộc.

Năm Đinh Dậu (1537) Lê Phi Thừa Phản Mạc, đem quân lên Sầm Hạ đầu hàng Nguyễn Kim nên được giữ nguyên chức và phong tước hầu song về sau kiêu căng, phạm tội nên bị giết chết. Năm Kỷ Hợi (1539), triều Lê Trung Hưng vững mạnh, Nguyễn Kim đêm quân đánh chiếm các nơi ở Thanh Hóa, mở rộng đến đất Nghệ An, ông còn cử tướng Trịnh Duy Liêu sang nhà Minh để kể tội nhà Mạc, sau đó còn cử Trịnh Viên sang tiếp để làm rõ việc Mạc cướp ngôi Lê khiến nhà Minh phải cử Hàm Ninh hầu Cửu Loan làm tổng đốc quân vụ và Ninh bộ thượng thư Mao Bá Ôn làm tham tán quân vụ lấy quân các tỉnh Vân Quí, Quảng Đông, Quảng Tây mấy chục vạn để sang “hỏi tội nhà Mạc”. Nhưng nhà Mạc đút lót, van nài, việc “hỏi tội” không được tiến hành. Năm Tân Sửu (1541) Mạc Đăng Dung mất. Lúc này lực lượng nhà Lê ở Thanh Hóa lớn mạnh với các tướng như Dực quận công Trịnh Kiểm, Thụy quận công Hà Thọ trường, Hòa quận công Lại Thế Vinh… do Nguyễn Kim làm tổng chỉ huy.

Năm Quý Mão (1543), Trịnh Kiểm đem đại binh đánh Mạc. Tướng Mạc là Dương Chấp Nhất đầu hàng. Nguyễn Kim chuyển hành tại tự Dầm Châm về Tây Đô gọi là Tây Việt kinh, mở ra Nam Triều để chống với Bắc Triều (Triều Mạc) đóng ở Đông Đô.

Tháng 4 năm Ất Tỵ (1545) Hưng quốc công Nguyễn Kim rước xa giá vua Lê Trang Tông đi đánh quân Mạc ở Thanh Hóa ngoại trấn (tức Ninh Bình) và Sơn Nam Hạ (Nam Định). Quân của Nguyễn Kim đi đến huyện Yên Mô và đóng tại đây. Hưng quốc công Nguyễn Kim bị hàng tướng Mạc và Dương Chấp Nhất dâng dưa hấu có tẩm thuốc độc và ông bị chết đột ngột.

Đại diện nhà Lê phải rút quân về tây Việt Kinh (Tây Đô). Trang Tông đau xót, xuống chiếu truy phong Nguyễn Kim tước Huân Tĩnh Công ban thụy là Trung Hiếu, linh cữu đem về quê là làng Gia Miêu chôn tại Bái Trang, phong cho hai con trai là Nguyễn Uông tước Lăng quận công và Nguyễn Hoàng tước Hạ khê hầu, giao toàn quyền chỉ huy thay Nguyễn Kim cho con rể là Đô tướng tiết chế các xứ thủy bộ chư dinh kiêm nội ngoại binh chương quốc trọng sự thái sư Lượng quốc công Trịnh Kiểm.

Nguyễn Kim mất khi trọng trách của sự nghiệp Lê Trung Hưng còn rất nặng nề và được Trịnh Kiểm, tiếp tới là Trịnh Tùng hoàn thành. Thế nhưng từ Nguyễn Kim cũng mở đầu cho dòng họ Nguyễn tiến vào nam, bắt đầu từ Nguyễn Hoàng với dòng chúa Nguyễn và các vua nhà Nguyễn sau này (chín chúa, mười ba vua). Khi Gia Long lên ngôi Hoàng đế đã tôn phong Nguyễn Kim là Triệu tổ, miếu hiệu là: “ Di Mưu Thùy Dụ Khâm Cung Huệ Triết Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế Khải Vận Nhân Thánh Tĩnh Hoàng Đế” và cho xây Nguyễn miếu ở quê hương làng Gia Miêu để thờ cúng.

VIII. TRỊNH KIỂM và sự nghiệp chúa Trịnh ở phương Bắc

Sinh ngày 24 tháng tám năm Quý Hợi (1503, niên hiệu Cảnh Thống thứ 6 đời vua Hiến Tông). Ông có tên húy là Phiếu sau đổi là Kiểm. Năm lên 6 tuổi, cha là Trịnh Lâu mất, Kiểm theo mẹ là bà Hoàng Thị Dốc về Sóc Sơn (Vĩnh Lộc), nhà nghèo, mẹ con cày cuốc rau cháo nuôi nhau. Thuở thiếu niên, Kiểm là người hoạt bát, bạo tợn, thường rủ trẻ tập đánh trận làm thịt trâu trộm trong núi để “khao quân”. Chủ trâu đến bắt, lũ trẻ chạy hết, Kiểm đứng lại, sắc mặt không đổi, nói nghiêm chỉnh: “Con trâu gãy chân nằm ở rừng, thế nào cọp cũng ăn mất nên giết thịt thì có tội gì?” Người làng có ý kiêng dè, xa lánh, Kiểm phải lưu lạc trong vùng, làm thuê nuôi mẹ.

Thuở ấy, có Ninh Bang hầu Lê Văn Tư là Võ quan nhà Mạc có cơ ngơi ở quê ông là làng Biện Thượng. Trịnh Kiểm xin đến làm thuê. Ninh Bang hầu cho Kiểm nuôi và dạy ngựa ở sách Thọ Liêu thuộc đất Thạch Thành.

Năm 30 tuổi (1533) ông được anh con ông bác là Trịnh Hoàng đang theo về ngọn cờ “phù Lê diệt Mạc” của Thái tề Hưng quốc công Nguyễn Kim ở miền tây Thanh Hóa rủ Kiểm ứng mộ. Kiểm bèn lấy trộm một con ngựa tốt, luồn rừng lên sách Cổ Lùng (Quan Hóa) theo Nguyễn Kim. Thấy Trịnh Kiểm có sức mạnh hơn người, Hưng quốc công tin dùng, giao cho ông chức Trị mã cơ – chuyên lo việc luyện tập kỵ binh. Ông cùng Võ Thời An (cũng còn gọi là Vũ Thời Yên) người gốc Chiêm Thành (con cháu Võ Uy là một dũng tướng Lam Sơn thời Lê Lợi), chuyên dạy ngựa kết nghĩa anh em. Dần dần, Trịnh Kiểm trở thành cánh tay phải đắc lực của Hưng quốc công Nguyễn Kim. Đại Nam nhất thống chí ghi: “Hưng quốc công biết Trịnh Kiểm là người có tài năng, kiến thức hơn người, yêu dấu như con, đem con gái thứ là Ngọc Bảo gả cho. Kiểm giúp lập vua Lê Trang Tông, vì nhiều công lao được phong là Thái sư Lượng quốc công.”

Mọi việc phò Lê quan trọng, Nguyễn Kim đều giao cho Trịnh Kiểm trực tiếp điều khiển hoặc thi hành: đón Lê Trang Tông ở biên giới Lào – Việt, chỉ huy việc xây dựng hành doanh Vạn Lại làm kinh đô tạm thời cho Nam triều (Sử gọi thời kỳ này là thời kỳ Nam- Bắc triều, phía Bắc thuộc nhà Mạc, phía Nam thuộc nhà Lê trung hưng), vận động các phụ đạo người Mường, Thái để ứng nghĩa Cần Vương, chỉ huy quân đội đi đánh quân Mạc ở Nghệ An, Thanh Hóa, không trận nào là không thắng. Năm 37 tuổi (Kỷ Hợi – 1539) ông được phong Dực quận công Đại tướng quân. Năm 1543, Trịnh chỉ huy đánh Tây Đô (thành Nhà Hồ cũ), đón vua Lê Trang Tông về Tây Đô.

Năm 1545, Đô tướng thái sư Nguyễn Kim đem đại binh tiến đánh trấn Sơn Nam của Mạc, đến Ninh Bình thì bị hàng tướng Dương Chấp Nhất đánh thuốc độc. Nam triều của nhà Lê mất người cầm đầu, Lê Trang Tông phong Dực quận công Trịnh Kiểm làm “Đô tướng tiết chế các xứ thủy bộ chư dinh kiêm nội ngoại bình chương quân quốc trọng sự thái sư Lạng quốc công”, thay vào vị trí của bố vợ là Hưng quốc công Nguyễn Kim.

Năm 1546, Trịnh Kiểm cho xây hành điện ở Yên Trường (bên bờ sông Chu, nay là xã Thọ Lập, huyện Thọ Xuân) rước vua Lê Trang Tông về đây. Uy thế của Nam triều ngày càng lớn mạnh. Nhiều văn quan, võ tướng triều Mạc theo về Như Lê Bá Ly, Nguyễn Thiến, Nguyễn Khải Khang… các danh sĩ cũng theo về như Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh…

Năm 1533 năm Thuận Bình thứ 6 đời Lê Trang Tông, Thái sư Trịnh Kiểm sai tướng tâm phúc là Quảng quận công Phạm Đốc đem quân đánh chiếm Thuận Quảng, bờ cõi Nam triều mở ra, nước gồm châu Ái, châu Hoan, xứ Thuận Hóa và xứ Quảng Nam. Tháng 9 năm Ất Mão (1555) lại chỉ huy đánh tan cuộc hành quân lớn của Mạc Kính Điển, danh tướng nhà Mạc ở Thanh Hóa “…Quân của giặc hơn vài vạn chết gần hết, thây giặc lấp kín sông… lấy được khí giới không xiết kể.”

Năm 1556, vua Lê Trang Tông băng hà, không có con nối nghiệp. Thái sư Trịnh Kiểm vẫn trung thành với nhà Lê, cho tìm dòng dõi để nối. Mãi về sau tìm được cháu 6 đời của Lam quốc công Lê Trừ (anh ruột Lê Lợi) tên là Lê Duy Bang ở Bố Vệ huyện Đông Sơn đón lập làm vua, đặt niên hiệu là Thiên Hựu tức là vua Lê Anh Tông.

Lực lượng Nam triều dưới ngọn cờ phù Lê diệt Mạc ngày càng lớn mạnh. Trịnh Kiểm nhiều lần trực tiếp cầm quân tân công vào đất Mạc, uy danh làm rung động Bắc triều, vua Mạc Phúc Nguyên lúng túng phải ra lệnh tạm dời triều đình về Thanh Đàm (tức Thanh Liệt) để chống giữ.

Vừa lo việc quân sự, Trịnh Kiểm vừa lo việc củng cố triều đình, sai đo đạc ruộng đất hai trấn Thanh Nghệ, lập chế độ khuyến khích việc nông tang, mở các cuộc thi vọng, thi Hương để chọn nhân tài.

Năm Kỷ Tỵ (1569) vua Lê Anh Tông gia phong cho Thái sư Trịnh Kiểm là Thượng tướng Thái quốc công, tôn phong là Thượng phụ.

Cũng năm này, Đoan quận công Nguyễn Hoàng đem đồ cống và thuế má quân lương về nạp cho triều đình ở Yên Trường. Anh em gặp nhau thân mật. Trịnh Kiểm lại giao cho Nguyễn Hoàng kiêm trấn thủ hai châu Thuận Quảng, tức là một nửa nước của Nam triều.

Do làm việc quá sức, tháng hai năm Canh Ngọ, ông ốm nặng và qua đời ở tuổi 68, tạ thế ngày 24 tháng hai.

Triều đình vua Lê phong tặng ông là Minh Khang Thái Vương, ban thụy hiệu là Trung Huân.

Trịnh Tùng

Trịnh Tùng là con bà Ngọc Bảo, con gái Hưng quốc công Nguyễn Kim. Ông được học hành chu đáo, giỏi văn võ, năm 16 tuổi đã được theo chiến trận. Năm 20 tuổi được đeo ấn Bình Đông Phúc Lương Hầu, tinh thông binh pháp và nhiều mưu lược. Năm 22 tuổi, cha là Trịnh Kiểm ốm nặng rồi mất. Lúc bấy giờ Tuấn Đức hầu là Trịnh Cối (con cả Trịnh Kiểm và vợ cả là bà Lại Thị Ngọc Trân quê ở làng Long Phúc, xã Thạch Khê, huyện Thạch Hà, trấn Nghệ An) được Lê Anh Tông giao quyền tiết chế thủy bộ chư dinh để điều khiển triều đình và chỉ huy chống Mạc. Thế nhưng Trịnh Cối bất tài, ham mê tửu sắc, không thương quân lính. Các tướng giỏi như Hoàng Đình Ái, Trịnh Bách, Lê Cập Đệ, Đăng Huấn, Nguyễn Cảnh Hựu… đều theo về Trịnh Tùng. Mạc Kính Điển lợi dụng sự lục đục của Nam triều, đem binh thuyền tràn vào Thanh Hóa, Nghệ An, lại tiến công tận vào đất Thuận Quảng. Trịnh Cối đem quân đánh giữ, bị thua phải hàng Mạc, được phong chức Trung Lương hầu. Nam triều rơi vào thế lâm nguy, nhân dân Thanh Hóa vô cùng đau khổ trước sức mạnh của quân Mạc. Một số tướng sĩ nhà Lê đầu hàng Mạc. Trước tình hình đó, theo yêu cầu của các tướng lĩnh, vua Lê Anh Tông phong cho Trịnh Tùng làm Trưởng quận công tiết chế thủy bộ chư dinh, cầm quân cự Mạc.

Nhờ tài tổ chức và chỉ huy của Trịnh Tùng, quân Lê cầm cự và dần chuyển bại thành thắng. Mạc Kính Điển phải rút quân về Bắc. Trịnh Tùng tổ chức lại đời sống nhân dân, khuyến khích sản xuất, tổ chức thi cử, Nam triều lại ổn định, vững vàng.

Năm 1580, danh tướng Mạc là Kính Điển chết, nhà Mạc suy yếu.

Năm 1592, Trưởng quốc công Trịnh Tùng đem đại binh ra Bắc, tiến đánh và chiếm Thăng Long, giết vua Mạc là Mậu Hợp.

Năm 1593, Trịnh Tùng rước xa giá vua Lê về Thăng Long, hoàn thành sự nghiệp phù Lê diệt Mạc. Con cháu nhà Mạc chạy về An Quảng, về sau chạy lên Cao Bằng nương náu được 30 năm nữa.

Yên được việc chống Mạc, Trịnh Tùng lo củng cố chính sự nhà Lê Trung Hưng. Ông được ban phong Đô nguyên súy Tổng quốc chính. Đến năm 1599 lại được phong tước Vương: Bình An Vương, thượng phụ, được mở phủ chúa, cùng vua Lê lo việc nước. Thế là, bắt đầu năm 1600, thể chế vua Lê – chúa Trịnh ra đời.

Tuy có nhiều công to, được ân sủng tột bậc, Trịnh Tùng vẫn giữ phận vua tôi rất nghiêm cẩn: mỗi khi đến dự các buổi chầu vua vẫn xưng tên, vẫn đứng bình thân ở nội điện, phẩm phục mang màu tía chứ không dùng màu vàng để phân biệt danh phận vua – chúa. Sử sách coi ông là bậc anh hùng có công lớn thời Trung Hưng, làm trọn vẹn sự nghiệp mà ông ngoại Nguyễn Kim và cha là Trịnh Kiểm đã dấy lên từ năm 1533.

Năm Quý Hợi (1632) Trịnh Tùng bị bệnh kiết lỵ nặng, lập con thứ hai là Trịnh Tráng làm Thế tử. Vạn quân công Trịnh Xuân, con thứ 19 của Trịnh Tùng gây ra vụ binh biến nhằm lật đổ cha để cướp quyền nối nghiệp của anh. Vụ binh biến bị dẹp tan, Trịnh Xuân bị giết. Trịnh Tùng đau buồn cũng tạ thế ngay sau đó, thọ 74 tuổi, cầm quyền bính trong triều Lê Trung Hưng được 53 năm, miếu hiệu là Thành Tổ Triết Vương.

Dẹp tàn dư họ Mạc

Dù Mạc Mậu Hợp và sau đó là Mạc Toàn bị bắt và bị giết thì thế lực của nhà Mạc chưa bị tiêu diệt hết. Các vùng như Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng vẫn thuộc quyền quản lý của nhiều người như Mạc Kính Chỉ, Mạc Kính Cung cho tới năm 1623. Nhà Minh, vì muốn duy trì thế Nam Bắc triều ở Đại Việt có lợi cho họ nên can thiệp để họ Mạc được cát cứ ở Cao Bằng. Vì vậy cháu Mạc Kính Điển là Kính Khoan và con Khoan là Kính Vũ vẫn cát cứ ở Cao Bằng, dù về cơ bản, họ Trịnh đã làm chủ Bắc bộ và Bắc Trung bộ.

Khi nhà Minh sụp đổ (1644), các vua Nam Minh – tàn dư nhà Minh – vẫn ủng hộ họ Mạc. Họ Mạc nối nhau trấn giữ ở đây trong nhiều năm. Mãi đến khi nhà Minh mất hẳn (1662) về tay nhà Thanh, họ Trịnh mới ra tay dẹp họ Mạc. Tới năm 1677, chúa Trịnh Tạc sai tướng Đinh Văn Tả đi đánh, việc trấn giữ Cao Bằng của họ Mạc mới chấm dứt.

Trịnh – Nguyễn phân tranh

Sau khi Nguyễn Hoàng xuống phía Nam đã xây dựng căn cứ và phát triển thành một thế lực độc lập, hình thành chính quyền của họ Nguyễn. Tuy các chúa Nguyễn vẫn hợp tác với chúa Trịnh để chống nhà Mạc và vẫn đứng danh nghĩa là thần tử nhà Lê, nhưng thực tế các chúa Nguyễn vẫn cai trị các tỉnh biên giới phía Nam Đại Việt với một chính quyền độc lập. Hơn thế nữa, họ đã có công mở rộng lãnh thổ Đại Việt lên gấp đôi về phía Nam. Sau khi đánh bại nhà Mạc, sự độc lập của các chúa Nguyễn ngày càng trở nên khó chịu đối với các chúa Trịnh.

Những sự căng thẳng lên đỉnh điểm năm 1627 khi chiến tranh nổ ra giữa hai phe. Trong khi phe chúa Trịnh kiểm soát một vùng rộng lớn và đông dân cư hơn, thì chúa Nguyễn lại có nhiều ưu thế. Thứ nhất, họ chỉ muốn bảo vệ lãnh thổ của mình, họ không muốn tấn công miền bắc. Thứ hai, chúa Nguyễn có thể lợi dụng ưu thế về các tiếp xúc của mình với những người châu Âu, đặc biệt là những người Bồ Đào Nha, để mua các loại súng hiện đại của châu Âu. Thứ ba, điều kiện địa lý cũng ưu đãi cho họ, đất đai phẳng vốn thích hợp cho những quân đội được tổ chức lớn lại hiếm có ở lãnh thổ của họ, nơi núi non hầu như lan ra đến tận biển.

Chúa Nguyễn xây dựng hai giới tuyến rất vững chắc kéo dài vài dặm từ biển đến tận các ngọn đồi ở phía bắc thành Phú Xuân. Họ đã bảo vệ hai giới tuyến này chống lại nhiều cuộc tấn công của các chúa Trịnh. Trong thời gian từ 1627 đến tận 1672, hai bên giao chiến cả thảy 7 lần. Năm 1655, quân Nguyễn thắng thế vượt sông Gianh đánh Nghệ An, chiếm 7 huyện và mang theo nhiều dân cư ở đây vào khai khẩn trong nam. Năm sau quân Trịnh phản công chiếm lại.

Năm 1672, hai bên đình chiến, Tây Định Vương Trịnh Tạc và Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần lấy sông Gianh làm ranh giới chia cắt Việt Nam. Đất nước bị chia ra bởi hai gia đình cai trị. Hai bên cùng mang danh nghĩa tôn phò nhà Hậu Lê.

Dẹp yên khởi nghĩa nông dân

Các chúa Trịnh từ Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng, Trịnh Tráng, Trịnh Tạc, Trịnh Căn, Trịnh Cương đều là những chúa giỏi cai trị. Sau khi chiến tranh Trịnh – Nguyễn và Trịnh-Mạc chấm dứt, Bắc Hà yên ổn thịnh trị.

Các chúa Trịnh cai trị khá tốt, luôn giữ danh nghĩa cho vua nhà Lê. Tuy nhiên họ là người lựa chọn ra vua, họ thay thế vua và họ cũng có quyền cha truyền con nối để chỉ định nhiều quan chức hàng đầu trong triều đình. Không giống như các chúa Nguyễn, những người thường gây chiến với Chân Lạp và Xiêm La, các chúa Trịnh giữ quan hệ hòa bình hữu hảo với các nước láng giềng.

Năm 1729, Trịnh Cương chết, con là Trịnh Giang lên thay. Trịnh Giang ăn chơi trác táng, sa đọa, sửa đổi nhiều phép tắc của cha mình, giết chết hàng loạt các vị quan giỏi như Lê Anh Tuấn, Nguyễn Công Hãng, giết vua nọ lập vua kia, gian dâm với cung nữ của cha, lại gây ra thuế khóa nặng nề làm mất lòng dân. Từ đó nông dân liên tiếp nổi dậy khởi nghĩa. Đó chính là phong trào khởi nghĩa nông dân Đàng Ngoài.

Năm 1737, nhà sư Nguyễn Dương Hưng nổi dậy khởi nghĩa. Năm 1739, hậu duệ nhà Mạc (đã bị đổi họ) là Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển cùng Vũ Trác Oánh nổi dậy ở Hải Dương. Tôn thất nhà Lê là Lê Duy Mật cũng định làm binh biến ở Thăng Long để lật đổ họ Trịnh nhưng không thành nên rút ra ngoài khởi nghĩa. Đến năm 1740 đồng loạt các cuộc khởi nghĩa lớn của quận He Nguyễn Hữu Cầu, quận Hẻo Nguyễn Danh Phương và Hoàng Công Chất bùng phát. Chính sự Bắc Hà hết sức rối ren.

Trịnh Giang không khắc phục được khó khăn, lại mắc bệnh nằm bẹp dưới nhà hầm không điều hành được công việc. Trước tình hình đó, gia tộc họ Trịnh phế bỏ Trịnh Giang, lập em Giang là Trịnh Doanh lên ngôi năm 1740. Là người có tài năng, Trịnh Doanh điều chỉnh chính sách, ra tay đánh dẹp, dần dần củng cố lại tình hình Bắc bộ. Trong cuộc chinh phạt các cuộc khởi nghĩa, nổi lên tên tuổi các danh tướng Hoàng Ngũ Phúc, Bùi Thế Đạt, Phạm Đình Trọng. Đến khi Trịnh Doanh mất (1767), cơ bản các cuộc khởi nghĩa đều bị dẹp tan, chỉ còn Hoàng Công Chất và Lê Duy Mật. Con Doanh là Trịnh Sâm lên ngôi nhanh chóng dẹp nốt các cuộc khởi nghĩa này năm 1769.

Lê bại Trịnh vong, Tây Sơn khởi nghĩa

Hòa bình lâu dài với Đàng Trong kết thúc khi cuộc nổi dậy Tây Sơn ở phía nam chống lại chúa Nguyễn bùng nổ. Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn được chúa Trịnh Sâm coi là một cơ hội để kết liễu chúa Nguyễn ở miền nam Việt Nam. Năm 1774, Trịnh Sâm cử lão tướng Việp quận công Hoàng Ngũ Phúc mang quân tấn công và chiếm Phú Xuân. Quân Trịnh tiếp tục tiến về phía nam trong khi quân Tây Sơn chiếm các thành khác ở trong nam. Các chúa Nguyễn giữ Gia Định tới tận khi nó bị chiếm vào năm 1777 và dòng họ nhà Nguyễn gần như bị tiêu diệt.

Lần đầu tiên bờ cõi của Lê-Trịnh được mở rộng đến Quảng Nam.

“Truyền tộ bát đại, tiêu tường khởi họa”

Họ Trịnh từ Trịnh Kiểm đến Trịnh Sâm là truyền được 8 đời chúa. Năm 1782, Trịnh Sâm qua đời. Ngay từ khi Sâm còn sống đã diễn ra cuộc tranh giành ngôi thế tử giữa con trưởng Trịnh Tôngvà con thứ Trịnh Cán. Cán còn nhỏ nên thực chất đó là phe Tuyên phi Đặng Thị Huệ. Tuyên phi lôi kéo quận Huy là Hoàng Đình Bảo (cháu Hoàng Ngũ Phúc). Vì Tuyên phi được sủng ái nên Trịnh Cán được lập làm thế tử. Khi Sâm mất, Trịnh Cán lên thay, quận Huy phụ chính. Quân kiêu binh giúp Trịnh Tông làm binh biến giết chết quận Huy, phế bỏ Trịnh Cán và đưa Tông lên ngôi chúa, đổi tên là Khải.

Tuy nhiên từ khi Trịnh Khải lên ngôi, chính sự cũng không sáng sủa. Quân kiêu binh cậy công làm càn, cướp của, phá phách kinh đô, kể cả nhà các quan lại. Trịnh Khải không dẹp nổi.

Ngoài biên cương, sau khi quận Việp mất, thành Phú Xuân giao cho Bùi Thế Đạt. Sau Đạt cũng rút về bắc giao lại cho Phạm Ngô Cầu và Hoàng Đình Thể. Tướng sĩ kiêu ngạo, lơ là mất cảnh giác phòng bị.

Vua chúa cùng chạy

Tây Sơn không muốn trở thành kẻ bầy tôi của các chúa Trịnh và sau một vài năm củng cố quyền lực ở phía nam, tướng Tây Sơn là Nguyễn Huệ tiến ra phía bắc Đại Việt vào giữa năm 1786 với một đội quân đông đảo. Quân Trịnh bị quân Tây Sơn đánh bại và chúa Trịnh Khải phải chạy về phía bắc rồi sau đó bị bắt và tự vẫn.

Quân Tây Sơn rút về, sau đó các bầy tôi cũ lại lập con Trịnh Giang là Trịnh Bồng lên ngôi. Vua Lê mới là Chiêu Thống muốn chấn hưng nhà Lê nên triệu Nguyễn Hữu Chỉnh đang trấn thủ Nghệ An ra giúp. Chỉnh đánh tan quân Trịnh, Trịnh Bồng bỏ đi mất tích.

Tuy nhiên sau đó Nguyễn Hữu Chỉnh lại lộng quyền. Nguyễn Huệ phái Vũ Văn Nhậm ra giết Chỉnh rồi đến lượt Nhậm lại mưu cát cứ ở Bắc Hà khiến Lê Chiêu Thống phải bỏ đi lưu vong, chạy sang Trung Quốc cầu viện nhà Thanh. Vua Càn Long điều một đội quân lớn tới Đại Việt nhằm tái lập vua Lê. Quân Thanh chiếm được Thăng Long năm 1788 nhưng sau đó bị Nguyễn Huệ giáng cho một đòn nặng nề đầu năm 1789. Quân Thanh thua to, rút chạy. Nguyễn Huệ -lúc ấy đã là hoàng đế Quang Trung – sau đó được vua Thanh công nhận và chính thức thay họ Lê cai trị nướcĐại Việt. Chiêu Thống lưu vong và mất (1793) ở Trung Quốc.

Nhận định :

Các chúa Trịnh cầm quyền từ năm 1545 đến năm 1786, tổng cộng 241 năm, được 11 đời chúa. Nếu kể cả Trịnh Cối và Trịnh Cán là có 13 chúa. Xét ra đời Trịnh Khải, Trịnh Bồng ngắn và rối ren nên thường chỉ tính 8 đời cầm quyền vững vàng, thịnh trị của họ Trịnh từ Trịnh Kiểm đến Trịnh Sâm như lời sấm ngữ : “Truyền tộ bát đại, tiêu tường khởi họa.” Thời gian nắm quyền của các chúa Trịnh là dài so với các triều đại nhà Trần, Mạc, Tiền Lê, Hồ cũng như nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn sau này, ổn định đất nước trong thời Nam Bắc triều phân tranh.

Các chúa Trịnh đã tránh một số vấn đề quản lý triều đình bằng cách lựa chọn người giỏi nhất từ thế hệ trẻ họ Trịnh để cai trị đất nước. Thứ bậc anh em không được họ Trịnh coi trọng nhiều và đã có lời nói rằng đứa con thứ hai sẽ trở thành người lãnh đạo tốt hơn. Giống như các chúa Nguyễn và nhà Nguyễn sau này, các chúa Trịnh cũng gặp phải vấn đề với các cuộc nổi dậy của nông dân và việc không có ruộng đất đã trở thành một nguồn gốc gây nên các vấn đề cho triều đình.

Các chúa Trịnh chú ý tới việc giữ vững các quan hệ tốt với Trung Quốc và giữ gìn xã hội Khổng giáo hơn các chúa Nguyễn. Những người châu Âu hầu như không có lãi khi buôn bán với các chúa Trịnh, cả người Hà Lan (năm 1637) và người Anh (năm 1673) đều đã lập thương điếm nhỏ ở trung tâm Thăng Long nhưng không phát triển được.

Vào những năm sau này khi nhà Nguyễn nổi lên và cai trị toàn bộ Việt Nam, các chúa Trịnh đã bị đánh giá thấp, thậm chí lên án trong chính sử, điển hình là sách “Khâm định Việt sử Thông giám cương mục”. Nếu nhìn nhận khách quan hơn, các chúa Trịnh là người tài. Chỉ trừ Trịnh Giang, các chúa từ Trịnh Kiểm đến Trịnh Sâm đều là những vị chúa tài ba, do đó đã hoàn thành việc đánh dẹp và cai trị phía Bắc Việt Nam, giữ cho xã hội Đại Việt ổn định trong gần 2 thế kỷ. Chiến tranh Trịnh-Nguyễn diễn ra trong 45 năm giữa thế kỷ 17 nhưng trong thời gian đó Bắc Hà không có cuộc bạo loạn, chống đối nào của nông dân.

Các chúa Trịnh Căn, Trịnh Doanh và Trịnh Sâm ngoài võ công còn được đánh giá là những người hay chữ. 5 chúa đầu từ Trịnh Kiểm đến Trịnh Căn đều rất thọ (từ 68 đến 81 tuổi), hẳn các chúa cũng phải là những sống người nghiêm túc và điều độ. Các thành tựu của nhà Lê Trung Hưng thực chất là thành tựu do các chúa Trịnh.

Hiển nhiên với ngôi vị “phi đế phi bá”, vừa thực sự là người cầm trịch trong bộ máy chính quyền, vừa phải cảnh giác với sự nổi dậy đòi quyền của họ Lê, các chúa Trịnh phải luôn có thái độ cứng rắn, cương quyết, không thể ôn hòa để nhằm bảo vệ địa vị của mình. Do đó việc phế lập tại triều đình trong cuộc đấu tranh đó là khó tránh khỏi. Các vua Lê thời Trung Hưng chỉ có cách bằng lòng sống chung với họ Trịnh mới có thể tồn tại. Tuy nhiên trong thời phong kiến việc lấn át quyền lực của nhà vua làm cho các chúa Trịnh bị mang tiếng mãi cùng với lịch sử. Họ Trịnh suy tàn bắt đầu từ thời Trịnh Giang lên nắm quyền hành. Trịnh Giang ăn chơi trác tán, giết vua này, lập vua kia, tư thông với cung nữ của cha, xây dựng nhiều chùa chiền làm hao tổn sức dân. Vì những việc đó họ Trịnh quyết định đưa Trịnh Doanh lên thay nhằm cải cách lại đất nước, đối xử tốt với vua Lê nên đã phần nào cải thiện lại được tình hình, tuy nhiên sang thời Trịnh Sâm tình hình lại xấu đi vì Trịnh Sâm kiêu căng ngạo mạn, ăn chơi xa xỉ, sửa sang phép tắc mô hình trong cung một cách bừa bãi, không quyết đoán, đố kị người hiền, ham mê chiến trận quá mức khiến đất nước kiệt quệ và điều gì đến sẽ phải đến họ Trịnh trượt dốc nhanh chóng rồi bị Tây Sơn đánh đổ một cách dễ dàng, Trịnh Khải phải dùng dao cắt cổ tự tử.

Các đời chúa Trịnh:

1

Trịnh Kiểm

1556-1570

2

Trịnh Tùng

1570-1623

3

Trịnh Tráng

1623-1657

4

Trịnh Tạc

1657-1682

5

Trịnh Căn

1682-1709

Trịnh Vĩnh

6

Trịnh Cương

1709-1729

7

Trịnh Giang

1729-1740

8

Trịnh Doanh

1740-1767

Trịnh Bính

9

Trịnh Sâm

1767-1782

12

Trịnh Bồng

1786-1787

10

Trịnh Cán

1782-1786

11

Trịnh Khải

1782-1782

IX. CÁC CHÚA NGUYỄN

Chúa Nguyễn là cách gọi chung trong sử sách và dân gian về một số nhà cai trị các vùng đất từ Thuận Hóa (phía nam đèo Ngang hiện nay) vào miền nam của Việt Nam, bắt đầu vào đầu giai đoạn Lê Trung Hưng của nhà Hậu Lê, hay giữa thế kỷ 16, cho đến khi bị nhà Tây Sơn tiêu diệt năm 1777. Họ là tiền thân của nhà Nguyễn, triều đại cuối cùng của Việt Nam.

Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê và lập ra nhà Mạc. Nguyễn Kim (1468-1545), một tướng giỏi của nhà Hậu Lê, nhờ giúp vua Lê chống lại nhà Mạc nên được phong chức Thái Sư Hưng Quốc Công. Về sau, nhà Nguyễn thống nhất đất nước, truy tôn ông là Triệu tổ Tĩnh hoàng đế. Con gái ông, tên Ngọc Bảo, lấy chúa Trịnh Kiểm; hai người con trai cũng là tướng giỏi được phong chức Quận công. Vì người con trai lớn, Nguyễn Uông, bị Trịnh Kiểm giết nên người con trai còn lại là Nguyễn Hoàng xin vua Lê cho vào cai trị vùng đất Thuận Hóa để xa Chúa Trịnh. Tổng cộng có chín chúa Nguyễn.

Nguồn gốc

Theo phả hệ họ Nguyễn, các chúa Nguyễn là dòng dõi họ Nguyễn ở Gia Miêu, Tống Sơn, Thanh Hóa và là con cháu của Định Quốc công Nguyễn Bặc nhà Đinh. Một số tài liệu nghiên cứu của các nhà chuyên môn đã khẳng định các chúa Nguyễn không phải là con cháu Nguyễn Trãi. Thế thứ các đời họ Nguyễn ở Gia Miêu từ thế kỷ 10 như sau:

1. Nguyễn Bặc

2. Nguyễn Đê

3. Nguyễn Viễn

4. Nguyễn Phụng

5. Nguyễn Nộn

6. Nguyễn Thế Tứ

7. Nguyễn Minh Du

8. Nguyễn Biện

9. Nguyễn Sử

10. Nguyễn Công Duẩn (hay Chuẩn)

11. Nguyễn Đức Trung

Sử sách thường ghi Nguyễn Kim – cha của chúa Nguyễn đầu tiên Nguyễn Hoàng – là con của An Hòa hầu Nguyễn Hoằng Dụ, là cháu của Nguyễn Văn Lang (người tham gia cùng Lê Tương Dực khởi binh giành ngôi của Lê Uy Mục) và là chắt của Nguyễn Đức Trung. Và sử cũng ghi Nguyễn Văn Lang là em Nguyễn Thị Hằng, hoàng hậu của Lê Thánh Tông. Sự thực không phải như vậy.

Theo tác giả Đinh Công Vĩ, khảo cứu 7 nguồn gia phả họ Nguyễn khác nhau tại sách ‘‘Nhìn lại lịch sử’’, các phả họ Nguyễn nói chung có sự khác nhau về vấn đề khẳng định hoặc không khẳng định việc đưa Nguyễn Trãi vào, cho rằng ông là cha của Nguyễn Công Duẩn; còn thông tin từ đời Nguyễn Đức Trung trở đi, các gia phả đều thống nhất rằng: Nguyễn Hoằng Dụ chỉ là em họ của Nguyễn Kim. Theo đó, Nguyễn Công Duẩn sinh 7 con trai, sau phân thành 7 chi. Chỉ xét 4 chi:

1. Chi đầu là Nguyễn Đức Trung, sau được phong Thái úy Trình quốc công. Ông là tổ họ Nguyễn Hữu, sinh được 14 con, trong đó con gái thứ 2 là Nguyễn Thị Hằng. Thái phó Tĩnh quốc công Nguyễn Hữu Dật là hậu duệ của ông.

2. Chi 4 là Nguyễn Như Trác, sau được phong Thái bảo Phó quốc công. Ông là tổ của dòng hoàng tộc Nguyễn Phước, sinh Nguyễn Văn Lựu. Văn Lựu sinh ra Nguyễn Kim.

3. Chi 5 là Nguyễn Văn Lỗ, sau được phong Thái úy Sảng quốc công. Ông là tổ họ Nguyễn Gia (Liễu Ngạn, Bắc Ninh), sinh ra Nguyễn Văn Lang, Văn Lang sinh Nguyễn Hoằng Dụ. Ôn Như hầu Nguyễn Gia Thiều là hậu duệ của ông.

4. Chi 7 là Nguyễn Bá Cao, sau được phong Thái phó Phổ quốc công. Ông là tổ họ Nguyễn Cửu, sinh được 2 trai. Phó tướng Nguyễn Cửu Kiều là hậu duệ của ông.

Theo thông tin từ đó, Hoàng hậu Trường Lạc Nguyễn Thị Hằng, vợ Lê Thánh Tông là chị họ công thần Nguyễn Văn Lang của vua Lê Tương Dực và Nguyễn Kim là anh họ Nguyễn Hoằng Dụ.

Còn một minh chứng nữa mà tác giả Đinh Công Vĩ nêu ra: Ở Triệu miếu (Huế) và Nguyên miếu (Gia Miêu ngoại trang) chỉ thờ Nguyễn Văn Lựu là cha đẻ của Nguyễn Kim mà không thờ Nguyễn Hoằng Dụ – cha Nguyễn Kim như sử chép. Mặt khác, mộ cha Hoằng Dụ là Nguyễn Văn Lang ở làng Tam Quy xã Hà Tân, Hà Trung, Thanh Hoá chỉ do con cháu chi 5, nay đã đổi ra họ Đỗ Nguyễn trông nom, họ Nguyễn Phúc không có nhiệm vụ trông nom mộ Nguyễn Văn Lang. Trong các nguồn gia phả, có cuốn do Quỳnh Sơn hầu Nguyễn Lữ là em ruột Nguyễn Văn Lang soạn năm 1515, khi đó những người đang được đề cập còn sống.

Chín chúa Nguyễn:

1. Nguyễn Hoàng tức Chúa Tiên (1525-1613), con út của Nguyễn Kim, xưng Chúa năm 1558, có 10 con trai và 2 con gái. Một người con gái lấy chúa Trịnh Tráng. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Thái tổ Gia Dụ Hoàng đế.

2. Nguyễn Phúc Nguyên tức Chúa Sãi hay Chúa Bụt (1563-1635), con trai thứ sáu của Chúa Tiên, kế nghiệp năm 1613 vì các anh đều chết sớm và một anh bị Chúa Trịnh giữ tại Đàng Ngoài, có 11 con trai và 4 con gái. Chúa Sãi là người đầu tiên trong dòng họ mang họ Nguyễn Phúc. Tương truyền lúc mẹ ngài có thai chiêm bao thấy có vị thần đưa cho một tờ giấy trên có đề chữ “Phúc”. Lúc kể lại chuyện, mọi người chúc mừng bà và đề nghị đứa bé ra đời được đặt tên là “Phúc”. Nhưng bà nói rằng, nếu chỉ đặt tên Phúc cho đứa bé thì chỉ một mình nó hưởng, để cho nhiều người trong dòng họ được hưởng phúc, bà đề nghị lấy chữ này làm chữ lót. Và khi thế tử ra đời bà đặt tên là Nguyễn Phúc Nguyên. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Hi Tông Hiếu Văn hoàng đế.

3. Nguyễn Phúc Lan tức Chúa Thượng (1601-1648), con trai thứ hai của Chúa Sãi, kế nghiệp năm 1635 vì anh trưởng chết sớm, có 3 con trai và 1 con gái. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Thần Tông Hiếu Chiêu hoàng đế.

4. Nguyễn Phúc Tần tức Chúa Hiền (1620-1687), con trai thứ hai của Chúa Thượng, kế nghiệp năm 1648 vì cả anh lẫn em đều chết sớm, có 6 con trai và 3 con gái. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Thái Tông Hiếu Triết hoàng đế.

5. Nguyễn Phúc Thái tức Chúa Nghĩa (1650-1691), con trai thứ hai của Chúa Hiền, kế nghiệp năm 1687 vì anh trưởng chết sớm, có 5 con trai và 5 con gái. (Theo Nguyễn Phúc tộc thế phảthì Chúa Nghĩa là Nguyễn Phúc Thái; còn Nguyễn Phúc Trăn không có, mà chỉ có Nguyễn Phúc Trân, em kế của Chúa tức Cương quận công.) Chúa Nghĩa là người dời đô đến Huế. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Anh Tông Hiếu Nghĩa hoàng đế.

6. Nguyễn Phúc Chu tức Chúa Minh (còn gọi là Quốc Chúa) (1675-1725), con trai trưởng của Chúa Nghĩa, kế nghiệp năm 1691, có 38 con trai và 4 con gái. Chúa Minh là người đầu tiên sai sứ sang nhà Thanh để xin phong vương nhưng không được nhận vì nhà Thanh vẫn xem vua Lê của Đàng Ngoài là vua của toàn xứ Việt lúc đó. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông làHiển Tông Hiếu Minh hoàng đế.

7. Nguyễn Phúc Chú tức Chúa Ninh (1697-1738), con trai trưởng của Chúa Minh, kế nghiệp năm 1725, có 3 con trai và 6 con gái. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Túc Tông Hiếu Ninh hoàng đế.

8. Nguyễn Phúc Khoát tức Vũ Vương (còn gọi là Chúa Vũ) (1714-1765), con trai trưởng của Chúa Ninh, kế nghiệp năm 1738, có 18 con trai và 12 con gái. Vì năm 1744 vào dịp tết Nguyên Đán có một cậy sung nở hoa và một lời sấm “Bát thế hoàn trung đô” Đến lúc này Chúa Trịnh đã xưng vương nên Nguyễn Phúc Khoát cũng gọi mình là Vũ Vương vào năm 1744 và xem Đàng Trong như một nước độc lập. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Thế tông Hiếu Vũ hoàng đế.

9. Nguyễn Phúc Thuần tức Định Vương (còn gọi là Chúa Định) (1754-1777), con trai thứ 16 của Vũ Vương, kế nghiệp năm 1765, không có con. Khi còn sống, Vũ Vương đã có ý định cho con trai thứ chín là Nguyễn Phúc Hiệu nối ngôi. Sau khi Nguyễn Phúc Hiệu chết, và con ông hãy còn quá nhỏ, Vũ Vương định cho con trai thứ hai của mình là Nguyễn Phúc Luân (hay Nguyễn Phúc Côn, là cha của vua Gia Long sau này) nối ngôi. Khi Vũ Vương chết, một vị quan lớn trong triều là Trương Phúc Loan giết Nguyễn Phúc Luân và lập Nguyễn Phúc Thuần để dễ kiềm chế lúc đó mới 12 tuổi, lên ngôi. Năm 1777 ông bị nhà Tây Sơn giết khi ở tuổi 26, chưa có con nối dõi. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Duệ Tông Hiếu Định hoàng đế.

10.Nguyễn Phúc Dương được lên ngôi chúa sau khi Lý Tài ép Nguyễn Phúc Thuần nhường ngôi cho con của anh mình. Lúc ấy chúa Nguyễn chia làm 2 phe: Một bên là Nguyễn Phúc Thuần, Nguyễn Phúc Ánh (Gia Long) và một bên là Nguyễn Phúc Dương, Lý Tài. Năm 1777 cả hai phe đều bị nhà Tây Sơn tiêu diệt, riêng Nguyễn Phúc Ánh chạy thoát thân.

Xung đột với chúa Trịnh – Mở đất Nam Bộ – Chính sự suy yếu

Chiếm được Thủy Chân Lạp và nhiều lần can thiệp vào tình hình Cao Miên (Campuchia), sự phát triển cơ nghiệp các chúa Nguyễn lên tới cực thịnh. Năm 1744, Nguyễn Phúc Khoát chính thức xưng vương, tức là Nguyễn Vũ Vương, tỏ ý ngang hàng với các chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, danh hiệu mà các đời trước vẫn chỉ xưng là “Công”.

Sau khi xưng vương, Nguyễn Phúc Khoát đặt ra nhiều nghi lễ, phong tục để trở thành nước độc lập với Đàng Ngoài. Ngoài ra, chúa Nguyễn còn tăng cường xây dựng cung điện, đền đài nguy nga. Các quan lại, tôn thất cũng đua nhau xây cất. Vì thế dân gian phải phục dịch và đóng nhiều thuế hơn trước. Nhiều nông dân bị bóc lột bần cùng.

Hệ thống thuế của chúa Nguyễn rất cồng kềnh và phức tạp. Năm 1741, Vũ Vương ra lệnh truy thu thuế của cả những người đã bỏ trốn với gia đình họ, tới năm 1765 lại ra lệnh truy thu thuế của 10 năm trước. Giai cấp quý tộc và địa chủ tìm nhiều cách để chiếm đoạt đất đai của dân để hưởng thụ xa hoa. Sử ghi lại rằng đại thần Trương Phúc Loan, sau một trận lụt phải trải vàng ra khắp sân nhà để phơi, từ xa trông lại sáng chóe một góc. Nhiều nông dân bị phá sản. Điều đó khiến mâu thuẫn xã hội Đàng Trong trở nên gay gắt.

Năm 1765, Nguyễn Phúc Khoát qua đời, chính sự họ Nguyễn rối ren quanh việc chọn người lên ngôi chúa. Vũ Vương vốn trước lập con thứ 9 là Hiệu làm Thế tử, nhưng Hiệu mất sớm, để lại người con là Dương. Con cả của Vũ Vương là Chương cũng đã mất. Đáng lý ra theo thứ tự khi Vũ Vương mất, phải lập người con thứ hai là Luân lên ngôi, nhưng quyền thần Trương Phúc Loan nắm lấy triều chính, tự xưng là “Quốc phó”, giết Luân mà lập người con thứ 16 của Vũ Vương là Thuần mới 12 tuổi lên ngôi, tức là Định Vương, để dễ bề thao túng. Trong triều đình cũng như bên ngoài dư luận nhiều người bất bình vì khi Luân đã chết thì ngôi chúa lẽ ra phải thuộc về Nguyễn Phúc Dương.

Chống Tây Sơn

Nhân cơ hội đó, năm 1771, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ khởi binh ở Tây Sơn, với danh nghĩa ủng hộ Nguyễn Phúc Dương. Năm 1773, quân Tây Sơn chiếm thành Quy Nhơn (Bình Định).

Quân Trịnh ở phía bắc đánh vào. Chúa Nguyễn không địch nổi hai kẻ địch phải bỏ chạy vào Gia Định. Tây Sơn bèn đầu hàng Trịnh để đánh Nguyễn. Năm 1777, Nguyễn Huệ đem quân vào đánh chiếm Gia Định, quân Tân Sơn truy lùng gắt gao, cả Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Phúc Dương cùng một số quan lại đã bị bắt và bị giết.

Con Nguyễn Phúc Luân là Nguyễn Phúc Ánh đã bắt đầu sống một mình long đong vất vả và dần dần thu thập binh lính từ các nơi về đảo Thổ Châu và lấy lại Sài Gòn rồi tiến ra Bình Thuận. Sau khi đã củng cố lực lượng, năm Canh Tý 1780, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi Vương tại Gia Định và xưng là Nguyễn Vương. Sự nghiệp của các chúa Nguyễn dày công xây dựng 200 năm đã tiêu tan và lịch sử bước sang một trang mới.

Kiêng huý

Người Đàng Trong kỵ húy các chúa Nguyễn nên đọc biến âm một số từ ngữ:

Tên chúa Tiên là Hoàng nên đổi họ Hoàng thành Huỳnh, chữ “hoàng” cũng đọc là “huỳnh” (như lưu huỳnh)

Nguyễn Phúc Khoát là “Vũ Vương”, nên người họ Vũ ở Đàng Trong đổi thành họ Võ.

Chữ “Phúc” đọc thành “Phước” để tránh chữ “Phúc” trong họ Nguyễn Phúc của vua chúa nhà Nguyễn.

Chữ “Cảnh” là tên Nguyễn Phúc Cảnh (con cả Nguyễn Ánh, người được Ánh đưa sang Pháp làm con tin để đổi lấy sự giúp đỡ đánh Tây Sơn) đọc là “kiểng”, nên “cây cảnh” gọi là “cây kiểng”

Chữ “Kính” là tên Nguyễn Hữu Kính, người khai lập Sài Gòn phải đọc chệch là “kiếng” nên “tấm kính” gọi là “tấm kiếng”

Chữ “Tông” là tên Nguyễn Phúc Miên Tông, tức vua Thiệu Trị (cháu nội Nguyễn Ánh), phải đọc là “tôn”. Do đó một loạt sử sách chép miếu hiệu các vua như Lý Thánh Tông, Lê Thánh Tông, Trần Thái Tông, v.v… đều ghi là Lý Thánh Tôn, Lê Thánh Tôn, Trần Thái Tôn, v.v… Đến tận sau này một số sách sử thời hiện đại vẫn bị ảnh hưởng này và chép miếu hiệu các vua từ “Tông” thành “Tôn”. Các tên đường phố tại miền nam Việt Nam, mà tên gọi là miếu hiệu các vị vua, hiện nay cũng đa phần ghi Tông thành Tôn. Chẳng những thế, một dòng họ hoàng tộc, cũng vốn phải đọc là “Tông Thất”, nhưng vì kiêng húy chữ Tông này nên phải đọc thành “Tôn Thất”.

Chữ “Thì” là tên thời nhỏ Nguyễn Phúc Thì của vua Tự Đức nên đọc thành Thời

Chữ “Nhậm” là tên chữ Nguyễn Phúc Hồng Nhậm của vua Tự Đức nên đọc thành Nhiệm

Ngoài ra còn nhiều chữ kiêng húy nữa nhưng ít ảnh hưởng đến đời sống xã hội hơn.

X. MƯỜI BA VUA NHÀ NGUYỄN

Vua Gia Long (1762-1820)

Vua Minh Mạng (1791-1841)

Vua Thiệu Trị (1807-1847)

Vua Tự Đức (1829-1883)

Vua Dục Đức (1853-1883)

Vua Hiệp Hòa (1847-1883)

Vua Kiến Phúc (1869-1884)

Vua Hàm Nghi (1871-1943)

Vua Đồng Khánh (1864-1889)

Vua Thành Thái (1879-1954)

Vua Duy Tân (1900-1945)

Vua Khải Định (1895-1925)

Vua Bảo Đại (1913-1997)

1. Gia Long (1762 – 1820)

Thời Trịnh Nguyễn phân tranh, năm Ất Dậu (1765), Chúa Vũ Nguyễn Phúc Khoát mất. Quyền thần Trương Phúc Loan chuyên quyền thay Chúa đổi ngôi, đưa Nguyễn Phúc Thuần mới 12 tuổi lên ngôi Chúa để dễ bề khống chế. Từ đó Ðàng Trong bắt đầu đi vào con đường suy thoái, sưu cao thuế nặng, khắp nơi đều vang lên tiếng than oán và cuối cùng dẫn đến việc ba anh em nhà Tây Sơn khởi nghĩa năm Quí Tỵ (1773). Lợi dụng lúc Ðàng Trong có nội loạn, Chúa Trịnh xua quân qua sông Linh Giang tấn công Phú Xuân (Huế). Phú Xuân thất thủ, tôi chúa họ Nguyễn phải chạy vào Gia Ðịnh, chấm dứt sự nghiệp của Chúa Nguyễn ở Ðàng Trong.

Trong số người chạy loạn có Nguyễn Ánh lúc bấy giờ mới 13 tuổi. Nguyễn Ánh là con của hoàng tử Nguyễn Phúc Côn và bà Nguyễn Thị Hoàng. Nguyễn Ánh (hay Nguyễn Phúc Ánh) sinh ngày 15 tháng Giêng năm Nhâm Ngọ (1762), thuở thiếu thời đã tỏ ra là một con người có chí và thông minh vì thế rất được Chúa yêu, tuy còn nhỏ nhưng ông được Chúa phong cho chức Chưởng sứ, ông đã tỏ ra là một tướng cầm quân có tài.

Năm Tân Dậu (1777), Nguyễn Huệ đem quân vào đánh chiếm Gia Ðịnh, Chúa tôi họ Nguyễn phải bỏ thành kéo tàn quân chạy về Ðịnh Tường, Cần Thơ. Quân Tây Sơn truy lùng gắt gao, bắt được và giết Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương, Nguyễn Ánh bắt đầu một cuộc sống long đong và vất vả.

Vài năm sau, Nguyễn Ánh lấy lại được Sài Côn (Saigon) rồi tiến ra lấy lại Bình Thuận. Năm Canh Tí (1780) Nguyễn Ánh lên ngôi Vương ở Gia Ðịnh. Năm Nhâm Dần (1782), thấy thế lực Nguyễn Vương ngày càng mạnh, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ kéo quân vào đánh, Saigon thất thủ, Nguyễn Vương lại bôn tẩu về Hà Tiên rồi chạy ra đảo Phú Quốc.

Nguyễn Vương vốn là con người có chí nên ông bất chấp gian khổ, canh cánh trong lòng một mối thù phục quốc. Chính vì thế nên khi biết được Giám mục Pháp Bá Ða Lộc (Pigneau de Béhaine), người có uy tín và thế lực tại Pháp thời bấy giờ đang ở Ðàng Trong , Nguyễn Vương không ngần ngại cho mời giám mục tới và nhờ giám mục làm sứ giả trong việc cầu viện Pháp. Nguyễn Vương đã để cho con trưởng của mình là Nguyễn Phúc Cảnh mới 4 tuổi theo Giám mục Bá Ða Lộc sang Pháp làm con tin.

Trong thơ cho Vua Pháp (Louis XVI), Nguyễn Vương xin Pháp giúp 1.500 lính và tàu bè, súng ống, vật dụng. Ðể đền bù, Pháp được độc quyền buôn bán ở nước Việt Nam, nhường cho nước Pháp đảo Côn Lôn (Côn đảo), và cảng Hội An (có sách nói là cảng Ðà Nẵng).

Giám mục Bá Ða Lộc ký được hiệp ước Versailles với Pháp ngày 28-11-1787, vua Pháp giao trách nhiệm thi hành hiệp ước cho một ông tướng đóng quân ở Ấn Ðộ nhưng ông nầy không thích Giám mục Bá Ða Lộc nên nói ra với vua Pháp và cũng vì nước Pháp đang bị nội loạn nên rốt cuộc vua Pháp không thi hành hiệp ước. Chờ mãi không được, Giám mục Bá Ða Lộc bỏ tiền riêng để mướn một số lính đánh thuê rồi trở về Việt Nam. Năm 1789 thì Giám mục và Hoàng tử về đến Gia Ðịnh.

Khi đưa con đi rồi Nguyễn Vương cũng từ giã mẹ và vợ để sang Xiêm La (Thái Lan) cầu cứu. Tới tháng 6 năm 1784 thì vua Xiêm cho tướng Chiêu Tăng và Chiêu Sương đem 20 vạn quân và 300 chiếc thuyền sang giúp Nguyễn Vương. Lúc đầu quân Xiêm đại thắng chiếm nhiều tỉnh Kiên Giang, Trà Ôn, Sa Ðéc. Sau đích thân Nguyễn Huệ đem đại quân vào đánh, quân Xiêm thua bỏ chạy về nước, Nguyễn Vương cũng chạy theo về Xiêm La lánh nạn.

Tháng 5 năm Bính Ngọ (1786), Nguyễn Huệ theo kế của Nguyễn Hữu Chỉnh tiến chiếm Phú Xuân rồi rồi thừa thắng tiến ra Thăng Long (Hà Nội) diệt họ Trịnh. Việc Nguyễn Huệ ra Bắc làm cho Nguyễn Nhạc (anh của Nguyễn Huệ) nghi ngờ nên cũng vội vã đem quân ra Bắc, hai anh em gặp nhau ở Thăng Long rồi cùng về. Nguyễn Huệ được đóng quân ở Phú Xuân và được phong là Bắc Bình Vương. Từ đó anh em Tây Sơn đã có mầm móng bất hoà, nhiều lần hai anh em đã đem quân đánh nhau.

Vì ham tranh quyền nên anh em Tây Sơn đã không ngó ngàng gì đến các xứ Ðàng Trong nhất là từ Qui Nhơn (Bình Ðịnh) trở vào, lợi dụng thời cơ đó, Nguyễn Vương đã cùng với các bộ tướng cũ, tháng 9 năm Ðinh Mùi (1787), trở về nước. Nguyễn Vương đã được dân miền Nam giúp đỡ rất nhiều, có nhiều tướng giỏi đến phò như Võ Tánh, nên chẳng mấy chốc lực lượng Nguyễn Vương đã lớn mạnh. Ðông Ðịnh Vương Nguyễn Lữ phải bỏ Gia Ðịnh trở về Qui Nhơn. Nguyễn Vương lấy toàn bộ xứ Gia Ðịnh đặt làm bản doanh rồi bắt đầu tổ chức việc cai trị. Năm Canh Tuất (1790) Nguyễn Vương cho đắp lại thành Gia Ðịnh theo kiểu bát quái có 8 cửa xây bằng đá ong.

Thấy Nguyễn Vương lớn mạnh, tháng 3 năm Nhâm Dần (1782) vua Thái Ðức Nguyễn Nhạc nhà Tây Sơn đem quân vào đánh nhưng bị quân Nguyễn Vương đánh lui. Kể từ đó về sau, quân Tây Sơn luôn thất bại khi đem quân vào đánh.

Ở Phú Xuân, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lại tiến quân ra Bắc diệt nhà Lê rồi cho Ngô Văn Sở và Ngô Thời Nhiệm ở lại để cai trị Bắc Hà. Vua Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc cầu viện nhà Thanh. Nhà Thanh sai Tôn Sĩ Nghị đem 20 vạn quân sang đánh. Ðược tin, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Ðế ở Phú Xuân lấy hiệu là Quang Trung thống lãnh đại quân tiến ra Bắc đánh tan 20 vạn quân nhà Thanh, Tôn Sĩ Nghị phải chạy thoát thân bỏ quên cả ấn tín.

Năm Nhâm Tý (1792) vua Quang Trung băng hà, con là Quang Toản lên ngôi mới 10 tuổi, vì thế Vương nghiệp triều Tây Sơn nhanh chóng rơi vào suy vong.

Ðược tin vua Quang Trung băng hà, Nguyễn Vương rất vui mừng, đẩy mạnh việc chuẩn bị đánh Tây Sơn. Dưới trướng Nguyễn Vương lúc bấy giờ có nhiều quan chức người nước ngoài như Dayot (Ông Trí), Philippe Vannier (Ông Chấn), Guilloux, Laurent Barisy (Ông Mân), De Forçant (Ông Lăng), Jean Baptiste Chaigneau, Olivier de Puymanel (Ông Tín), Theodore Lebuen. Những quan chức nầy là những cố vấn kỹ thuật cho Nguyễn Vương trong lãnh vực quân sự, vũ khí, đấp thành, v.v…

Cuộc chiến kéo dài đến năm Tân Dậu (1801) Nguyễn Vương chiếm lại được Phú Xuân, và ngày mồng 2 tháng 5 năm Nhăm Tuất (1802) Nguyễn Vương lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long. Lên ngôi xong vua Gia Long đưa quân tiến ra đất Bắc, quân Tây Sơn tan rã lần hồi. Ðến tháng 6 cùng năm thì vua Gia Long đã thống nhất được sơn hà, chấm dứt cuộc chiến tranh kéo dài gần 300 năm.

Ngài ra lệnh quật mả vua Nguyễn Nhạc và vua Nguyễn Huệ lên, đem vứt thây đi còn đầu thì đem bỏ giam trong ngục tối (có sách viết là đốt thây thành tro rồi đổ xuống sông, còn sọ thì làm gáo đựng nước tiểu).

Vua sai sứ sang Tàu cầu phong và xin đổi quốc hiệu là Nam-Việt, nhưng vì trùng với quốc hiệu của nước Nam-Việt của Triệu Đà ngày trước (có bao gồm phần đất nay ở bên Tàu), nên Thanh triều mới đổi chữ Việt lên trên, gọi là Việt-Nam để cho khỏi lầm với nước cũ.

Vua bỏ chức Tể tướng, lập ra 6 bộ, đứng đầu mỗi bộ là quan Thượng Thư:

-Bộ Lại : coi việc khảo xét công trạng, thảo những tờ chiếu sắc, v.v…

-Bộ Hộ : coi việc đinh điền thuế má, tiền bạc, v.v…

-Bộ Lễ : coi việc tế tự, tôn phong, cách thức học hành thi cử, v.v…

-Bộ Binh : coi việc binh lính, v.v…

-Bộ Hình : coi việc pháp luật, v.v…

-Bộ Công : coi việc làm cung điện, dinh thự, v.v…

Ngài lập Văn Miếu ở các trấn thờ đức Khổng Tử. Mở trường lớn ở Kinh đô để dạy con các quan và các sĩ-tử (sau nầy vua Minh Mạng đổi tên là Quốc Tử Giám). Mở khoa thi Hương để kén lấy những người có học ra làm quan…

Vua Gia Long không theo đạo Thiên Chúa dù Ngài rất biết ơn Giám mục Bá Ða Lộc và có nhiều thiện cảm với các giáo sĩ, nhưng Hoàng tử Cảnh đã chịu nhiều ảnh hưởng của đạo khi ở chung với Giám mục Bá Ða Lộc. Một lá thư của Cha Lelabousse viết vào tháng 6-1792 cho biết : “Trong buổi lễ được tổ chức vào khoảng cuối tháng 7-1789, Hoàng tử Cảnh nhất định không đến lạy trước bàn thờ tổ tiên đã làm cho Nguyễn Vương đau khổ tủi nhục và tức giận, vứt bỏ phẩm phục, mũ miện, nói rằng ông là một người cha bất hạnh.”

Nhưng vua vẫn một lòng kính trọng Giám mục, trong một lá thư của Giám mục viết cho Hội truyền giáo hải ngoại năm 1795, Giám mục kể rằng trong năm đó có mười chín ông quan trong triều đình viết sớ đưa lên cho Nguyễn Ánh xin Ngài thận trọng đừng để Giám mục lo việc giáo huấn Hoàng tử Cảnh. Nguyễn Vương nổi trận lôi đình, vứt sớ xuống đất và kể những công trạng của Giám mục đối với gia đình và sự nghiệp của Vương. Nguyễn Ánh hăm dọa là sẽ phạt thẳng tay những người có ý nghĩ xấu nầy. Xong Vương vào hậu cung kể lại cho vợ nghe và hai người quyết định là giấu chuyện nầy không cho Giám mục biết.

Ngày 19 tháng 12 năm Canh Thìn (3-2-1820) vua Gia Long băng hà thọ 58 tuổi (theo Trần Trọng Kim thì Ngài mất năm 1819).

Hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh sanh ngày 2 tháng 3 năm Canh Tý (6-4-1780) tại Gia Ðịnh, con của Nguyễn Ánh và bà Tống Thị Lan (sau là Thừa Thiên Cao Hoàng hậu).

Năm 4 tuổi, Hoàng tử được gởi theo Giám mục Bá Ða Lộc sang Pháp cầu viện, tới năm 1789 mới trở về với gia đình. Mùa xuân năm Quí Sửu (1792) Hoàng tử lên 14 tuổi, Nguyễn Vương lập ông làm Ðông Cung, phong chức Nguyên Súy Quận công, chọn các đại thần giúp đỡ để ông quen chuyện chính trị. Trong các phụ đạo (thầy dạy) có Trịnh Hoài Ðức, Lê Quang Ðịnh và Ngô Tùng Châu.

Năm Ðinh Tỵ (1797) ông theo Nguyễn Vương đi đánh Qui Nhơn, rồi đánh Quảng Nam, khi quân trở về Thái tử tâu xin cho soạn Hiển trung chư thần liệt truyện để chép truyện các bậc tôi trung đời trước để khuyến khích mọi người, được Nguyễn Vương chấp thuận.

Mùa Xuân năm Tân Dậu Thái tử bị bệnh đậu mùa và mất vào ngày 7 tháng 2 năm Tân Dậu (20-3-1801), thọ 22 tuổi. Ông có hai người con trai. Con trưởng là Nguyễn Phúc Mỹ Ðường (còn có tên là Ðán), con thứ là Nguyễn Phúc Mỹ Thùy (còn có tên là Kính). Ông Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể là cháu năm đời của Hoàng tử Cảnh.

2. Vua Minh Mạng tên là Nguyễn Phúc Ðảm, sanh năm Tân Hợi (1791) tại làng Tân Lộc, tỉnh Gia Ðịnh, con thứ tư của vua Gia Long và bà Thuận Thiên Trần Hoàng hậu. Khi Hoàng tử Cảnh mất thì Ngài được lập làm Thái tử, khi vua Gia Long băng hà, theo di chiếu Ngài lên nối ngôi, lúc nầy đã 30 tuổi và đổi niên hiệu là Minh Mạng.

Ngài tiếp tục việc tu sửa lại kinh thành Huế, công trình kiến trúc quan trọng nhất dưới thời Minh Mạng là cửa Ngọ Môn. Các sách đều khen ông là một nhà vua văn võ kiêm toàn (nhưng theo một lá thư của một vị Giám mục người Pháp thì Vua không có tài văn chương gì cả mà chỉ do các ông quan nịnh bợ Vua hùa theo ca tụng). Vua Minh Mạng bắt đầu một cuộc cải cách từ nội trị đến ngoại giao.

Về mặt nội trị, nhà vua bỏ hầu hết các dinh, các trấn mà thành lập các tỉnh (31 tỉnh), thành lập Nội các và Cơ mật viện để cùng với vua bàn chuyện nước (tới thời Bảo Ðại mới bị giải tán). Ngài lập Quốc Tử Giám, bắt đầu mở các khóa thi Hội, thi Ðình để lấy tiến sĩ (tới thời Khải Ðịnh mới bị giải tán). Lập Quốc sử quán để góp nhặt những chuyện làm quốc sử. Phát thưởng cho những ai tìm được sách cũ hay làm ra sách mới v.v…

Các nước láng giềng xa gần đều gởi sứ thần đến thông hiếu và vua cũng cử nhiều phái đoàn đến các nước đó để ban giao. Năm Mậu Tuất (1838) vua Minh Mạng đổi tên nước là Ðại Nam.

Ngài không thích đạo Thiên Chúa nên không cho người ngoại quốc vào giảng đạo ở trong nước, Ngài có ra dụ (sắc lệnh) nói rằng: “Ðạo phương Tây là tả đạo, làm mê hoặc lòng người và hủy hoại phong tục, cho nên phải nghiêm cấm để khiến người ta phải theo chính đạo.” Năm ấy ở Huế có một người giáo sĩ phải xử giảo, và các nơi cũng rối loạn vì sự bắt đạo và giết đạo.

Cũng vì việc cấm đạo Thiên Chúa cho nên sự buôn bán với người nước ngoài cũng bị cản trở vì Triều đình thấy thỉnh thoảng khi có chiếc tàu buôn lại thì lại có một vài người giáo sĩ Thiên Chúa giáo trên đó nên càng lạnh nhạt với người nước ngoài. Vua từ chối không tiếp một tàu ngoại quốc nào cả ngay cả tàu Pháp. Hai ông quan người Pháp (Chaigneau và Vannier) làm trong triều đình từ thời Gia Long thấy vua Minh Mạng có vẻ không thích người ngoại quốc nên cũng xin từ chức rồi đem gia đình trở về Pháp.

Sau nầy vua Pháp có gởi sứ giả sang xin bang giao với Việt Nam nhưng vua Minh Mạng không tiếp, nước ta coi như bế quan tỏa cảng từ đó.

3.Thiệu Trị (1807-1847)

Vua Minh Mạng băng hà, người con trưởng của vua là Hoàng Tử Nguyễn Phúc Tuyền, húy là Miên Tông sinh năm Ðinh Mão (1807) được di mệnh nối ngôi lấy niên hiệu là Thiệu Trị. Sách nói vua Thiệu Trị là một người hiền hoà, siêng năng cần mẫn nhưng không có tính hoạt động như vua cha. Mọi việc đều noi theo cũ không có gì đổi mới.

Ông nổi tiếng là ông vua thi sĩ, có để lại rất nhiều bài thơ, nổi tiếng nhất là hai bài thơ chữ Hán có tên là Vũ Trung Sơn Thủy (cảnh trong mưa) và Phước Viên văn hội lương dạ mạn ngâm (Ðêm thơ ở Phước Viên). Cả hai bài không trình bài theo lối thường mà theo lối “Hồi văn”, nghĩa là chữ viết được bố trí thành năm cái vòng tròn đồng tâm, mỗi vòng tròn có một số chữ, đếm mỗi bài có 56 chữ, ứng với một bài thơ thất ngôn bát cú, nhìn vào như một “trận đồ bát quái”, vua có chỉ cách đọc và đố là kiếm ra 64 bài thơ trong đó nhưng tới nay chưa ai kiếm ra được hết.

Dưới thời nầy đất Nam-kỳ có nhiều giặc giã, dân Chân-Lạp nổi loạn và quân Tiêm-La sang đánh phá, vua phải dùng binh đánh dẹp mãi tới năm Thiệu Trị thứ bảy (1847) mới yên được.

Từ khi vua Thiệu Thị lên ngôi thì việc cấm đạo Thiên Chúa mới nguôi đi được một ít, nhưng triều đình vẫn ghét đạo, và những giáo sĩ ngoại quốc vẫn còn bị giam ở Huế. Có người đưa tin ấy cho trung tá nước Pháp tên là Favin Lévêque coi tàu Héroïne, ông nầy đem tàu vào Ðà Nẵng xin cho năm người giáo sĩ được tha. Năm Thiệu Trị thứ năm (1845) có người Giám mục tên Lefèbvre phải án xử tử. Thiếu tướng nước Pháp là Cécile biết, sai quân đem tàu Alcmène vào Ðà Nẵng lĩnh giám mục ra.

Năm Ất Tỵ (1847) quan nước Pháp biết rằng ở Huế không còn giáo sĩ bị giam nữa, mới sai đại tá De Lapierre và trung tá Rigault de Genouilly đem hai chiếc chiến thuyền vào Ðà Nẵng, xin bỏ những chỉ dụ cấm đạo và để cho người trong nước được tự do theo đạo mới. Lúc hai bên còn đang thương nghị về việc ấy thì quan nước Pháp thấy thuyền của ta đóng gần tàu của Pháp và ở trên bờ lại thấy có quân ta đắp đồn lũy, mới nghi có sự âm mưu gì chăng bèn phát súng bắn đắm cả những thuyền ấy, rồi nhổ neo kéo buồm ra bể.

Vua Thiệu Trị thấy vậy tức giận vô cùng, lại có dụ (sắc lệnh) ra cấm người ngoại quốc vào giảng đạo và trị tội những người trong nước đi theo đạo. Vài tháng sau thì vua lâm bệnh nặng.

Nguyễn Phúc Hồng Bảo là con trưởng của vua Thiệu Trị (nhưng lại không phải là con của chánh phi Phạm Thị Hằng mà là con của bà phi Ðinh Thị Hạnh). Bảo vốn là người ham chơi, không chịu học hành, tối ngày chỉ lo đánh bạc. Vua Thiệu Trị có la rầy nhiều lần nhưng không được.

Khi vua lâm bệnh nặng, cho đòi các quan đại thần vào trối. Trương Ðăng Quế, Võ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương và Lâm Duy Hiệp vào chầu. Ngài phán rằng Hồng Bảo tuy lớn nhưng ngu độn, ít học, chỉ ham vui chơi, nối nghiệp không đặng, con thứ hai là Hồng Nhậm, thông minh, ham học giống vua có thể cai trị nước được. Vua yêu cầu các quan phải thi hành tờ di chiếu của vua để lại. Triều thần khóc, bái lạy và gọi Hồng Nhậm đến trao ấn và kiếm. Hồng Bảo được tin, tức giận đem thân binh vào nhưng bị quan Phạm Thế Lịch đem quân cản lại chỉ để cho một mình Hồng Bảo vào mà thôi. Hồng Bảo vào gặp vua lạy lục, vua quay mặt đi không trả lời, Phạm Thế Lịch và Vũ Văn Giải đưa Hồng Bảo ra hậu cung và cầm giữ ở đó. Mấy ngày sau thì vua băng hà tại điện Càn Thành (1847), làm vua được 7 năm, thọ 40 tuổi (theo Nguyễn Phúc tộc gia phả).

4.Tự Ðức (1824-1883)

Hồng Nhậm lên ngôi lúc 19 tuổi, lấy niên hiệu là Tự Ðức, việc lên ngôi của Tự Ðức bị nhiều người nghi ngờ nên cũng có người chống. Hồng Bảo (anh Tự Ðức) âm mưu với một số người để tìm cách giành lại ngai vàng. Việc bại lộ, Hồng Bảo bị hạ ngục và bị kết án tử hình. Tự Ðức tha chết cho anh nhưng cho lệnh giam lại, nhưng không hiểu sao Hồng Bảo thắt cổ chết trong ngục (có sách viết là bị ép uống thuốc độc). Cái chết của Hồng Bảo trở thành một nghi án. Vua Tự Ðức sợ sau nầy sử không chép đúng sự thật nên tự mình kể lại cuộc đời của mình và cho khắc vào bia đá lớn để lại cho hậu thế, bia nầy ngày nay vẫn còn ở trong lăng Tự Ðức.

Người ở trong nước chia ra làm bốn hạng là : sĩ, nông, công, thương. Sĩ : là hạng người chuyên nghề đi học, thầy thuốc, thầy bói, v.v… những nghề phong lưu nhàn hạ. Nông : là hạng người chuyên nghề làm ruộng. Công : là hạng người làm thợ hoặc làm một công nghệ gì để lấy lợi (dệt vải, làm mắm muối, v.v…). Thương : là hạng người làm nghề buôn bán.

Ðời vua Tự Ðức có rất nhiều loạn lạc (giặc Cờ Đen, Cờ Vàng, Cờ Trắng, nội loạn, phò Lê diệt Nguyễn v.v…) và cũng là giai đoạn đầu mà Pháp đánh Việt Nam.

Năm Tự Ðức thứ 9, có chiến thuyền “Catinat” vào cửa Ðà Nẵng rồi cho người đem thư lên trách triều đình Việt Nam về việc giết đạo Thiên Chúa. Không được trả lời, quân Pháp bắn phá các đồn lũy rồi bỏ đi. Có ông Giám mục Pellerin trốn được lên tàu. Giám mục Pellerin về Pháp thuật lại cho triều đình Pháp cảnh các giáo sĩ Thiên Chúa giáo bị đàn áp dã man ở Việt Nam, và nói rằng chỉ cần có loạn là các tín đồ Thiên Chúa giáo sẽ nổi lên đánh giúp, lại có bà Hoàng hậu Pháp Eugénie rất sùng đạo nên cũng nói giúp ông Pellerin. Pháp Hoàng mới quyết ý sang đánh nước ta.

Tháng 7 năm Tự Ðức thứ 11 (1858), Trung tướng Pháp là Rigault de Genouilly đem tàu Pháp và tàu Y-pha-nho (Espagne) cả thảy 14 chiếc vào cửa Ðà Nẵng bắn phá rồi hạ thành An Hải và thành Tôn Hải. Theo dự trù, trung tướng Rigault de Genouilly tính tiến đánh Huế sau khi hạ Ðà Nẵng nhưng chờ hoài mà chẳng thấy tín đồ Thiên Chúa giáo nổi loạn lại thấy quân ta đổ xuống ngày càng đông, quân Pháp lại không quen khí hậu nên ngã bệnh cũng nhiều. Trung tướng Rigault de Genouilly gây lộn với Giám mục Pellerin và viết thư về Pháp kể tình hình, Giám mục Pellerin giận bỏ về Mã Lai. Thấy đánh Huế chưa nổi, ông trung tướng Pháp đổi ý, quay qua đánh Gia Ðịnh vì là nơi dễ lấy hơn và là vùng trù phú hơn.

Ðầu năm sau trung tướng Rigault de Genouilly dẫn quân Pháp và Y-pha-nho vào cửa Cần Giờ, đánh thành Gia Ðịnh, chỉ trong 2 ngày thì thành vỡ. Quan hộ-đốc Vũ Duy Ninh tự vận. Quân Pháp san phẳng thành trì làm bình địa. Xong trung tướng Pháp lại đem quân trở ra Ðà Nẵng đánh một trận ở đồn Phúc Ninh, quân ông Nguyễn Tri Phương thua phải rút về giữ đồn Nại Hiên và đồn Liên Trì. Trung tướng Rigault de Genouilly cũng bệnh nên xin về Pháp nghỉ, thiếu tướng Page sang thay, ông đề nghị việc giảng hoà, cốt chỉ xin được tự do giảng đạo Thiên Chúa và được buôn bán với nước ta nhưng triều đình Huế lúc đó chỉ còn những ông quan già, chỉ biết đạo Nho thà chết để giữ nước, không chịu nhục, không phải là người biết mềm mỏng trong vấn đề ngoại giao nên Vua cũng phải nghe theo.

Ðến năm 1862 thì quân Pháp đã chiếm luôn Biên Hoà và Vĩnh Long. Triều đình mới chịu phái hai ông Phan Thanh Giản và ông Lâm Duy Tiếp vào Nam giảng hoà với Pháp ngày 9 tháng 5 năm Nhâm Tuất (1862).

Trong bản hoà ước ấy (12 khoản) có những khoản như sau :

-Nước Việt Nam phải để cho giáo sĩ Thiên Chúa Giáo nước Pháp và nước Y-Pha-Nho được tự do giảng đạo và để dân gian được tự do theo đạo.

-Nước Việt Nam phải nhượng đứt cho nước Pháp tỉnh Biên Hoà, tỉnh Gia Ðịnh và tỉnh Ðịnh Tường và phải để cho chiến thuyền của Pháp ra vào tự do ở sông Mékong (Cửu Long).

Vua Tự Ðức bắt buộc phải nhường 3 tỉnh Nam kỳ cho Pháp nhưng trong bụng vẫn muốn lấy lại vì là đất khai nghiệp của nhà Nguyễn nên đã phái ông Phan Thanh Giản, ông Phạm Phú Thứ và ông Ngụy Khắc Ðản đem phẩm vật sang nước Pháp và nước Y-Pha-Nho để xin chuộc lại 3 tỉnh miền Nam. Vua Pháp hẹn sẽ suy nghĩ lại rồi trả lời sau, nhưng ông bộ trưởng hải quân và thuộc địa Pháp Chasseloup-Laubat không chịu trả đất cho Việt Nam nên nói ra, vua Pháp nghe lời.

Triều đình Huế cũng nghĩ là Pháp sẽ không ngừng ở đó nên sai ông Phan Thanh Giản vào trấn giữ Miền Nam. Năm Tự Ðức thứ 20 (1867), thiếu tướng De la Grandière kéo quân đánh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Ông Phan Thanh Giản biết thế chống không nổi nên bảo các quan nộp thành trì cho đỡ đổ máu rồi uống thuốc độc tự vận. Toàn đất Nam Kỳ thuộc về Pháp, thuế má, luật lệ điều gì cũng do Pháp quyết định cả. Nước Pháp tạm ngừng cuộc chinh phục tại đây.

Quân Pháp lấy Bắc kỳ lần thứ nhất : 6 năm sau, ở miền Bắc có ông Jean Dupuis (Tên phiên âm là Ðồ Phổ Nghĩa) chuyên buôn bán vũ khí, ông ta tìm đường sông để chở hàng qua Tàu và kiếm ra đường sông Hồng nhưng bị quân triều đình làm khó dễ vì ông ta không có giấy phép. Jean Dupuis ngạo mạn kiếm chuyện gây gổ với triều đình rồi sai người phụ tá tên Millot vào Saigon tìm gặp viên Thống đốc Nam kỳ là Thiếu tướng hải quân Dupré để kể tình hình và xin trợ giúp. Thiếu tướng Dupré là người đã để ý tới vùng Bắc kỳ từ lâu, ông đã viết thư về Paris xin lấy luôn đất Bắc kỳ nhưng bên Pháp lúc bấy giờ đang yếu vì chiến tranh với nước Thổ nên ra lệnh không được gây sự ở Bắc kỳ. Khi được Millot đến đốc thúc thì ông Dupré quyết định hành động, ông viết thư cho Paris nói là xin được tự quyết định, ông không cần viện trợ, nếu chuyện không thành thì ông sẽ lãnh hết trách nhiệm.

Dupré sai Trung úy hải quân Françis Garnier đem quân ra Hà Nội giả nói là để giải quyết chuyện xích mích của Jean Dupuis rồi kiếm chuyện để bắn vào thành Hà Nội sáng hôm rằm năm Quí Dậu (1873). Chỉ một giờ thì thành vỡ, tướng Nguyễn Tri Phương bị thương nặng, Pháp bắt tính giải về Saigon nhưng Nguyễn Tri Phương không cho băng bó và nhịn ăn chết. Thành Hà Nội thất thủ, quân ta không hiểu chuyện gì hết nên cứ thấy quân Pháp là bỏ chạy, chỉ trong 20 ngày mà mất 4 tỉnh.

Lúc bấy giờ có tướng Tàu là Lưu Vĩnh Phúc đầu đảng của “giặc Cờ Đen” về hàng triều đình Huế, vua Tự Ðức phong cho chức Ðề đốc để phụ đánh quân Pháp. Lưu Vĩnh Phúc đem quân về đánh thành Hà Nội. Françis Garnier đem quân ra nghênh chiến thì bị phục kích chết ở Ô Cầu Giấy. Paris biết chuyện nên triệu Thiếu tướng Dupré về Pháp trị tội, Thiếu tướng Dupré tìm cách đỡ tội nên sai ông Ðại úy hải quân Philastre ra Hà Nội để trả lại thành và 4 tỉnh bị chiếm. Hai bên ký hoà ước năm Giáp Tuất (1874) trong đó triều đình Huế công nhận cả miền Nam là thuộc về Pháp và Pháp cũng bồi thường lại cho Việt Nam bằng tàu bè và súng ống.

Quân Pháp lấy Bắc kỳ lần thứ hai : Năm 1881, có hai người Pháp tên là Courtin và Villeroi được giấy thông hành đi lên Vân Nam (bên Tàu) nhưng khi đi đến Lào-Kay thì bị loạn quân cản trở không đi được, viên Thống đốc Le Myre de Vilers bèn gởi thư về Pháp nói rằng nên chiếm luôn Bắc kỳ để bảo đảm sự lưu thông buôn bán với Tàu. Lúc đó nước Pháp đã hồi phục lại sinh lực nên cũng có ý bành trướng ở Nam Á. Năm 1882, Thống đốc một mặt gởi thư cho triều đình ta nói là Vua bất lực, đất nước loạn ly, Pháp phải trấn an đất Bắc để bảo vệ quyền lợi của dân Pháp, một mặt gởi Ðại tá hải quân Henri Rivière ra Hà Nội, gởi tối hậu thư cho quan Tổng đốc Hoàng Diệu bắt phải hàng. Ðúng 8 giờ sáng thì quân Pháp tấn công, 11 giờ thành đổ, ông Hoàng Diệu treo cổ tự tử.

Viên Khâm sai Pháp ở Huế là Rheinart sang thương thuyết, trong đó đòi nước Nam phải nhận nước Pháp bảo hộ và nhường thành Hà Nội cho Pháp. Nhiều người trong Triều đình nói rằng : “Nước ta trong còn Lưu Vĩnh Phúc, ngoài còn nước Tàu, lẽ nào bó tay mà chịu.” nên từ chối. Sau đó Triều đình cho người sang cầu cứu với nước Tàu, triều đình nhà Thanh được dịp bèn gởi quân qua đóng hết các tỉnh Bắc Ninh và Sơn Tây. Quân Pháp thấy quân Tàu tràn qua biên giới nên cũng xua quân đánh luôn. Ðại tá Henri Rivière cũng bị quân Cờ Đen giết tại Ô Cầu Giấy.

Ðúng lúc nầy thì vua Tự Ðức mất ngày 16 tháng 6 năm Quí-Mùi (1883) trị vì 36 năm, thọ 55 tuổi.

5. Dục Ðức (1853-1883)

Vua Tự Ðức vì lúc nhỏ bị bệnh đậu mùa nên lớn không có con, nên vua có xin 3 người con trai của 2 người em làm con nuôi.

Vua nhường ngôi lại cho con trưởng Ưng Chân, phong 3 ông đại thần Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tuờng và Tôn Thất Thuyết làm phụ chính để giúp tân vương. Thảm kịch bắt đầu từ mấy câu di chiếu của Vua Tự Ðức viết về đạo đức và trách nhiệm của Ưng Chân:

“Vì tiên liệu Trẫm đã nuôi sẵn ba con. Ưng Chân lớn tuổi nhất, từ lâu đã đến tuổi trưởng thành, tuy nhiên mắt hơi có tật, dù xưa nay vẫn dấu kín, sợ sau nầy không còn thấy sáng, tánh lại hiếu dâm, vì tâm tính rất xấu, không chắc đảm đương nổi việc lớn. Nhưng đất nước cần có vua lớn tuổi. Trong thời thế khó khăn nầy không dùng Ưng Chân thì dùng ai ? …”

Ngày 17-7-1883 Dương lịch, vua Tự Ðức băng hà tại điện Càn Thành. Theo di chiếu Hoàng tử Ưng Chân vào chịu tang và coi như là vua kế vị, niên hiệu là Dục Ðức.

Ba ngày sau (20-7-1883) là lễ đăng quang của vua Dục Ðức tại điện Thái Hoà. Quan Phụ chính Trần Tiễn Thành đứng ra đọc Di chiếu, tới đoạn nói về tật xấu của vua, ông hạ giọng đọc rất thấp (có sách nói là không đọc) thì lúc bấy giờ quan Phụ chính Nguyễn Văn Tường nhảy ra nắm áo ông và nói lớn :

-Tại sao ông không đọc đoạn tiên đế nói đến những gì Ngài nghĩ về Ưng Chân ?

Xong ông Tường cho người khác ra đọc lại di chiếu, đọc vừa xong cái đoạn nói về thói hư tật xấu của vua Dục Ðức thì ông Tôn Thất Thuyết cắt ngang lời người đọc và nói :

-Ðây là đoạn mà ông Thành đã không chịu đọc, phải xin ngưng buổi lễ để xin ý kiến của Thái Hậu và đình thần xem thử phải làm gì !

Sở dĩ hai ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết dám làm vậy vì trước đó hai ngày họ đã dâng lên Hoàng Thái Hậu Từ Dũ tờ hạch tội buộc cho vua Dục Ðức ba tội lớn :

-Muốn sửa di chiếu

-Có đại tang mà mặc áo màu

-Hư hỏng, ăn chơi.

Trước áp lực của hai ông Tường và Thuyết, bà Hoàng Thái Hậu Từ Dũ phải đồng ý, hai ông Phụ chính liền truất ngôi của vua Dục Ðức và quản thúc ông ngay tại Dục Ðức đường. Nhà học của ông bỗng trở thành nhà tù giam. Ông Dục Ðức làm vua chỉ vỏn vẹn có 3 ngày. Sau đó ông bị chuyển qua giam tại Thái Y Viện và cuối cùng chết vì đói và khát tại Ngục Thất Thừa Thiên để lại 8 bà vợ, 11 người con trai và 8 người con gái. (Vua Dục Ðức là cha của vua Thành Thái và là ông nội của Vua Duy Tân).

Quan Ngự Sử Phan Ðình Phùng có lên tiếng can ngăn liền bị bắt giam rồi bị cách chức đuổi về quê.

6. Hiệp Hòa (1847-1883)

Ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết tôn em của vua Tự Ðức là Lạng Quốc Công, tên là Hường Dật, lên làm vua, đặt niên hiệu là Hiệp Hoà.

Vua Hiệp Hoà thấy hai ông đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết lộng hành quá bèn tìm cách loại trừ bằng cách thay đổi chức tước của hai ông cho bớt binh quyền. Hai ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết biết là vua không tin dùng mình nên liền âm mưu lập ông Dưỡng Thiện là con nuôi thứ ba của vua Tự Ðức lên làm vua rồi bắt ép vua Hiệp Hoà uống thuốc độc chết. Vua Hiệp Hoà chỉ làm vua được hơn 4 tháng.

Ông phụ chính Trần Tiễn Thành lên tiếng phản đối nên bị hai ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết ra lệnh giết luôn.

Trong lúc đó thì Pháp vẫn tiếp tục chiếm các tỉnh của Việt Nam (cửa Thuận An, thành Hải Dương…), Triều đình Huế thất thế xin hoà. Hoà ước Quí Mùi (1883) ra đời trong đó nước Nam chịu nước Pháp bảo hộ và phải nhường một số đất cho Pháp. Triều đình ta có ra lệnh ngừng đánh, phải rút quân về Huế nhưng một mặt quân đội Tàu không nghe lệnh Triều đình Huế, một mặt còn nhiều người yêu nước và tin vào thế lực của Tàu nên có nhiều người không chịu rút quân mà vẫn đánh Pháp, do đó chiến tranh với Pháp vẫn tiếp diễn, Triều đình Huế bất lực.

7. Kiến Phúc (1869-1884)

Ông Dưỡng Thiện, tên là Ưng Ðăng là con nuôi thứ ba của vua Tự Ðức lên ngôi vua lấy niên hiệu là Kiến Phúc. Vua chỉ có 15 tuổi, mọi việc đều do ông Tường và ông Thuyết quyết định cả.

Có nhiều ông quan thấy vậy liền trả ấn lại cho triều đình, từ quan rồi đi chiêu mộ binh mã đánh Tây.

Có sách nói rằng Ưng Ðăng được tin triều đình tới rước mình về làm Vua, Ưng Ðăng sợ quá chui xuống gầm giường trốn, mọi người phải lôi ra, ông la hét khóc lóc thảm thiết nhưng vẫn bị đem lên kiệu đưa về cung. Ông viện đủ mọi cách để từ chối nhưng vẫn bị hai ông Tường và Thuyết ép phải lên ngôi. Vua Kiến Phúc ở ngôi được có hơn 6 tháng thì phải bệnh mất ngày 6 tháng 4 năm Giáp Thân (1884). Có sách nói rằng Vua bị ông Tường thuốc chết vì Vua bắt gặp ông Tường đang tư tình với bà Học phi Nguyễn Thị Hương, mẹ nuôi của vua. Để bịt miệng Vua, lợi dụng lúc Vua đang bệnh ông Tường bỏ thuốc độc vào thuốc trị bệnh của Vua.

Sau khi ký hiệp ước Quí Mùi với nước ta, quan Toàn quyền Harmand ra Bắc kỳ để sửa sang sự cai trị, lập ra đội lính tuần cảnh, tục gọi là lính “khố xanh” và bãi đội lính cờ vàng mà Thiếu tướng Bouet đã mộ được. Quân Pháp tiến chiếm Sơn Tây, Bắc Ninh, Ðáp Cầu, Hưng Hóa, Tuyên Quang, …

Vì biết nước Tàu quá đông nên Pháp cũng muốn làm hoà, chánh phủ Pháp sai Trung tá Fournier lên Thiên Tân để nghị hoà với Tổng đốc Tàu Lý Hồng Chương. Hai bên ký hoà ước Fournier năm Giáp Thân (1884) trong đó Tàu chấp nhận là Pháp bảo hộ nước Việt Nam.

Nước Pháp có sai ông Công sứ Patenôtre từ Tàu sang Huế để sửa lại tờ hoà ước của ông Harmand đã ký ngày 23 tháng 7 năm Quí Mùi (1883), rồi đến ngày 13 tháng 5 năm 1884 Dương lịch, ông Patenôtre cùng với ông Nguyễn Văn Tường, ông Phạm Thận Duật và ông Tôn thất Phan ký tờ hoà ước mới (hoà ước Patenôtre), trong đó Triều đình Huế chấp nhận sự bảo hộ của Pháp và chia nước ra làm 2 khu vực là Trung kỳ và Bắc kỳ, trên giấy tờ thì mỗi kỳ có một cách cai trị khác nhau (với Trung kỳ Pháp bảo trợ chứ không phải bảo hộ) nhưng trên thực tế thì từ từ Pháp bảo hộ tất cả, Triều đình Huế chỉ là hư vị mà thôi. Pháp bắt Việt Nam phải trả cái ấn của Tàu phong cho vua Việt Nam nhưng ông Nguyễn Văn Tường thương lượng để đem cái ấn đó ra mà nấu chảy.

8. Hàm Nghi (1871-1943)

Sau khi vua Kiến Phúc mất rồi, đáng lẽ con nuôi thứ hai của vua Tự Ðức là ông Chánh Mông lên ngôi mới phải. Nhưng hai ông Tường và ông Thuyết sợ lập vua lớn tuổi thì các ông ấy mất quyền hành nên chọn ông Ưng Lịch là em ruột ông Chánh Mông mới 12 tuổi, tôn lên làm vua, đặt niên hiệu là Hàm Nghi.

Viên Khâm sứ Rheinart thấy hai ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết cứ tự tiện lập vua không hỏi ý ông trước đúng như đã giao kết nên gởi quân vào Huế bắt Triều đình phải xin phép. Ông Thuyết và Tường phải làm tờ xin phép bằng chữ Nôm nhưng viên Khâm sứ không chịu, bắt làm bằng chữ Nho (chữ Tàu), hai ông phải viết lại, viên Khâm sứ mới chịu và sau đó đi cửa chính vào điện làm lễ phong vương cho vua Hàm Nghi.

Năm sau (1885), Thống Tướng De Courcy được chánh phủ Pháp cử sang Việt-Nam để phụ lực vào việc đặt nền bảo hộ ở Việt-Nam. Tướng De Courcy muốn vào yết kiến vua Hàm Nghi nhưng lại muốn là toàn thể binh lính của ông, 500 người, đi vào cửa chánh là cửa dành riêng cho đại khách. Triều đình Huế xin để quân lính đi cửa hai bên, chỉ có các bật tướng lảnh là đi cửa chánh thôi cho đúng với nghi thức triều đinh, nhưng tướng De Courcy nhất định không chịu.

Ông Nguyễn Văn Tường và ông Tôn Thất Thuyết thấy Pháp khinh mạn Vua mình như thế đều giận lắm bèn nhất định tấn công trại binh của Pháp ở đồn Mang Cá vào đêm 22 rạng 23 tháng 4 âm lịch, đến sáng thì quân Pháp phản công, quân ta thua chạy.

Ông Nguyễn Văn Tường cho người rước Vua Hàm Nghi (lúc nầy mới 13 tuổi) trực chỉ tới thành Quảng Trị để lánh nạn nhưng nửa đường thì ông bỏ Vua ra trình diện với quân Pháp. Tướng De Courcy hẹn cho ông hai tháng phải tìm cách để rước Vua về. Ông Tường viết sớ ra Quảng Trị xin rước Vua về nhưng ông Thuyết cản thư không cho Vua biết.

Ông Thuyết ở Quảng Bình làm hịch Cần Vương để kêu gọi dân chúng giúp Vua chống Pháp, dân chúng nổi dậy rất đông, đâu đâu cũng có kháng chiến nhưng vì rải rác các nơi nên lực lượng không mạnh (mạnh nhất là phong trào của Ðề Thám). Có thuyết kể rằng khi ông Tường tới kêu vua bỏ trốn, vua trả lời rằng “Ta có đánh với ai đâu mà phải chạy ?” nhưng quân hộ vệ đã nhào tới ôm vua bỏ lên kiệu và tuôn thành trốn. Khi ông Thuyết ra hịch Cần Vương, kể tội ác của Pháp thì vua Hàm Nghi mới trả lời rằng : “Bây giờ Trẫm mới hiểu.” và từ đó đã trở thành một lãnh tụ kháng chiến dũng cảm.

Hết hạn hai tháng thì cả gia đình ông Nguyễn Văn Tường bị ông De Courcy đày ra Côn Ðảo rồi sau đó bị đưa tới đảo Haiti ở Thái Bình Dương. Ðược ít lâu thì ông Tường mất, xác được đưa về chôn ở quê nhà.

Trong thời gian nầy, quân Tàu lại xung đột với quân Pháp ở Bắc kỳ vì Triều đình Trung Hoa không chấp nhận cái hoà uớc mà tướng Lý Hồng Chương đã ký, viện cớ là Triều đình Tàu không hay biết gì về vụ đó (có sách nói là Tàu giận vụ Pháp bắt hủy cái ấn của Tàu ban cho Việt Nam), cuộc chiến bùng nổ dữ dội ở Tuyên Quang, Lạng Sơn, … Hải quân Pháp bắn phá Phúc Châu và vây Ðài Loan. Tới năm 1885, chánh phủ Tàu thấy chiến tranh không lợi nên thuận ký tờ hoà ước Thiên Tân với Pháp ngày 27 tháng 4 năm Ất Dậu, trong đó Tàu chấp nhận là Việt Nam thuộc Pháp chứ không thuộc Tàu nữa và bắt đầu vẽ lại một cách chánh thức biên giới Việt-Hoa. Từ đây trở đi coi như Pháp đã chiếm hết nước ta (xin coi hình ảnh trong trang “”Những tấm hình của ông Bác sĩ Hocquard”).

9. Đồng Khánh (1864-1889)

Thấy vua Hàm Nghi đã thoát ly triều đình kéo cờ khởi nghĩa chống Pháp, Thống tướng De Courcy sai ông De Champeaux lên yết kiến bà Từ Dũ là mẹ đẻ của Vua Tự Ðức để xin lập ông Chánh Mông lên làm Vua. Ngày 6 tháng 8 âm lịch năm Ất Dậu (1885), con nuôi thứ hai của Vua Tự Ðức, tên là Chánh Mông phải thân hành sang bên Khâm sứ Pháp làm lễ thụ phong, được tôn làm Vua, lấy niên hiệu là Ðồng Khánh.

Sách Trần Trọng Kim viết “Vua Ðồng Khánh tính tình hiền lành, hay trang sức và cũng muốn duy tân, ở rất được lòng người Pháp.” Nói một cách khác thì Vua Ðồng Khánh không chống Pháp.

Lúc đó Vua Hàm Nghi vẫn còn ở mạn Quảng Bình, Pháp dồn quân đánh mạnh về vùng nầy, ông Tôn Thất Thuyết thấy thế yếu, không chống nổi quân Pháp nên bỏ vua Hàm Nghi ở lại đồn Vé thuộc huyện Tuyên Hóa rồi nói rằng sang Tàu xin cầu cứu. Ông Tôn Thất Thuyết ở lại bên Tàu và chết già ở tỉnh Quảng Ðông, có sách nói rằng vì nước Tàu mới ký hiệp ước làm hoà với Pháp nên không muốn giúp Việt Nam (sách Trần Trọng Kim thì nói ông Thuyết lên Lai Châu nương tựa vào họ Liêu, đến lúc nghe tiếng Pháp lên đánh liền bỏ họ Liêu mà trốn sang Tàu).

Vua Ðồng Khánh đích thân ra tận Quảng Bình để dụ Vua Hàm Nghi và các quan tùy tùng về hàng, hứa là sẽ cho cai trị 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh nhưng không thành công.

Ðến tháng giêng năm Mậu Tý (1888), Vua Hàm Nghi bị tên hầu cận Trương Quang Ngọc tham tiền nên cùng một số người tới tấn công trại Vua ban đêm trong lúc ngủ, giết quân tùy tùng trong đó có Tôn Thất Thiệp (con của Tôn Thất Thuyết), rồi đem Vua về nộp cho Pháp để lấy thưởng. Lúc nầy vua đã 18 tuổi, từ lúc bị bắt vua Hàm Nghi không nói năng gì cả chỉ nhất thiết chối rằng mình không phải là vua (có sách nói là quân Pháp rất bối rối vì không biết có phải là vua Hàm Nghi không, các quan lại trong vùng có đến bái mạng nhưng vua coi như không biết, nhưng khi thầy học cũ của vua là Nguyễn Thuận tới thăm thì vua Hàm Nghi vái chào, từ đó viên quan Pháp Dabat mới chắc là vua Hàm Nghi). Pháp đày Vua Hàm Nghi sang sứ Algérie, ở đó Vua lập gia đình với một phụ nữ Pháp, có 3 con, 2 gái 1 trai, và mất năm 1944. Hài cốt sau được chuyển về Pháp.

(Sau nầy tên Trương Quang Ngọc bị ông Phan Ðình Phùng – đảng Văn Thân trong phong trào Cần Vương- sai quân vây bắt rồi đem ra chém đầu để trị tội bán Vua.)

Ngày 27 tháng chạp năm Mậu Tý (28-1-1889) vua Ðồng Khánh thọ bệnh mà mất, ở ngôi được 3 năm, thọ 26 tuổi.

10. Thành Thái (1879-1954)

Con vua Ðồng Khánh mới 3 tuổi nên không nối ngôi được. Triều đình Huế và Khâm sứ Rheinart đã đồng ý đưa Bửu Lân là con của vua Dục Ðức lên ngôi lấy hiệu là Thành Thái ngày 2-2-1889 (lúc đó mới vừa 10 tuổi đang bị giam trong ngục với mẹ -sách TTK). Sách nói vua Thành Thái là người cầu tiến, yêu nước và chống Pháp. Nhà vua muốn áp dụng các công cuộc cải cách quốc gia (chính nhà Vua đã hớt tóc ngắn, biết lái xuồng máy và xe hơi). Nhưng trước các ý tưởng cấp tiến của nhà Vua, người Pháp lo ngại tìm cách ngăn trở. Ðể che mắt, Vua Thành Thái giả hành động như một kẻ điên rồ. Năm 1907, Pháp biết Vua tìm cách chống Pháp nên vu khống là Vua bị điên rồi truất phế, đem giữ tại Vũng Tàu và đến năm 1919 thì đem sang an trí tại đảo La Réunion bên Phi Châu (đi cùng một lúc với vua Duy Tân sau nầy).

Bị giam cầm nơi quê người mãi đến tháng 5 năm 1947 (sau khi vua Duy Tân mất) cựu hoàng Thành Thái mới được cho về Việt Nam và quản thúc tại Sài Gòn cho đến 24-3-1954 là ngày vua mất, thọ 76 tuổi.

11. Duy Tân (1900-1945)

Vua Duy Tân sinh ngày 19-9-1900, con trai thứ 5 của vua Thành Thái và bà Nguyễn Thị Ðịnh. Vua Thành Thái rất đông con, đáng lẽ phải chọn người con trưởng kế vị, nhưng Pháp sợ Vua trưởng thành khó sai khiến nên phải tìm chọn một người càng nhỏ tuổi càng hay.

Hôm Khâm sứ Lévecque cầm danh sách các Hoàng tử con Vua Thành Thái vào Hoàng cung chọn vua, trong lúc điểm danh thì thiếu mất “mệ Vĩnh San”. Triều đình hốt hoảng chạy đi kiếm thì thấy Vĩnh San đang chui dưới gầm giường bắt dế. Vĩnh San bị lôi ra, mặt mày lem luốc, quần áo ướt nhẹp vì mồ hôi. Không kịp đưa về nhà tắm rửa, bọn thị vệ đưa ngay Vĩnh San ra trình diện quan Pháp.

Mới trông thấy Vĩnh San, các quan Pháp vừa ý ngay vì theo họ đứa bé mặt mày dơ tèm lem có vẻ nhút nhát và đần độn, chắc dễ sai khiến sau nầy. Thế là Pháp chọn Vĩnh San làm Vua, mới 7 tuổi đầu. Triều đình thấy Vua nhỏ bèn xin tăng thêm một tuổi thành tám. Nghĩ tình Vua Thành Thái suốt đời ước nguyện đổi mới mà không làm được, nên những người phò tá còn chút quyền hành đã lấy niên hiệu cho người nối nghiệp là Duy Tân.

Ngay sau lễ Tôn Vương một ngày (5-9-1907), vua Duy Tân đã tỏ ra khác hẳn hôm qua, Vua không hề có một cử chỉ nhút nhát sợ Tây, ông tiếp quan toàn quyền Ðông Dương thẳng bằng tiếng Pháp. Một nhà báo Pháp đã thuật lại là “…Một ngày lên ngai vàng đã thay đổi hoàn toàn bộ mặt của cậu bé lên tám”.

Ðể kiểm soát vua, Pháp đã bày ra những việc sau:

-Lập một ban phụ chính gồm sáu ông đại thần là Tôn Thất Hân, Nguyễn Hữu Bài, Huỳnh Côn, Miên Lịch, Lê Trinh và Cao Xuân Dục để cai trị nước Nam dưới sự điều khiển của Khâm sứ Pháp.

-Ðưa ông Ebérhard, một tiến sĩ sinh học qua dạy cho Vua Duy Tân học khoa học (có sách nói mục đích là để theo dõi những hành động của Vua Duy Tân).

Khoảng năm 1912, ông Mahé lên làm Khâm sứ Pháp ở Huế. Mới lên khâm sứ ít lâu ông ta đã mở một chiến dịch tìm vàng ráo riết. Mahé lấy tượng vàng đúc từ thời Nguyễn Phúc Chu (đầu thế kỷ thứ 18) trên tháp Phước Duyên chùa Thiên Mụ, đào mả Vua Tự Ðức và đào sới lung tung trong Ðại Nội để tìm vàng. Vua Duy Tân phản đối quyết liệt những hành động thô bạo đó, nhưng Mahé vẫn làm ngơ.

Vua Duy Tân ngày đêm ăn ngủ không yên, ông ra lệnh đóng cửa Cung và không tiếp ai hết. Toà Khâm Sứ Pháp làm áp lực với nhà Vua thì nhà Vua đe doạ là sẽ tuyệt giao với các nhà đương cục ở Huế lúc bấy giờ. Cuối cùng Tây phải triệu toàn quyền Sarraut ở Hà Nội vào giải quyết. Gặp toàn quyền Vua Duy Tân đã vạch tội của Khâm Sứ Pháp ở Huế. Ðể xoa dịu, toàn quyền Sarraut đã khiển trách Mahé về hành động bất nhân đó. Vua Duy Tân mới hạ lệnh cho mở cửa Hoàng Thành.

Năm Vua Duy Tân 13 tuổi, ngài lục lọi giở ra xem những hiệp ước mà hai nước Việt-Pháp đã ký với nhau rồi một hôm giữa triều đình, nhà Vua tỏ ý muốn cử ông Nguyễn Hữu Bài là người giỏi tiếng Pháp sang Pháp để yêu cầu duyệt lại hiệp ước ký năm 1884 (Patenôtre) vì ông cảm thấy việc thi hành của hiệp ước ấy không đúng với những điều kiện mà hai bên đã ký kết với nhau (Trung kỳ bảo trợ chứ không phải bảo hộ), nhưng cả triều đình không ai dám nhận chuyến đi đó.

Năm 15 tuổi, Vua Duy Tân đã triệu tập cả sáu ông đại thần trong Phụ Chính, bắt buộc các vị phải ký vào biên bản để đích thân Vua sẽ cầm qua trình với toà Khâm Sứ nhưng các ông đại thần sợ Tây giận sẽ kiếm chuyện nên từ chối không ký và phải xin yết kiến bà Thái Hậu để nhờ bà can gián nhà Vua. Từ đó không những nhà Vua có ác cảm với thực dân Pháp mà còn ác cảm với Triều đình.

Biết được vua Duy Tân là người yêu nước chống Pháp nên Việt Nam Quang Phục Hội (do ông Trần Cao Vân cầm đầu) quyết định móc nối. Mùa hè năm 1915 vua ra Cửa Tùng nghỉ mát, người tài xế tên Phan Hữu Khánh là người trong hội có đưa cho Vua một bức thư của 2 lãnh tụ là Trần Cao Vân và Thái Phiên. Vua đọc thư cảm động lắm và đòi gặp 2 người. Thế là ông Trần Cao Vân và ông Thái Phiên cùng vua Duy Tân mưu đồ khởi nghĩa đánh Pháp, nhưng không ngờ ngày vua xuất thành (3-5-1916) để làm cách mạng thì có người phản bội đi báo Tây, 2 ngày sau vua Duy Tân bị bắt, Pháp bắt Triều đình ta phải xử, Thượng thư bộ Học Hồ Ðắc Trung được ủy nhiệm thảo bản án. Ông Trần Cao Vân tuy bị giam trong ngục nhưng nhờ được người đưa được một mảnh giấy cho ông Hồ Ðắc Trung xin được lãnh hết tội và xin tha cho Vua. Ông Hồ Ðắc Trung làm án đổ hết tội cho 4 ông Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Ðề và Nguyễn Văn Siêu. Bốn ông đều bị chém đầu còn vua Duy Tân thì bị đày đi đảo Réunion cùng với vua Thành Thái (1919).

Vua Duy Tân mặc dù bị đày nhưng vẫn thiết tha với quê hương, ông vẩn tìm cách trở lại với đất nước. Ðệ nhị thế chiến xảy ra, ông nghĩ đó là cơ hội để ông có thể thoát ra khỏi nơi giam cầm bằng cách xin đi lính cho Tây. Và đúng như tiên liệu, sau đó vua Duy Tân đã có dịp sang Pháp gặp Tướng De Gaulle (1945) và được ông nầy hứa là sang năm sẽ đích thân đưa Vua về Việt Nam để trở lên ngôi mặc cho bộ Thuộc Ðịa phản đối. Vua Duy Tân mừng lắm có tuyên bố với nhiều người cuộc hồi hương sắp tới nầy nhưng rất tiếc chiếc phi cơ chở ông trên đường từ Pháp về đảo để thăm vua cha và gia đình đã bị rớt, không ai sống sót (tháng 12 năm 1945). Ðây vẫn là một nghi vấn cho lịch sử.

12. Khải Định (1885-1925)

Truất phế vua Duy Tân xong, triều đình Huế được sự chấp thuận của toà Khâm sứ đưa Hoàng tử cả Nguyễn Phúc Bửu Ðảo con của vua Ðồng Khánh lên ngôi, lấy niên hiệu là Khải Ðịnh.

Theo các sách mà tôi có thì vua Khải Ðịnh chỉ là vị vua ăn chơi, chỉ lo cho mình chứ không lo cho nước, lại rất chuộng trang điểm và tự mình sáng chế ra những bộ y phục mới cho vua và cho cả quan hộ vệ (xin xem hình vua Khải Ðịnh thăm Paris). Năm 1922 khi Vua đi dự cuộc “thi đấu xảo thuộc địa” ở Marseille (Pháp) ông Phan Chu Trinh có gởi một bức thư trách Vua 7 tội trong đó có tội “ăn mặc lố lăng”. Dưới thời của Ngài, trong triều đình không có chuyện xích mích với Pháp, theo sách thì gần như Ngài để cho Toà Khâm Sứ định đoạt mọi chuyện.

Sách kể rằng vua Khải Ðịnh chỉ thích đàn ông, khi coi hát bội, vua đều bắt các “kép” giả “đào” để đóng; nhưng sách lại nói rằng ông lại có một người con trai (Hoàng tử Vĩnh Thụy) với bà Huệ phi Hoàng Thị Cúc!

Nếu xem cái site của vua Duy Tân (http://vinhsan.free.fr) làm bởi các con cháu của Ngài thì chúng ta lại có thêm được một “tiếng chuông” khác : Trong đó vua Khải Ðịnh được xem như một người vua muốn cải tiến đất nước, Ngài bỏ chuyện thi cử vì cho rằng cái học đó đã lỗi thời, không còn thích hợp với cái xã hội hiện tại và khi Ngài qua Pháp (năm 1922) là để tìm cách giải thích cho Pháp hiểu sự ham muốn (đòi hỏi) tự trị của dân tộc Việt. Ở đây chúng ta cũng được biết thêm là Hoàng tử Vĩnh Thụy chỉ là con nuôi của vua Khải Ðịnh !

Vua Khải Ðịnh có xây cất nhiều công trình mà cái nổi tiếng nhất là cái lăng của Ngài, nếu nhìn vào thì người ta sẽ nhận diện ra ngay là một công trình Á Châu nhưng nó hoàn toàn không giống những kiến trúc đương thời, từ vật liệu xây cất tới cách trang trí nội thất. Có người khen kẻ chê nhưng nhất định đây là lần đầu tiên trong lịch sử mà dân Việt Nam tìm cách tự tạo riêng cho mình một đường lối kiến trúc.

Vua Khải Ðịnh mất ngày 25-9 năm Ất-Sửu (6-11-1925).

13. Bảo Đại (1913 – 1997)

Hoàng tử Vĩnh Thụy sanh ngày 23 tháng 9 năm Quí Sửu (23-10-1913), khi vua Khải Ðịnh mất thì Hoàng tử Vĩnh Thụy còn đang học ở bên Pháp (từ năm 1922). Toàn quyền Pháp Monguillot ra lệnh thành lập hội đồng phụ chính mới do ông Tôn Thất Hân đứng đầu và đại diện cho chánh phủ Việt Nam để ký với Pháp một hiệp định mới. Theo hiệp định nầy thì Khâm sứ sẽ là chủ tịch hội đồng nội các của Việt Nam, và kể từ dây Triều đình Huế sẽ không còn ngân sách riêng như trước nữa.

Ngày 14-11 năm Ất Sửu, Hoàng Thái tử Vĩnh Thụy được tôn lên làm vua lấy niên hiệu là Bảo Ðại. Lên ngôi vua xong, Bảo Ðại giao công việc triều chánh cho hội đồng phụ chính rồi trở sang Pháp học cho đến năm 1932 mới trở về nước. Theo sách thì vua Bảo Ðại tính nắm lại quyền hành để cải tổ nước nhà nhưng gặp phải sự phản đối của các quan bảo thủ và bị chánh phủ Pháp cản trở, ông thất vọng vì thấy mình làm vua cũng như không nên đâm ra chán nản, lao mình vào các cuộc đi săn, chơi thể thao, …

Tháng 3-1945, Nhật đánh úp Pháp và tuyên bố là muốn giúp Việt Nam dành độc lập. Ngày 11-3-1945 viện Cơ Mật của Triều đình Huế tuyên bố Việt Nam dành lại chủ quyền, bải bỏ hiệp ước bảo hộ 1884. Ngày 17-3-1945 vua Bảo Ðại giải tán hội đồng Cơ Mật (lập từ thời Minh Mạng) và giao cho ông Trần Trọng Kim thành lập nội các mới, theo nguyên tắc “Dân vi quý”, trong thành phần Nội Các phần lớn là các nhà Tây học (như Hoàng Xuân Hãn,…), nhưng từ khi thành lập Nội Các, ông Trần Trọng Kim chẳng làm gì được cả vì quyền hành đều nằm trong tay Nhật hết !

Ngày 19-8-1945, Việt Minh chiếm chính quyền ở ngoài Bắc, biểu tình trước Nhà Hát Lớn Hà Nội để nghe tuyên bố của Mặt Trận Cứu Quốc Việt Minh. Cũng cùng ngày nầy trong Nam (theo Philippe Devilliers) đài phát thanh Việt Nam có truyền thanh một chiếu của vua Bảo Ðại gửi quốc dân, yêu cầu dân hy sinh để giữ độc lập và Vua sẵn sàng “làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ.”.

Ngày 24-8-1945, vua Bảo Ðại nhận được một bức điện văn của Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng từ Bắc đánh vào nội dung như sau : “Một chính phủ nhân dân cách mạng lâm thời đã thành lập, chủ tịch là cụ Hồ Chí Minh. Yêu cầu đức vua thoái vị ngay để củng cố và thống nhất nền độc lập nước nhà.”. Sách chép là lúc đó ở Huế không ai biết Hồ Chí Minh là ai, sau khi điều tra biết được Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc thì vua Bảo Ðại mới thốt ra câu tiếng Pháp : “ça vaut bien le coup alors !” (như thế thì cũng đáng thoái vị !)

Ngày 25/8/1945, vua Bảo Ðại cho công bố chiếu thoái vị. Ngày 26/8/1945 nhà vua làm lễ ở Thế Miếu và ngày 30/8/1945 đại điện chính phủ cách mạng lâm thời gồm các ông Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng và Cù Huy Cận nhận ấn kiếm của nhà vua tại cửa Ngọ Môn (Huế). Vua Bảo Ðại được phong chức Cố Vấn Tối Cao cho chính quyền mới.

Triều đại nhà Nguyễn chấm dứt sau 143 năm trị vì (1802-1945).

Sau đệ nhị thế chiến, Pháp trở lại Ðông Dương và tìm cách chiếm lại Việt Nam. Năm 1946, cựu hoàng Bảo Ðại lưu vong bên Hồng Kông. Năm 1948, Pháp thấy không xong nên tìm cách đưa cựu hoàng Bảo Ðại về lập chánh phủ để có “chánh nghĩa”, cựu hoàng Bảo Ðại đòi Pháp phải xác nhập 3 kỳ (thống nhất) và cho Việt Nam độc lập, Pháp tỏ vẻ chịu nhượng bộ và ký với cựu hoàng Bảo Ðại hiệp ước Hạ-Long ngày 5-6-1948 (với ông Cao ủy Emile Bollaert), bầu cựu hoàng làm Quốc Trưởng nhưng trong hiệp định lại đòi điều khiển quân đội, tài chánh và ngoại giao! Cựu hoàng Bảo Ðại không hài lòng nên giận bỏ sang Pháp (nhưng vẫn điều hành từ xa).

Tới năm 1954, sau hội nghị Genève chia đôi nước Việt Nam từ vĩ tuyến thứ 17, cựu hoàng Bảo Ðại mời ông Ngô Ðình Diệm làm Thủ Tướng ở Sàigòn, cuối năm 1955 các viên chức Hoa Kỳ ở Sàigòn giúp ông Ngô Ðình Diệm tổ chức một cuộc “trưng cầu dân ý” để lật đổ cựu hoàng Bảo Ðại và tôn ông Diệm lên làm Tổng Thống.

Cựu hoàng Bảo Ðại mất tại Paris tháng 7 năm 1997.

F. CON NGƯỜI THANH HÓA

Ngoài sự kiện là đất của các vua chúa, quê hương Thanh Hóa được coi là nơi địa linh nhân kiệt; đất thiêng người giỏi. Người Thanh Hóa gắn bó với quê hương Thanh Hóa vốn được hình thành từ thời Núi Đọ, thời đại đồ đá cũ trong tiểu sử, phát triển rực rỡ trong thời đại đồng thau ngân vang tiếng trống đồng Đông Sơn, tiếp tục trưởng thành trong lịch sử dựng nước, giữ nước từ thời Bà Triệu trải qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn – cho tới ngày nay, thời nào cũng có những con người Thanh Hóa – nhân vật Thanh Hóa nổi lên rực rỡ như những ngôi sao đất nước.

Thời tiền sử: “Đêm mờ xa xôi của lịch sử dân tộc”, Thanh Hóa nổi lên những con người ở hang động dọc hai bờ sông Mã về xuôi mà ngày nay còn tìm được dấu tích của cuộc sống xa xưa: Hang Làng Trắng, Mái Đá Điều, hang Anh – Rồ ở Bá Thước; hang Con Moong ở Thạch Thành; nổi bật là di chỉ khảo cổ Núi Đọ ở Đông Sơn, một trong những cái nôi của người Việt cổ. Chính những con người tiền sử này đã chiếm lĩnh và khai phá đồng bằng sông Mã và miền biển rộng lớn, làm nên nền văn minh sông Mã bên cạnh nền văn minh sông Hồng, mà dấu tích ngày nay còn tìm thấy Đa Bút, Quì Chữ (Kẻ Tổ), Hoa Lộc, Cồn Trũng…

Ở thời đại các vua Hùng, đất đai bộ Cửu Chân, một trong 15 bộ của nước Văn Lang, chính là đất ngày nay được rộng mở; cuộc sống nông nghiệp bừng lên trong các “Kẻ” sơ khai như Kẻ Bưng, Kẻ Đọ, Kẻ Chân, Kẻ Nưa… Đọng lại trong các thần thoại về “các ông khổng lồ xứ Thanh” là ông Bưng, ông Vồm, ông Nưa, ông Lau, ông Cõng Đá… Đó là những ông đã “quảy núi, đào sông, diệt trừ chim ác và thú dữ, cày xới ruộng đồng, xây dựng nên xóm làng”. Cư dân Thanh Hóa, những con người xứ Thanh thời sơ sử đã làm nên kỳ tích vĩ đại có tầm cỡ thế giới: Đó là các trống đồng Đông Sơn mở ra nền văn minh đồ đồng Đông Sơn rực rỡ, vang dội cho tới ngày nay.

Vào thời đại chống ách Hán hộ suốt 1.000 năm Bắc thuộc, Thanh Hóa cũng nói lên những nhân vật kiệt xuất. Ngay từ đầu công nguyên, nối tiếp với cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40 – 41 sau công nguyên) là cuộc chống Hán của Đô Dương suốt một vùng từ Kẻ Giàng đến Kẻ Cù (tức vùng Đông Sơn – Nông Cống ngày nay). Đô Dương cũng chính là người mở Ấp Giàng để sau này, vào cuối đêm trường Bắc thuộc (thế kỷ thứ X) sáng bừng lên ngọn lửa tự cường, đuổi quân Hán, chiếm thành Đại La, tự xưng là Tiết độ sứ để “người Nam làm chủ nước Nam”. Đó chính là nhân vật lịch sử Dương Đình Nghệ.

Ở thế kỷ thứ VII (vào những năm 618), Cửu Chân Thanh Hóa lại nổi lên cuộc chống lại nhà Đường của cha con Lê Ngọc (Lê Cốc) ở vùng Đông Sơn, Nông Cống.

Vào thế kỷ thứ VIII, Cửu Chân lại nổi lên nhân vật Khương Công Phụ người thôn Cẩm Câu, xã Tường Vân (nay là làng Tường Vân, xã Định Thành, huyện Triệu Yên). Ông cùng với em là Khương Công Phục đã đến kinh đô nhà Đường là đất Trường An để dự thi vào đời Đường Đức Tông (730 – 805). Khương Công Phục, Khương Công Phục đều đậu tiến sĩ mà Khương Công Phụ đậu đầu đệ nhất giáp, đệ nhất danh, xứng đáng là trạng nguyên những lúc bấy giờ chưa có danh vị “tam khôi”, làm vẻ vang cho đất Việt “là người Việt đầu tiên đạt học vị tiến sĩ Hán học” nổi tiếng trong bài phu “Bạch vân chiếu xuân hải”

Thời tự chủ (thế kỷ thứ X) phải kể đến nhà sư Ngô Chân Lưu hiệu là Khuông Việt Đại Sư. Ông phục vụ trong triều đình vua Đinh, trong tinh thần “tích cực nhập thế”, “khuôn phò” nước Đại Cồ Việt.

Nhà Lý mở ra nước Đại Việt với biểu tượng “Rồng bay” và nền văn minh Thăng Long đượm màu sắc “cứu khổ cứu nạn” nổi lên một Lê Phụng Hiểu vung gươm dẹp loạn “Tam vương” định cướp ngôi Lý Phật Mã, lúc còn trẻ rất khỏe, nhổ bật gốc tre đuổi đánh dân làng Cổ Bi.

Lê Phụng Hiểu đã giữ cho ngôi vua được bền vững. Ông còn có nhiều chiến công bình Chiêm ở phương Nam, bảo vệ nền độc lập, thái bình cho Tổ quốc. Ông là người làng Bưng (Băng Sơn) nay là làng Xuân Sơn, xã Hoằng Sơn huyện Hoằng Hóa. Vua ban cho đặc ân “ném đao nhận ruộng” được hơn ngàn mẫu gọi là “Thác đao điền”.

Tô Hiến Thành, một tể thần trụ cột của Triều Lý, sinh ra trên đất Hà Trung. Sứ giả Ngô Sĩ Liên đã nói về ông: “Tô Hiến Thành nhận việc ký thác con côi, hết lòng trung thành, khéo xử trí khi biến cố, tuy có bị gió lay sóng đạp mà vẫn đứng vững như một cột đá giữa dòng, khiến trên yên dưới thuận, không thẹn với phong độ của đại thần xưa, lúc sắp chết còn vì nước tiến cử người hiền, không vì ơn riêng”.

Thời nhà Trần, có hai sự kiện nổi bật mà Thanh Hóa có nhiều nhân vật tham gia nổi tiếng. Đó là sự nghiệp chiến thắng giặc Nguyên Mông oanh liệt vì sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Đại Việt trong thời đại Đông A.

Gương trung dũng vằng vặc soi sáng sử sách là Trần Bình Trọng với câu nói đầy khí phách “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc” Ông là con trai Lê Phụ Trần thuộc dòng dõi Lê Hoàn Thanh Hóa.

Thời Trần cũng là thời đại mà khoa cử được đề cao. Ngay khoa thi Tam khôi đầu tiên dưới triều Trần Thái Tông, chàng trai Lê Văn Hưu mười bảy tuổi người xã Phù Lý, huyện Đông Sơn đã đậu bảng nhãn (học vị thứ hai sau trạng nguyên Nguyễn Hiền). Ông đã phục vụ trong quân đội nhà Trần chống giặc Nguyên, làm đến Binh bộ thượng thư dưới quyền của thượng tướng Trần Quang Khải. Ông còn là Trưởng sứ quan kiêm quốc sử quán triều Trần, viết bộ sử Đại Việt sử ký là “bộ sử mẹ” của lịch sử nước ta. Ngoài ra, ông còn viết về Địa cảo, khởi thảo Việt điện u linh như một số tài liệu mới phát hiện gần đây khẳng định.

Ở huyện Đông Sơn, dưới triều Trần Thánh Tông, Đào Tiêu người Phủ Lý cùng làng với Lê Văn Hưu đã đậu Trạng Nguyên, là người đậu trạng đầu tiên ở xứ Thanh.

Suốt dưới thời Trần, nhiều nhân vật Thanh Hóa đã học giỏi đậu cao, để lại tên tuổi trong sự nghiệp “kinh bang tế thế” theo đạo quân tử. Đó là Lưu Diễm (Hoàng Hóa), Lưu Miễn (Hoằng Hóa), Đào Miễn và Hoằng Hoan (đều ghi là người Thanh Hóa), Trương Phông (Vĩnh Lộc), La Tu (Hậu Lộc), Lê Bá Quát (hay là Lê Quát – Đông Sơn), Lê Suy (Nông Cống), Lê Thân (Nông Cống), Hoàng Hối Khanh (cuối Trần – Yên Định, Thiệu Yên). Sang thời nhà Hồ, khoa thi Thái học sinh năm 1400, ở Thanh Hóa có Nguyễn Mộng Tuân cùng đậu với Nguyễn Trãi, Lý Từ Tấn, Hoàng Hiến, Nguyễn Thành.

Trần Khát Chân là con ông Trần Hữu Nhân. Ông Hữu Nhân là cháu bảy đời của Bảo nghĩa vương Trần Bình Trọng, Trần Bình Trọng là con trai Lê Phụ Trần (Lê Tần) hậu duệ của vua Lê Đại Hành ở làng Trung Lập, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa.

Lúc này, trong triều Trần Nghệ Tông, Hồ Quý Ly nắm giữ binh quyền, điều khiển triều đình, thi hành các cải cách táo bạo song lại vấp phải những phản ứng quyết liệt của quí tộc nhà Trần.

Trần Khát Chân thi đỗ Thái học sinh khoa Giáp Tý (1384), ông được giao chức quan võ, chỉ huy đội quân Long Tiếp bảo vệ nhà vua.

Tên tuổi Trần Khát Chân nổi dậy từ sự kiện Hải Triều Giang (trận thủy chiến giết Chế Bồng Nga). Trần Khát Chân “bắn chết Chế Hồng Nga” để yên việc xâm lấn của giặc Chiêm và là người đứng đầu trong Hội thề Đôn Sơn định mưu phế truất Hồ Quý Ly, song việc bại lộ nên bị chém đầu năm ông 24 tuổi. Cái chết của ông gây một ấn tượng mạnh mẽ trong nhân dân Thanh Hóa. Nhân dân thương cảm cho người anh hùng lâm nạn: “chết vì nghĩa” nên tôn là Thánh Lưỡng và được thờ ở nhiều nơi trong tỉnh.

Thời Minh thuộc trải 20 năm đã thử thách ý chí quật cường của dân tộc ta. Khắp nước nổi dậy nhiều cuộc khởi nghĩa chống Minh, song đều bị đàn áp khốc liệt. Riêng Thanh Hóa, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn suốt mười năm gian khổ (1417 – 1427) đã kết thúc một cách mạng thắng lợi.

Đứng đầu cuộc khởi nghĩa Lam Sơn là Lê Lợi, người đất Khả Lam, nay là xã Xuân Lam huyện Thọ Xuân giương cao ngọn cờ khởi nghĩa, tập hợp nhân tài yêu nước khắp nơi cùng giành lại nền độc lập cho Tổ quốc. Các văn thần võ tướng dưới cờ đại nghĩa của Lê Lợi được gọi chung là “Dũng tướng Lam Sơn”, đã lập được những chiến công vang dội trên chiến trường cũng như bàn bạc mưu kế, đấu tranh trên mặt trận ngoại giao, địch vận. Nhiều nhân vật là người Thanh Hóa hoặc dân tộc Kinh, hoặc dân tộc Thái, Mường. Về võ tướng có những nhân vật kiệt xuất như Lê Sát, Lê Ngân, Đinh Lễ, Đinh Bồ, Đinh Liệt, Lê Lai, Trịnh Khả, Nguyễn Chích, Phạm Vấn, Trần Lưu… Về văn thần có các nhân vật Nguyễn Mộng Tuân, Lê Văn Minh, Nguyễn Như Soạn.

Suốt triều đại nhà Lê trải trên 400 năm, nhiều danh thần, danh nho, danh sĩ được sách ghi tên là người đất quê Thanh. Họ đều xuất thân bằng đường khoa cử, là những người ông nghè (học vị tiến sĩ) nổi tiếng, nhiều người được thiên hạ công nhận là thần đồng với nhiều giai thoại kỳ lạ, hấp dẫn về trí tuệ thông minh, mẫn tiệp khiến người đời kính phục, tự hào. Và khi được giao chức vụ tước vị trong hoạn lộ thì họ “hành đạo” với tư cách của một “chính nhân” được nhân dân tin yêu nể trọng. Họ là những con người trung thực thẳng thắn, ghét xu nịnh cúi luồn, sống liêm khiết thanh bạch và cẩn trọng trong mọi hành vi xử thế. Khi nói tới họ, nhân dân Thanh Hóa coi họ là những tấm gương sáng của quê hương, góp mặt với nhân dân trong cả nước. Có thể kể tới Hoằng Sằn Phụ (Vĩnh Lộc), Trịnh Thiết Trường (Yên Định – Thiệu Yên), Lưu Hưng Hiếu (Vĩnh Lộc), Lưu Ngạn Quang (Đông Sơn), Lương Đắc Bằng (Hoằng Hóa), Lê Nai (Hậu Lộc), Thiều Quy Linh (Đông Sơn), Tống Sư Lộ (Nông Cống), An Đông Phác (Yên Định – Thiệu Yên), Nguyễn Văn Nghi (Đông Sơn), Bùi Khắc Nhất (Hoằng Hóa), Lê Nghĩa Trạch (Nông Cống), Lương Chí (Tĩnh Gia), Lê Bật Tứ (Triệu Sơn), Lưu Đình Chất (Hoằng Hóa), Lê Hy (Đông Sơn), Nguyễn Quán Nho (ảnh 23) (Đông Sơn), Thiều Sĩ Lâm (Đông Sơn), Nguyễn Hiệu (Triệu Sơn), Hà Tông Huân (Yên Định – Thiệu Yên), Trịnh Tuệ (Vĩnh Lộc), Nguyễn Hoàn (Triệu Sơn), Nguyễn Đình Giản (Hoằng Hóa)…

Từ thời Lê Thái Tông đến Lê Chiêu Thống, xứ Thanh có tới 162 vị đậu đại khoa, học vị từ tiến sĩ trở lên, trong đó Trịnh Tuệ (có sách ghi là Trịnh Huệ) là vị trạng nguyên cuối cùng của nước ta, vì các triều vua Nguyễn tiếp theo đã bỏ không lấy trạng nguyên trong các khoa thi Đình cũng như không lập Hoàng hậu trong triều đình (trừ Gia Long và Bảo Đại).

Thời Lê Trung Hưng, Thanh Hóa là đất căn bản của nhà Lê chống giặc, vua Lê chọn Vạn Lại (Thọ Xuân) làm căn cứ buổi đầu và sau đó xây dựng hành tại (kinh đô tạm).

Các nhân vật Thanh Hóa có công trung hưng là Nguyễn Kim quê ở làng Gia Miêu (Hà Trung), tiếp tới là Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng người làng Sóc Sơn (Vĩnh Lộc). Các nhân vật khác rất nổi tiếng như Hà Thọ Lộc (người Thái ở Bá Thước), Hoàng Đình Ái, Phạm Đốc (đều người Vĩnh Lộc), Trịnh Duy Thuần (Thọ Xuân), Trịnh Duy Liêu (Thọ Xuân), Ngô Tuấn Kiệt (Hoằng Hóa), Vũ Sư Thước (Hậu Lộc), Lại Thế Khanh (Hà Trung)…

Ngoài hai dòng họ Trịnh và họ Nguyễn ở Thanh Hóa đã trở thành Chúa Trịnh ở đằng ngoài Chúa Nguyễn ở đằng trong dẫn tới cuộc Nam Bắc phân tranh suốt hơn 100 năm, một số nhân vật Thanh Hóa nổi lên trong giai đoạn này như Hào quận công Lê Thời Hiển (Triệu Sơn) ở Đằng ngoài: Lộc Khê hầu Đào Duy Từ (Tĩnh Gia), Nguyễn Hữu Hào (Hà Trung)…

Sang thời Nguyễn, một số nhân vật Thanh Hóa nổi tiếng học giỏi, đậu cao tiếp tục truyền thống học hành ở xứ Thanh như: Trần Lê Hiệu (Đông Sơn), Nguyễn Thổ (Hoằng Hóa), Nguyễn Cửu Trường (Hà Trung), Mai Anh Tuấn (Nga Sơn), Phạm Thanh (Hậu Lộc), Tống Duy Tân (Vĩnh Lộc), Nguyễn Đôn Tiết (Hoằng Hóa), Lê Khắc Doãn (Tĩnh Gia), Lê Khắc Khuyến (Hoằng Hóa), Mai Duyên (Nga Sơn) … tất cả là 29 vị (theo sách danh sĩ Thanh Hóa)

Thời Cầu Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX, ở Thanh Hóa nổi lên các nhân vật quê Thanh tham gia tích cực, chiến đấu kiên cường và hi sinh anh dũng như Trần Xuân Soạn (Đông Sơn), Tống Duy Tân (Vĩnh Lộc), Phạm Thanh và Hoàng Bật Đạt (Hậu Lộc), Nguyễn Đôn Tiết (Hoằng Hóa), Nguyễn Phương (Nông Cống), Lê Ngọc Toản (Triệu Sơn). Đặc biệt hai nhân vật Cần Vương miền núi rất nổi tiếng là Cầm Bá Thước (Thường Xuân) và Hà Văn Mao (Bá Thước)

Nhìn một cách khái quát, ta có thể chia nhân vật Thanh Hóa thành năm loại:

– Nhân vật huyền thoại

– Nhân vật có công dựng nước giữ nước

– Các danh thần, dũng tướng

– Các danh sĩ, danh nhân văn hóa

– Những người quê khác, có công với Thanh Hóa và nổi tiếng cả nước.

Trước hết là các nhân vật huyền thoại. Ở Thanh Hóa có một số nhân vật được nhân dân truyền miệng từ xưa tới nay. Nói chung, các nhân vật này cũng có những địa chỉ cụ thể trên địa bàn Thanh Hóa, song lại được nhân dân huyền thoại hóa, tô điểm cho nhiều nét hoang đường. Mỗi nhân vật toát ra một vẻ đẹp của sức mạnh ý chí hoặc vẻ đẹp lãng mạn trước cuộc đời tục lụy.

Loại thứ nhất Các ông khổng lồ Thanh Hóa; ông Nưa, ông Vồm, ông Đẻm, ông Tiên Nông, ông Lau, ông Cõng Đá, ông Hà Rò. Tên mỗi ông là tên những hòn núi lớn ở Thanh Hóa: Núi Nưa, núi Băng Sơn, núi Vồm, núi Đẻn, núi Nuông, núi Lau, sông Ghềnh đá, núi Hà Rò: Mỗi ông như vậy đã dọn quang đồng ruộng trên địa bàn của mình, đánh cọp đánh trăn, quảy núi, khơi sông bảo vệ cuộc sống yên lành cho dân và khi “hóa” hàng năm cho tới ngày nay, vẫn “hộ hành cho con cháu” mỗi khi con cháu bị thiên tai địch họa. Nhân dân mỗi vùng trên đất Thanh kể về “ông” của mình và rất tự hào, tin tưởng rằng “ông” của mình khỏe hơn, mạnh hơn, linh thiêng hơn: Ông Nưa ở vùng Nông Cống, Triệu Sơn, ông Bưng ở vùng Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Hà Trung và Thiệu Hóa, Yên Định cũ (nay là Thiệu Yên): ông Vồm ở vùng Đông Sơn, ông Đèn ở phía bắc Hoằng Hóa: ông Tiên nông ở một phần Yên Định cũ, ông Lau ở Quảng Xương, ông Công Đá ở phía nam Tĩnh Gia, ông Hà Rô ở miền biển Hoằng Hóa. Gọi là “các ông khổng lồ” vì mỗi ông to như “quả núi của mình” sức mạnh vô cùng, đi mây về gió song đều tập trung vào các nét: khỏe, cần cù cày xới đồng ruộng, xây dựng xóm làng, bảo vệ dân làng và chỉ hóa thân về cõi vĩnh hằng” chứ không chết, mỗi khi con cháu cần có sự che chở là hiển hiện để độ hành”. Thật ra, mỗi “ông khổng lồ” là hình tượng tiêu biểu cho sức mạnh, ý chí của cộng đồng dân cư trên từng địa bàn cụ thể ở xứ Thanh từ trong thời tiền sử đã cần cù bền bỉ lao động dũng cảm để xây dựng quê hương giàu đẹp, yên bình cho tới ngày nay.

Loại nhân vật huyền thoại thứ hai là các “Nhân vật có thật mà lại không có thật”. Các nhân vật này được Thanh Hóa tin là thật, được lập đền thờ cúng hàng năm, được dân gian kể chuyện say sưa. Đó là Mai An Tiêm ở Nga Sơn, Từ Thức ở Nga Sơn, Phương Hoa ở Thiệu Hóa (cũ) và Hậu Lộc. Thuộc về loại này còn có thể kể đến các nhân vật khai dân lập ấp dựng nên xóm làng, các tổ sư ngành nghề. Các nét hào quang huyền thoại ở họ không nhiều. Họ gần gũi với cuộc sống đời thường ở xứ Thanh chứ không “khổng lồ” như loại thứ nhất đã kể.

Phương Hoa là nhân vật chính trong chuyện nôm “Phương Hoa tân truyện” song lại là “người con gái có thực”, quê ở huyện Lôi Dương (Thiệu Hóa) con tướng công Trần Điện, đã đội tên chồng đi thi, đậu đến tiến sĩ và cứu được chồng là Trương Cảnh Yên khỏi lao tù… Hiện còn đền thờ nàng ở Hậu Lộc và mộ bố nàng (Trần Điện) ở đất Hậu Hiền, (Thiệu Hóa, nay là Đông Sơn). Dân gian có câu:

Đàn bà không biết Phương Hoa là đàn bà dốt

Đàn ông không biết hát ghẹo là đàn ông ngu.

MAI AN TIÊM

Vào thời vua Hùng, có một người con trai ở miền đảo xa xin đến ở và giúp việc cho vua. Chàng rất thông minh tháo vát, tài ba hơn người nên được vua Hùng rất quí rất yêu gả con gái cưng và thưởng cho nhiều bổng lộc. Ai cũng ghen với chàng, cho là Mai An Tiêm có số may mắn được Trời Phật ban cho. Chàng nói: “… Con người ta chẳng nên tin số mệnh, chỉ cần tin vào tài năng và ý chí của mình mà thôi, chàng được như vậy là do hai bàn tay lao động của chàng chứ chẳng có Trời Đất nào cả…”.

Có kẻ gièm pha đem lời chàng tâu với vua Hùng, đơm đặt thêm vào khiến cho vua cả giận, đày chàng ra một hòn đảo trơ vơ ngoài biển để xem chàng sống ra sao. Lương thực chỉ có đủ ba tháng mà thôi. Thương chồng, vợ chàng cũng bồng bế con thơ theo chàng vào đảo lạ không người, cứ như bây giờ là vùng đất Nga Sơn (Thanh Hóa). Ngày ấy, đất Nga Sơn hoang vu, bãi biển bồi mênh mông, đảo lại chơi vơi ngoài biển, cả vùng chỉ có trời và biển, tịnh không một bóng người. Mai An Tiêm và vợ đổ bộ lên đảo, tự thu xếp nơi ăn ở tạm thời trong hang núi, chọn đất tỉa ngô, cấy lúa. Vợ con chàng còn bắt thêm con cá, con tôm vốn là sản vật có sẵn, nên cuộc sống cũng kéo dài để chờ đến khi gặt hái. Một hôm, chàng thấy trên đảo có một thứ cây lạ do hạt của chim ăn trái cây bỏ ra mọc thành bãi tươi tốt. chàng bèn chăm bón xem kết quả xa sao. Chỉ ba tháng sau, cây mọc rất nhanh, bò lan khắp bãi và trổ hoa kết quả chi chít, quả mỗi người một phổng, da đen xanh và trơn bóng, bổ ra ruột đỏ tươi, hạt đen nhánh, ăn vào thấy thơm ngon, ngọt mát vô cùng. Đó chính là dưa đỏ mà không rõ vì sao chàng đặt tên là dưa hấu. Chàng và vợ con mừng lắm. Thế là nhờ bàn tay lao động sáng tạo, cuộc sống của gia đình chàng được vững vàng, không lo đói kém nữa.

Một số khách đường biển có lần ghé thuyền vào đảo tìm nước, gặ được Mai An Tiêm, chàng đem dưa ra cho, ai cũng trầm trò khen ngợi thứ dưa quí, truyền đi khắp nơi. Mai An Tiêm trở nên nổi tiếng. Nhiều người ở đất liền biết chuyện, tìm tới, được chàng che chở cho lập nghiệp ở đây, dần dần đông đúc thành đất làng Nga Sơn. Vua Hùng nghe chuyện của Mai An Tiêm mới tin lời chàng là đúng; chỉ có bàn tay con người quyết định cho số phận của mình mà thôi và sức lao động của con người quả là kỳ diệu.

Quả dưa đỏ trở thành đặc sản của vùng đất Nga Sơn và nhân dân nhớ ơn Mai An Tiêm đã lập đền thờ.

BÀ TRIỀU TỔ SƯ NGHỀ DỆT LƯỚI XÚC LÀNG TRIỀU DƯƠNG

Có người kể: Bà Triều là công chúa út của vua Lý phải đưa đi cống cho Long Vương làm hoàng hậu để tránh tai họa do Long Vương gây cho nhân dân. Thuyền nàng cùng các thị nữ lênh đênh trên biển để về Long Cung trong ngày cưới, song Long Vương quá chén say nên không lên đón. Dân làng Biển cứu được nàng và các thị nữ, đem về làng. Nàng cảm ơn dân làng không trở về triều nữa mà sống với dân làng chân thực, chất phát. Làng Biển có nghề, biển cả lại lắm mòi cá song không có lưới. Nàng đã dạy cho dân làng cách xe tơ dệt lụa, dệt nhiễu. Cũng từ đó, nàng đã nghĩ ra cách dệt lưới xúc để đánh mòi. Nhờ những tấm lưới xúc cho nên nghề đánh mòi biển phát đạt, đời sống khấm khá, đỡ vất vả. Làng biển ấm no, đàn bà có nghề dệt lụa, dệt lưới xúc, đàn ông ra khơi đánh moi đánh cá. Nàng út đặt tên làng là Triều Dương (chầu về phía Mặt Trời). Khi nàng mất, dân làng lập đền thờ, tôn là Tổ sư nghề dệt lưới xúc và gọi bằng cái tên tôn kính: Bà Triều.

Nhân vật có công dựng nước, giữ nước đã được viết trong chương các vua chúa người quê Thanh Hóa.

Các danh thần, dũng tướng, danh sĩ, danh nhân văn hóa người xứ Thanh góp mặt với nhân tài cả nước, đời nào cũng có và đã nêu lên những tấm gương rực rỡ lưu truyền sử sách. Gắn các nhân vật này vào thời đại mà họ sống và cống hiến tài năng, sức lực của họ cho dân cho nước, ta có thể chia họ thành các nhóm như: Dũng tướng Lam Sơn; danh thần dũng tướng thời Trung Hưng: Những nhân vật bất khuất kiên trinh thời Cần Vương; nhóm danh sĩ trong Văn học Lam Sơn; nhóm danh sĩ trong Hội Tao Đàn… Tất nhiên, còn có nhiều nhân vật riêng lẻ, không gắn vào nhóm nào.

Các nhân vật người ở quê khác, có công với Thanh Hóa và nổi tiếng ở xứ Thanh ta có thể kể đến Lý Thường Kiệt – đời Lý, Trần Nhật Duật – đời Trần. Đó là những ngôi sao chói lọi mà công đức còn để lại trên khắp xứ Thanh, được nhân dân Thanh Hóa thờ phụng.

LƯỢC TRUYỆN CÁC NHÂN VẬT TIÊU BIỂU Ở THANH HÓA

Hiện chưa có thống kê đầy đủ về nhân vật Thanh Hóa được nhân dân địa phương cũng như cả nước xưng tụng công đức. Điểm sử sách xưa nay thì có đến trên 1.000 nhân vật Thanh Hóa được ghi tên tuổi, hành trạng, thành tích… và nhiều người được tôn vinh. Thế nhưng, trong từng loại nhân vật như đã trình bày ở trên có những nhân vật được nhân dân xưng tụng rộng rãi, nổi trội và tiêu biểu và sau đây là một số nhân vật tiêu biểu của Thanh Hóa:

Lê Quát: Đông Sửu, Trạng Quét/Chổi

Lê Quát người làng Phú Lý, nay là xã Triệu Trung, huyện Đông Sơn, chưa rõ năm sinh, chỉ biết ông sống dưới triều Trần đầu thế kỉ XIV và mất trước năm 1378.

Truyền ngôn cho ông là dòng dõi Thái sư Lê Văn Thịnh, vị trạng nguyên đầu tiên thuộc đời Lý Nhân Tông

Lê Quát sinh ra không rõ cha, mẹ nghèo, làm nghề “quét chợ” ở chợ Rỵ trong làng, nuôi ông. Lớn lên, Quát cũng giúp mẹ quét chợ kiếm sống nên khi đậu tiến sĩ dân trong vùng gọi ông là “trạng Quét” hay “trạng Chổi”.

Nhờ cô vợ có chút vốn liếng, Quát được vợ thu xếp cho đi học, song “dốt đặc” học mãi ba chữ “Tam Tự Kinh” vẫn không biết gì, thầy dạy chán quá phải đuổi về. Hai vợ chồng dắt nhau qua cánh đồng Viên Khê, thấy cụ già ngồi gốc cây đa bên đường “mài cái răng bừa để làm kim khâu”, đến một khúc sông thấy “cột đá mòn trên ngấn nước, vợ bảo “nước chảy đá mòn”, Quát tỉnh ngộ xin trở lại học. Từ đấy trí tuệ sáng láng, học đâu nhớ đấy, ba tháng đã hết chữ của thầy, ai cũng thất kinh, cho là thần đồng. Về sau, Lê Quát tìm đến học thầy Chu Văn An ở kinh thành cùng với Phạm Sư Mạnh. Hai người là học trò giỏi của nhà giáo Tiểu ẩn Chu Văn An.

Năm Ất Dậu (1345) đời Trần Dụ Tông ông cùng Phạm Sư Mạnh dự thi Thái học sinh. Ông đậu Đệ nhất giáp tiển sĩ đệ nhất danh, cứ như học chế từ đời Trần Thái Tông trở đi là trạng nguyên, không rõ vì sao sách vở không ghi chép.

Ông và Phạm Sư Mạnh trở thành đồng liêu, đều là cột trụ của các triều vua Minh Tông, Dụ Tông đời Trần, làm đến Hành Khiển. Tuy làm quan to trong triều song vẫn giữ lễ với thầy học là Chu An. Toàn thư chép: “Thỉnh thoảng có người đỗ đại khoa, vào chính phủ như Phạm Sư Mạnh. Lê Bá Quát đã làm Hành Khiển mà giữ lễ học trò, khi có đến thăm hỏi vẫn lạy ở dưới đất, được An (thầy Chu An) hỏi chuyện vài câu rồi đi ra, rất lấy làm mừng”

LÊ VĂN HƯU

Lê Văn Hưu người làng Phủ Lý (xưa là Kẻ Rỵ) nay là xã Thiệu Trung, huyện Đông Sơn. Ông sinh năm Canh Dần đời Trần Thái Tông (1230) thọ 93 tuổi. Lê Văn Hưu trải thời bốn đời vua Trần là Thái Tông, Thanh Tông, Nhân Tông, Anh Tông và là một Binh bộ Thượng thư trong ba lần chiến thắng quân Nguyên rất oanh liệt của dân tộc

Dòng dõi của Lê Văn Hưu vốn là một cự tộc Châu Ái vào thời Đình – Lê (thế X).

Khoa thi năm Đinh Mùi (1427) đời Trần Thái Tông chọn được Tam Khôi đều là những vị rất trẻ: Trạng nguyên Nguyễn Hiền 13 tuổi; bảng nhân Lê Văn Hưu 17 tuổi; thám hoa Đặng Ma La 14 tuổi. Cả thiên hạ ngạc nhiên và mừng rỡ, cho rằng đất nước đang trên đường thịnh vượng. Đăng khoa lục cũng ghi: “Tam Khôi tinh trung thiếu niên, cổ kim hãn kiến” (học vị Tam Khôi đều thuộc về tuổi thiếu niên, xưa nay hiếm thấy)

Lê Văn Hưu từng giữ chức Kiếm pháp quan dưới quyền của Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải, làm Binh bộ thượng thư trong quân đội nhà Trần chống giặc Nguyên. Dưới thời Trần Thánh Tông, Lê Văn Hưu được giao Trường sử quan, tu Đại Việt sử ký. Toàn thư chép: “Nhâm Thân (1272). Mùa xuân tháng giêng Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử viện giám tu là Lê Văn Hưu vâng chỉ soạn xong bộ Đại Việt sử ký, từ Triệu Vũ đến Lý Chiêu Hoàng, cộng 30 quyển, dâng lên, vua xuống chiếu khen ngợi”.

Công trình Đại Việt sử ký trước hết là một công trình khoa học đồ sộ, trình bày diện mạo lịch sử nước ta, hệ thống các sự kiện lịch sử dân tộc thành một sách “có nước là có sử, mà sử để khẳng định đất nước”, ý nghĩa khoa học của Đại Việt sử ký thật là vĩ đại. Đây là “bộ sử Mẹ” của bộ môn lịch sử Việt Nam.

Có nhiều nhà đại nho, nhiều nhà nghiên cứu đề cao ngòi bút văn sử của Lê Văn Hưu song khái quát nhất, toàn diện nhất có lẽ là Ngô Sĩ Liên khi ông viết: “Văn Hưu là đại thủ bút đời Trần”

Gần đây, giới nghiên cứu tìm trong thư tịch Hán nôm đã phát hiện ra nhiều tác phẩm từ đời Trần có liên quan đến Lê Văn Hưu và đặt ra giải thiết: Phải chăng Lê Văn Hưu là người viết công trình địa lý đầu tiên của nước ta khi ông viết Địa Cao khảo sát vùng đất “địa linh” trên nước ta, tập sách trước khi cho là Hoàng Phúc?

Phải chăng có một số lời bàn về Chu dịch của Lê Văn Hưu và như thế Lê Văn Hưu là một trong những người Việt Nam đầu tiên nghiên cứu Lý dịch với một tư duy khoa học độc lập chứ không nô lệ?

Căn cứ vào lời của Hồng Đô Chư Cát, thị trong “Tụ dẫn” quyển sách “Tân đinh hiệu bình Việt điện u linh”, phải chăng Lê Văn Hưu là người khởi thảo đầu tiên về tác phẩm “Việt điện u linh” mà sau này Lý Tế Xuyên tiếp tục và hoàn thành?

Và nếu những giả thiết trên đều chân thật thì Lê Văn Hưu quả là một “đại thủ bút”, một danh sĩ kiệt xuất, người đã mở dầu cho các khoa học Việt Nam: Sử học, văn học, địa lý, nghiên cứu, lý dịch… Cũng như Nguyễn Thuyên (Hàn Thuyên) người đồng liêu, đồng triều với ông mở đầu cho thơ Nôm nước ta, những người mở đầu rất đáng kính phục, đáng noi gương.

LÊ SÁT

Lê Sát là dũng tướng Lam Sơn, một nhân vật quan trọng bậc nhất và có mặt trong Hội thề Lũng Nhai của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

Ông người thôn Bỉ Ngũ hương Lam Sơn nay thuộc huyện Thọ Xuân. Ông đến tụ nghĩa Lam Sơn vào giờ Mùi ngày 19 tháng 5 năm Ất Mùi (1415).

Lê Sát là một tướng tài, chỉ huy những trận đánh lớn, thắng lợi lẫy lừng khiến bọn giặc Minh táng đờm kinh hồn. Các trận đánh khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn còn trong thời “trứng nước” như trận Quan Du, trận Khả Lưu, trận vây thành Nghệ An, trận vây Tây Đô, trận diệt thành Xương Giang… Bộc lộ khả năng quân sự xuất chúng của ông. Ông đã chỉ huy trận diệt viện Liễu Thăng, chém Liễu Thăng, bắt sống Đô đốc Thôi Tụ và Thượng Thư Hoàng Phúc.

Năm 1429, Lê Thái Tổ ban tiểu ngạch công thần cho 93 người, Lê Sát được xếp công đầu cùng với Phạm Vấn và Phạm Văn Xảo hạng Huyện Thượng Hầu.

Năm Thiệu Bình thứ nhất (1434) triều Lê Thái Tông, ông làm thủ tướng triều đình, hăng hái giúp vua sửa sang chính sự, luôn can gián vua trẻ Thái Tông.

Là võ tướng, tính nóng nảy, tuy hết lòng vì chức trách trụ cột triều đình, song không khỏi có những hành động vội vàng, can gián vua thường cứng sẳng, hình pháp quá căng làm cho vua ghét, một số quyền thần không ưa làm tờ tâu hạch. Các công thần như Lê Văn Linh, Lê Ngân bênh gỡ song vua Thái Tông không nghe, bắt phải chết.

ĐÀO DUY TỪ (572-1634)

Trai Thổ Sơn ăn khoai với củ

Mã lên rừng bắt hổ về chơi

Xuống biển tìm bắt cá voi

Đi học, biết chữ gấp đôi ông thầy

Thổ Sơn là một làng ở phía Nam huyện Tĩnh Gia, đất nghèo nhưng con người thì “anh hùng”. Câu ca tuy có “nói quá” lên theo kiểu “ngoa ngữ”, song cũng phản ánh được tính cách con người nơi đây. Điều đáng ghi nhận: Thổ Sơn cũng chính là quê của Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ, một đại nho đã giúp chúa Nguyễn khai phá xây dựng cho nước ta từ Hoành Sơn trở vào Nam.

Đào Duy Từ tự là Lộc Khê quê ở làng Hoa Trai, nay là làng Nổ (Thổ Sơn) xã Nguyên bình huyện Tĩnh Gia.

Ông học giỏi nhưng là thuộc gia đình “hát xướng” nên không được đi thi. Ông còn bị “tội” vì đổi họ mẹ “man khai” để đi thi nên bị “sung quân dài hạn” trong đội quân đánh Mạc song ông được Nguyễn Hữu Liêu, một tướng của Lê Trung Hưng bao che, giúp đỡ. Nhân đó, ông có dịp gần gũi với Đoan quốc công Nguyễn Hoàng và ước hẹn bỏ đất bắc vào giúp chúa Nguyễn. Đó là những năm từ 1593 đén 1599.

Năm Ất Mão (1615), Đào Duy Từ tìm đường vào miền Nam thi Chúa Tiên (Nguyễn Hoàng) đã mất hai năm về trước (1613). Ông phải vào tận Hoài Nhơn và gặp Trần Đức Hòa. Trần Đức Hòa, nghĩa đệ của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên đã tiến cử Đào Duy Từ qua bài thơ “Ngọa Long cương vãn” do Đào sáng tác. Đào Duy Từ được chúa Sãi trọng dụng vào hàng quân sư, tể thần. Ông đã giúp chúa Sãi kế sách an dân, mở mang miền Nam… Cho đến việc xây Lũy Thầy, lũy Trường Dục để chống chúa Trịnh nhằm bảo vệ cho công cuộc nội trị ở miền Nam từ năm sông Giang trở vào đang bước đầu được xây dựng. Chúa Nguyễn trao cho Đào Duy Từ chức Nha úy Nội tán, tước Lộc Khê hầu để coi quân cơ, triều chính.

Đối với chúa Nguyễn, Đào Duy Từ là một khai quốc công thần bậc nhất, song đối với cả nước Đào Duy Từ là một danh sĩ ở thế kỷ XVII với các khúc thơ Nôm là Ngọa Long Cương Vãn, Tư Dung Vãn, và một số bài thơ nói về chí hướng của trai thời loạn.

Ông còn là tác giả của “Hổ trướng khu cơ” một công trình khoa học quân sự dưới thời phong kiến.

TỐNG DUY TÂN (1937-1892)

Tống Duy Tân người thôn Gia Miêu, huyện Hà Trung (Thanh Hóa) cha mẹ nghèo cố dành dụm nuôi con ăn học đến năm 38 tuổi ông mới đậu cử nhân (1870), 5 năm sau đỗ Tiến sĩ (1875). Giữ chức tri phủ Vĩnh Tường, sau được đề bạt làm chức Án Sát vào lúc giặc Pháp chiếm Bắc Kỳ, ông từ quan tham gia nghĩa quân chống Pháp theo Tôn Thất Thuyết, nhận chiếu Cần Vương mời Đinh Công Tráng chỉ huy xây chiến lũy Ba Đình, đánh nhiều trận quyết liệt, giết nhiều lính Pháp, khiến giặc kinh sợ.

Khi phong trào Cần Vương trên đất Thanh bị dập tắt, căn cứ Ba Đình thất thủ. Giặc Pháp đã bắt cụ Nghĩa Tống, đóng củi giải về tỉnh lỵ Thanh Hóa. Giữa đường cụ dùng bút tre để làm thơ và dùng luôn cây tre rạch bụng, moi ruột, chửi mắng khiến chúng khiếp sợ.

Ngày 15 tháng 10 năm 1982, giặc Pháp hành hình chém cụ Nghè Tống ở chợ Vườn Hoa. Nhân dân đến đưa tiễn vị anh hùng chống Pháp đều mặc áo tang trắng. Cụ vẫn ung dung vĩnh biệt mọi người, dặn dò mọi người với lời lẽ khảng khái. Đầu cụ Nghè vừa rơi xuống, nhân dân mặc áo trắng đã lăn vào thấm hết máu và “cướp đầu cụ” khiến cho giặc Pháp cùng tay sai ngơ ngác khiếp đảm.

G. DÂN CA DÂN VŨ THANH HÓA

Do vị trí địa lý, phương thức sinh hoạt, tập tục khác nhau, nên từ xa xưa Thanh Hóa đã hình thành nhiều vùng, trung tâm dân ca, dân vũ. Người Thanh Hóa sáng tạo ra các làn điệu dân ca, gửi gắm tâm tư, tình cảm vào những giai điệu mang âm hưởng của môi trường sống, không khí sinh hoạt hàng ngày. Đặc trưng về môi trường tự nhiên, xã hội đã sản sinh ra những làn điệu dân ca mang bản sắc riêng của Thanh Hóa:

1/ Vùng lưu vực sông Mã, sông Chu có hò sông Mã

2/ Vùng Viên Khê, Tuyên Hóa, Cổ Bôn (thuộc huyện Đông Sơn) tập trung nhiều trò diễn, diễn xướng dân gian nổi tiếng, tiêu biểu như diễn xướng múa đèn Đông Anh.

3/ Huyện Thọ Xuân có trò Xuân Phả.

4. Huyện Nông Cống có tổ hợp hệ thống hát chèo thờ ở lễ hội đền Mưng.

5/ Huyện Tĩnh Gia – giáp ranh tỉnh Nghệ An, có hát khúc hay hát ru Tĩnh Gia mang bóng dáng của hát giặm Nghệ Tĩnh…

1. HÒ SÔNG MÃ

Hò sông Mã là tổ hợp các điệu hò được sinh ra từ những chuyến đò trên sông Mã, sông Chu… do trai đò vừa chèo, vừa hát để làm vui lòng khách, đồng thời khích lệ tinh thần lao động trong công việc thường nhật. Hò sông Mã đã đi vào sử sách, vào văn thơ và là niềm tự hào từ bao đời nay của người dân xứ Thanh.

Sông Mã được ví như con ngựa bất kham bởi dòng nước chảy xiết qua bao thác ghềnh, sóng dữ từ Mường Lát chảy về xuôi, mang đến cho những người làm nghề chở đò dọc bao gian nguy vất vả, nhưng cũng chính vì vậy mà nó đã tạo cho hò sông Mã chất mạnh mẽ, hoành tráng.

Thang âm điệu thức của Hò Sông Mã rất đa dạng. Dường như hệ thống ngũ cung lâu đời của dân tộc Việt được vận dụng cả vào đây. Có thể thấy từ thang 3 âm, 4 âm đến 5 âm, thậm chí 6 âm nhờ sự kết hợp hai thang âm khác nhau, và gặp đủ mặt 4 thang âm ngũ cung đặc trưng của Việt Nam: Bắc, Nam, Xuân và Oán.

Các làn điệu của Hò Sông Mã gồm có:

– Hò Rời bến

– Hò Đò ngược hay Sắng đò ngược

– Hò Đò xuôi

– Hò Nhịp đôi một

– Hò Nhịp đôi hai

– Hò Gióng dã

– Hò Làn ai

– Hò Làn văn

– Hò Ru ngủ

– Hò Niệm Phật

– Hò Cầu Chúa

– Hò lèo 2

– Hò lèo 3

– Hò Mắc cạn:

– Hò Vác

– Hò Cạn

– Hò Cặp bến

Hò sông Mã được hát theo lối xướng – xô, câu kể của một người bắt cái (thường là người cầm lái) được luân phiên với câu đồng thanh phụ họa của các trai đò. Theo hành trình, hò được chia thành 5 chặng: hò rời bến, hò đò ngược, hò mắc cạn, hò đò xuôi, hò cập bến.

– Khi con thuyền bơi ngược dòng nước, người ta thể hiện điệu Hò đò ngược, sau mỗi câu kể của người bắt cái như hiệu lệnh để cùng thống nhất động tác lấy đà, các trai đò vừa hùa nhau hát câu xô vừa chống sào đẩy thuyền tiến về phía trước.

– Con thuyền đôi khi còn phải đối đầu với thác gềnh nữa, cả câu xướng lẫn xô trong Hò vượt thác đều ngắn gọn, chắc nịch.

– Khi thuyền thong dong trôi theo dòng nước êm ả, người giữ tay lái cất giọng hò các làn điệu Hò xuôi dòng, bốn trai đò chia ra hai bên mạn thuyền thong thả chèo vừa hòa giọng xô vừa nhịp nhàng giậm chân lên mặt ván.

– Khoảng nửa đêm đến sáng trong cảnh tĩnh lặng mênh mông, họ đưa khách vào giấc nồng bằng các điệu Hò ru ngủ.

– Trai đò còn “phục vụ” khách đò bằng Hò làn ai dựa trên các tích chuyện éo le, cảnh đời sầu bi, tình yêu dang dở.

– Lúc thuận buồm xuôi gió thảnh thơi ngơi chèo cũng là lúc trai đò tha hồ tâm tình ngẫu hứng.

“Vắng cơm một bữa chẳng sao

Vắng em một bữa lao đao cả ngày.

Vắng em chỉ một phiên đò,

Trầu ǎn chẳng có chuyện đò thì không…”

Cùng chia sẻ buồn vui với các chàng trai đò, cùng đối đáp với họ trong những khúc giao duyên tình tứ còn có các nàng khách buôn trên thuyền và đôi khi cả các cô gái ở dọc bên bờ sông nữa.

Thường thì người trên thuyền chẳng thấy rõ mặt người trên bờ, nhưng mê tiếng hát, phục tài đối đáp, có khi thuyền phải cắm lại để hò với nhau vài ba câu rồi mới nhổ sào tiếp tục xuôi dòng…

2. DÂN CA, DÂN VŨ ĐÔNG ANH (Múa đèn Đông Anh)

Nguồn gốc hát múa Đông Anh đã có từ rất lâu đời. Trước đây được gọi là “ngũ trò”, sau này các nghệ nhân sáng tác, du nhập thêm nhiều trò nữa nên hệ thống trò diễn Đông Anh rất phong phú, gồm có: Múa Đèn (bài Đi cấy là một trong 13 bài trong tổ khúc Múa đèn), Tô Vũ, Tiên Cuội, Trống Mõ, Trò Thiếp, Trò Thủy, Vân Vương, Trò Hùm, trò Leo Dây, trò Xiêm Thành, trò Hà Lan, trò Tú Huần, trò Ngô Quốc, trò Đại Thánh, trò Nữ Quan… Làng Tuyên Hóa với Ngũ Trò, Trò Thủy, trò Bắt cọp, …, Viên Khê với các trò Múa Đèn, Tiên Cuội, Trống Mõ, Xiêm Thành, Trò Thiếp, Trò Ngô…. Trong số các trò diễn này thì trò Xiêm Thành, trò Tô Vũ không có lời ca, còn lại đều có lời ca, điệu múa.

Đã thành thông lệ, cứ vào các năm Tí, Ngọ, Mão, Dậu, tất cả các làng đều mở hội tổ chức diễn trò, chấm điểm những tiết mục hay để đi thi tại lễ hội Nghè Sâm. Tục truyền rằng, lễ hội Nghè Sâm được mở rộng khắp vùng, cứ ba năm một lần vào các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Nghè Sâm là nơi được chọn là trung tâm của lễ hội và diễn trò. Để không khí lễ hội diễn ra vui vẻ, Nghè Sâm được trang trí rất lộng lẫy. Trong nghè là nơi tế lễ rất nghiêm trang, bên ngoài có sân chơi để các địa phương biểu diễn các trò dân ca, dân vũ. Trong cuộc thi diễn trò giữa các địa phương, xã nào được đánh giá có tiết mục diễn hay nhất thì xã đó được quyền làm chủ lễ hội Nghè Sâm và được phân bổ việc đóng góp của các làng, phụ trách việc mua sắm lễ vật để tế thần, đồng thời điều khiển lễ hội và phân bổ các lễ vật cho các làng. Nếu gặp năm thời tiết mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt thì lễ hội sẽ kéo dài; năm mất mùa, đói kém thì thời gian lễ hội ngắn hơn.
gốc tích của hệ thống “ngũ trò” được xuất phát từ làng Viên Khê. Làng này được hình thành từ rất sớm. Đây cũng là vùng đất lập nghiệp của các ông tổ họ Nguyễn, họ Lê tại xã Đông Anh bây giờ. Theo thời gian, một số trò diễn ở Đông Anh bị mai một, một số trò cũ được thay thế, những trò còn lại được gắn thêm một số chi tiết mới

Thời phong kiến, làn điệu dân ca, dân vũ Đông Anh được các vương hầu, vua chúa chọn vào biểu diễn trong cung đình; sau này được biểu diễn mừng lễ Quốc khánh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa 1945, các ngày lễ lớn và có mặt ở các lễ hội, hội thi trong toàn quốc.

Trò Thiếp, Múa Đèn, Tiên Cuội là sản phẩm văn hoá dân gian được nhân dân làng Viên Khê xã Đông Anh huyện Đông Sơn lưu truyền gìn giữ từ lâu đời. Hình thức và nội dung các trò diễn phảng phất bóng đáng văn hoá nghệ thuật cung đình như Tiên Cuội với trang phục Tiên vừa đơn giản nhưng lại mang vẻ cao sang; Múa Đèn có đôi nét gần với múa đèn cung đình Huế; Trò Thiếp có ngôn ngữ nghệ thuật gần với sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng của người Việt.

Đối tượng thưởng thức của các trò diễn chủ yếu là nhân dân lao động và các chức sắc ở địa phương. Do chức năng chính là diễn trò để tế thần và thi tài nên các diễn viên tham gia đều phải chưa lập gia đình, được tuyển chọn kỹ càng. Các trò diễn được tổ chức chủ yếu để cổ vũ tinh thần cho con người sau những ngày lao động mệt nhọc và mang đậm giá trị nhân văn sâu sắc. Múa đèn có nội dung phản ánh lịch tiết nông nghiệp, cầu mong mùa màng tươi tốt của nông dân Thanh Hoá. Ngọn đèn châm lên trong điệu múa như biểu tượng ánh sáng mặt trời. Ngọn lửa thiêng đem lại nguồn sống, đem lại sự sinh sôi, nảy nở, phát triển theo vòng quay của vũ trụ, của thời gian 12 tháng trong năm. Sự tuần tự, sự ổn định của thời gian cùng lửa thiêng tạo sinh khí cho vạn vật tồn tại, phát triển đúng quy luật của tạo hoá. Tất cả điều đó chính là ý nghĩa chất chứa trong lời ca điệu múa: Thắp đèn, Luống bông luống đậu, Vãi mạ, Đan lờ, Nhổ mạ, Đi cấy, Kéo sợi, dệt cửi, Xe chỉ vá may, Đi gặt. Trò Thiếp là bức tranh phác hoạ cảnh sinh hoạt Shaman giáo. Trò Tiên Cuội chất chứa những thăng trầm trong cuộc sống với sự vui buồn pha nét lãng mạn trong tình yêu (tình yêu của Cuội và cô Tiên Út). Hai trò này là hai trò khác nhau nhưng đều thể hiện niềm mơ ước, sự nguyện cầu về một cuộc sống hạnh phúc, an nhàn cho con người. Các trò diễn dân gian này đều phác hoạ bức tranh toàn cảnh về đời sống vật chất, tinh thần và khát vọng vì một tương lai tốt đẹp của người dân vùng Đông Sơn, Thanh Hoá.

news_92283news_89292lam3

Các trò diễn Đông Anh được gọi là ngũ trò Đông Anh hay ngũ trò Viên Khê. Gọi là ngũ trò nhưng thực ra trò diễn Đông Anh gồm 12 trò là: trò Múa Đèn, trò Tiên Cuội (hay Tiên Phường), trò Tô Vũ, trò Trống Mõ, trò Thiếp, trò Vằn Vương (hay trò Hùm), trò Thủy (hay Thủy Phường), trò Leo Dây, trò Xiêm Thành (hay Chiêm Thành/Sim Thành), trò Hà Lan (hay Hoa Lang), trò Tú Huần (hay Lục Hồn Nhung), trò Ngô Quốc. Ngoài ra ở Đông Anh còn có một số tiết mục nữa như trò Đại Thánh, trò Nữ Quan…

Một số địa phương lân cận thuộc huyện Đông Sơn cũng có hệ thống ngũ trò: Ngũ trò Rủn ở kẻ Rủn, nay thuộc xã Đông Khê, gồm các trò: Múa Đèn, Trống Mõ, Tiên Cuội, Ngô Quốc, Mí Mẩn và Ngũ trò Bôn ở kẻ Bôn, nay thuộc xã Đông Thanh, gồm các trò: Ngô Phường, Lan Phường, Tiên Phường, Thủy Phường, Lăng Ba Khúc (các xã Đông Khê, Đông Thanh vào đầu thời Nguyễn thuộc tổng Thạch Khê, giáp giới tổng Lê Nguyễn và cùng thuộc huyện Đông Sơn).

Trò Xuân Phả hay trò Láng (xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa) cũng có các trò Chiêm Thành, trò Hoa Lang, trò Lục Hồn Nhung, trò Ngô Quốc nhưng hình thức thể hiện có khác nhiều.

http://vtv1.vcmedia.vn/zoom/650_365/Uploaded/nguyetmai/2014_03_13/Dong_Anh_mua_den_130314.jpg

Trò Múa Đèn hay còn gọi là tổ khúc Múa Đèn, là trò diễn tiêu biểu nhất của ngũ trò Viên Khê. Tổ khúc được chia thành nhiều bài, gồm:

– Thắp đèn

– Luống bông, luống đậu

– Vãi mạ

– Chẻ lạt đan lừ

– Nhổ mạ

– Đi cấy

– Kéo sợi

– Dệt cửi

– Vá may

– Cửa đóng then cài

– Dâng quạt

– Đi gặt

Một số tài liệu không ghi nhận các bài Cửa đóng then cài và Dâng quạt mà thay bằng các bài Đánh gà luộc, Cúng cơm mới và Dâng oản.

Các bài trong tổ khúc phản ánh chu trình sản xuất theo mùa vụ nông nghiệp. Khi biểu diễn, 12 con trò (là các cô gái) đội trên đầu đĩa đèn dầu lạc (ngày nay thay bằng đĩa nến), vừa hát vừa thực hiện các động tác múa rất uyển chuyển mà không làm đèn rơi xuống. Xen giữa 10 bài đầu tiên là xướng và đế, các bài cuối: Đánh gà luộc, Cúng cơm mới và Dâng oản chỉ múa mà không hát.

Một số lời ca tiêu biểu:

Bài Thắp đèn:

Sau chín tiếng trống, 12 con trò đồng thanh hát:

Thấp thoáng bóng ngọn đèn quang

Còn không ta lấy, dở dang ta đừng

Trong nhà ta tứ ngày ràng rạng

Lòng em lại muốn chơi trăng ngoài thềm

Muốn cho trong ấm ngoài êm.

Lời xướng: Bà con ơi! Giờ đến tháng giêng, tháng hai ta đi luống bông, luống đậu phải không?

Lời đế: Phải rồi.

Sau đó chuyển sang bài tiếp theo (Luống bông, luống đậu).

Bài Vãi mạ:

Tay cầm nắm trấu tung ra

Trấu nát ra tro, thịt nát ra giò, đậu nát ra tương.

Bài Chẻ lạt đan lờ: (còn gọi là Đan lờ):

Tay cầm dao mác, nắm nan

Lên chùa thanh vắng ta đan cái lờ

Bắt cá thả lờ, còn nhớ hay đã quên?

Những lời ca này có phần giống ca từ của làn điệu chèo tàu Lên chùa ở Đan Phượng, Hà Nội:

Tay cầm dao mác, thanh nan

Lên chùa thanh vắng ta đan cái xời

Không may xời đổ toi rơi

Cho cua bò mất anh thời về không…

Bài Đi cấy:

Lên chùa bẻ một cành sen

Ăn cơm bằng đèn đi cấy sáng trăng

Ba bốn cô có hẹn cùng chăng?

Thắp đèn ta sẽ chơi trăng ngoài thềm

Muốn cho trong ấm ngoài êm…

http://vtv1.vcmedia.vn/Uploaded/nguyetmai/2014_03_13/Dong_Anh_mua_den_1_130314.jpg

Bài Xe chỉ, vá may:

Ngồi thềm xe chỉ, chỉ xe

Xỏ kim, kim xỏ ngồi hè vá may…

Một biến thể khác:

Ngồi buồn xe chỉ, chỉ xe

Xỏ kim, kim xỏ, ngồi thềm vá may

Lội sông khăn gói tay mang

Mồ hôi gió đượm thương chồng phải theo.

Bài Cửa đóng then cài:

Khăng khăng cửa đóng then cài

Cửa trong mắc khóa, cửa ngoài cài then

Đôi ta còn lạ chưa quen

Tuy rằng cửa đóng mà then không cài.

Bài Đi gặt kết thúc cả tổ khúc với lời ca:

Bao giờ cho lúa bông vàng.

Để anh đi gặt cho nàng mang cơm.

Trò Tiên Cuội: Con trò gồm chú Cuội và 12 tiên nữ. Sau khi gặp nhau bên hồ sen, Cuội yêu và lấy cô tiên đẹp nhất. Khi các cô tiên được Ngọc Hoàng gọi về trời, Cuội đau xót và chết. Các tiên nữ thương cảm liền quay lại làm phép cho Cuội hồi sinh. Tất cả cùng múa hát ngợi ca xóm làng.

Trò này thể hiện ước mong có một cuộc sống thanh bình no ấm. Mở đầu là đoạn dâng hương hát chúc, sau đó là đoàn tiên trên trời xuống chơi và ca:

…Xuân vừa gặp tiết thiều quang

Múa mừng dân xã thọ trường vinh hoa.

Sau đó là đoạn Tiên Cuội tỏ tình:

…Ô Kiều, ô thước bắc sang

Chức Ngưu kia cũng một đoàn vầy vui.\

Cùng với trò Xiêm Thành, trò Tô Vũ không có lời ca. Các con trò gồm bốn ông bụt, một ông sư, một bà vãi đội nhang, một ông tô tượng đúc chuông. Các nhân vật múa các điệu chèo cạn, chèo sâu và chèo đua.

Trò Trống Mõ có hai nhân vật mạt hạng trong làng là Trống và Mõ cùng với cu Nhớn, mẹ Mõ. Cuộc sống của người nông dân trong xã hội phong kiến được phản ánh sinh động thông qua những đoạn đối thoại dí dỏm. Nhạc đệm là trống và mõ, lời thoại xen với hát, chủ yếu mượn của ca dao, dân ca.

Trò Thiếp được diễn tại nghè Sâm lần cuối cùng vào năm 1944. Từ tên trò đến lề lối, giọng điệu đều dựa vào tục đánh đồng thiếp, một tập tục mê tín xưa nhưng nội dung lại mang tính chế giễu tệ đồng cốt.

Các con trò gồm tín chủ, thầy cả và bốn phụ lễ, đều do nữ đóng, phục trang sặc sỡ. Các làn điệu được sử dụng: chúc, chầu văn, thỉnh.

Anh tài đủ mặt cùng nhau

Đánh loài quỷ đói cụt đầu, cụt tay

Đồng thời, trò Thiếp còn có những bài nói thể hiện nội dung trữ tình:

… Trăm hoa dầu dãi nắng sương

Hoa cam, hoa quýt, chàng thương hoa nào?

Chàng thương hoa mận hoa đào

Còn bông hoa cúc biết vào tay ai?…

Và:

Mình lấy được ta trăm hoa tươi tốt

Tuổi ta hăm mốt, tuổi mình hăm hai.

Trò Vằn Vương:

Mười tám con trò gồm một con hổ, mười sáu thợ săn và một người xướng. Thợ săn đứng thành hình chữ U, bốn người đầu đeo súng còn lại cầm giáo, cùng vây hổ, bắt khênh về. Trò diễn kèm với lời ca.

Trò Thủy:

Gồm sáu đoạn: mở đầu, giáo thuyền, khai chèo, đi chèo, giậm mái, chèo bay, lời ca đi liền với các động tác múa. Mười sáu con trò cầm mái chèo, chia hai hàng. Nhạc cụ: trống, thanh la, sênh. Có hai người múa gươm vàng. Trang phục gồm quần trắng, áo đỏ, thắt lưng xanh.

Lời ca như sau:

Mở đầu:

Mở cửa cho thủy tôi vào

Đem trò trình lễ tiêu hao sự tình…

Giáo thuyền:

…Mừng nay khang thái

Vận mở dương hanh

Luyện tập thủy binh

Sử thuyền như sử mã…

Khai chèo:

Khen ai khéo mở

Gỗ dựng làm thuyền…

Đi chèo:

…Mạn thuyền nghiêng đôi bên êm ái

Mặc kẻ chèo người lái trước sau.

Giậm mái:

Chẳng giậm thì thuyền chẳng đi

Giậm ra ván nát thuyền thì long đanh…

Chèo bay:

…Ta chèo một mái sang sông

Rước lấy đô đốc quận công về đình…

Trò Xiêm Thành:

Trò này không có lời ca. Một người đứng giữa cầm trống, các con trò đeo mặt nạ và phục trang, múa theo nhịp trống. Các vai diễn gồm:

Hai anh Mõ: Một áo đen, một áo xám, cả hai mang mặt nạ nhỏ, xương xương, cầm mõ đánh theo nhịp trống.

Thầy thuốc: Mặt nạ trán dô, mũi to, miệng rộng, môi hở, lè lưỡi chìa 4 răng ra ngoài, áo kiểu tuồng cổ.

Mí Mẩn: Mặt nạ mũi gãy, miệng rộng, môi trên to, môi dưới mỏng, mặc áo thụng vàng.

Anh Mếu: Mặt nạ miệng mếu, áo thụng đỏ.

Người chết: Mặt nạ hiền, màu xanh, áo thụng xanh.

Sau một hồi trống dồn, người chết nằm xuống đất, chết. Mếu, Mõ, Mí Mẩn đi mời thầy thuốc. Mí Mẩn nói: Thầy ơi thầy, xin thầy ba lạng vàng, thầy thuốc lắc đầu. Mí Mẩn lại nói: Thầy ơi thầy, xin thầy ba nắm xôi. Thầy thuốc gật đầu, chữa bệnh, người chết sống lại. Tất cả con trò vái và vào.

Trò Hà Lan:

Con trò gồm một con kì lân, hai con ngựa, chúa và nhiều lính. Chúa cầm nhịp cho lính hát theo, âm điệu khỏe và nhịp nhàng. Chúa múa cờ lụa trắng, múa siêu đao, múa quạt, quân cũng múa theo. Lời ca chủ yếu chúc vua quan và mong đời sống yên bình.

Trò Tú Huần:

Con trò gồm một mẹ và bốn con, đeo mặt nạ và vừa diễn các động tác như cày bừa, kiếm củi, học hành, chơi đùa, vừa hát theo nhịp trống đệm.

Lời ca như sau:

Túi anh những bạc cùng vàng

Mượn thợ kéo nhẫn cho nàng đeo tay…

Trò Ngô:

Được chia làm ba cảnh, biểu diễn trọn một đêm.

Cảnh 1: Các con trò: thầy thuốc, thầy địa lý, thầy bói biểu diễn các động tác nghề nghiệp theo nhịp trống và sênh.

Cảnh 2: Thêm một ông lão Ngô (ông già người Tàu) đi bán kẹo, một con đĩ ghẹo lão Ngô và ba người đi bẻ ngô phụ họa cùng con đĩ. Khi lão Ngô chết, con đĩ mời thầy thuốc đến chữa, thầy địa lý cũng đòi chữa bệnh và lão Ngô sống lại.

Cảnh 3: Thêm bốn ông bụt đeo mặt nạ, một ông sãi, một bà vãi, một ông tô tượng đúc chuông. Các con trò hát các bài chèo cạn, tô tượng, đúc chuông và diễn như trong trò Tô Vũ.

Ca khúc:

Nói đến dân ca Đông Anh Thanh Hóa, không thể không nhắc tới Đi cấy – thuộc tổ khúc múa đèn Đông Anh:Thắp đèn, Luống bông luống đậu, Vãi mạ, Đan lừ, Nhổ mạ, Đi cấy, Kéo sợi, Dệt cửi, Xe chỉ vá may, Đi gặt. Những bài dân ca này được người dân đưa đến hát múa thi tại nghè Sâm để tế thần. Âm nhạc trong múa đèn Đông Anh mang đậm tính nghi lễ, có cấu trúc đơn giản, âm vực hẹp, nhẹ nhàng, thanh thoát.

Trích bài Đi cấy (dân ca Đông Anh):

loiam2

Lễ hội:

Ngũ trò Viên Khê được tổ chức thành lễ hội quy mô lớn, vào thời Nguyễn có sự tham gia của 9 thôn xã: Viên Khê, Doãn Xá, Xuân Lưu, Cáo Thôn, Phúc Hậu, Phù Lưu, Viễn Dương, Mao Xá, Đại Nẫm. Lễ hội được tổ chức tại nghè Sâm. Thông thường, lễ hội được mở 3 năm một kỳ, vào các năm: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Ca dao trong vùng có câu:

Ba năm một khoá trò lề

Lấy chồng hàng tổng thì về mà coi.

Ba năm một khoá trò chơi

Đông tây nam bắc xin mời về quê.

Vào các năm Tí, Ngọ, Mão, Dậu, các làng trong vùng mở hội riêng thờ thần hoàng của làng, chọn trò dự lễ hội. Trò nào được đánh giá cao nhất trong tổng thì được làm chủ hội nghè Sâm.

Công việc tổ chức lễ hội được bắt đầu từ tháng chạp âm lịch trước năm có lễ hội nghè Sâm. Ăn Tết xong, các làng dựng áng ở khu vực trước nghè Sâm. Trước khi chính thức mở hội, các làng diễn 4 trò: Xiêm Thành, Hoa Lang, Tú Huần, Ngô Quốc tại áng của làng mình, đầu tiên là làng Viên Khê sau đó là các làng còn lại.

Khôi phục

Sau Cách mạng tháng Tám, các trò diễn Đông Anh không còn được tổ chức nữa. Chỉ có phần lời ca của một số trò là được lưu truyền trong đông đảo nhân dân, còn các trò diễn gần bị lãng quên.

Những năm 1960, một nhóm các nhà văn hóa dân gian đã sưu tầm tại các làng Viên Khê (xã Đông Anh), Xuân Lưu và Nhuệ Sâm (xã Đông Xuân, nay thuộc thị trấn Rừng Thông), Ngọc Lậu (xã Đông Thịnh) được 9 trò diễn, gồm Múa đèn, Tiên cuội, Hà Lan, Thủy, Trống mõ, Ngô, Tú huần, Văn vương và trò Thiếp.

Từ năm 2002, Viện Âm nhạc Việt Nam đã chủ trì dự án “Khôi phục văn hóa phi vật thể”, trong đó đã tổ chức khôi phục lại một số trò diễn. Đến năm 2006, đã khôi phục được hai trò là trò Trống Mõ và trò Thiếp, cùng với ba trò diễn đã được khôi phục từ trước khi có dự án.

Đến năm 2009, đã khôi phục được 10 trò diễn gồm: Múa Đèn, Tiên Cuội, Nữ Quan, Trống Mõ, Bắt Cọp, Thiếp, Ngô, Hà Lan, Thủy, Thủy Phường. Các trò Tú Huần, Sim Thành đang được tiếp tục khôi phục.

Tính đến cuối năm 2011, đã sưu tầm, nghiên cứu khôi phục lại 12 trong số 13 trò diễn. Trong đó, trò Lăng Ba Khúc đang sưu tầm thêm tư liệu lời múa, điệu hát. Tại xã Đông Anh, đã có 10 câu lạc bộ được thành lập ở các trường học, hội cựu chiến binh, đoàn thanh niên, hội phụ nữ… trong xã.

3. TRÒ XUÂN PHẢ

Trò Xuân Phả (TXP), một số nghiên cứu tự đặt tên gọi Lân Bang Ngũ Quốc Đồ Tiến Cống là một tổ hợp múa dân gian đặc sắc, độc nhất vô nhị chỉ tồn tại ở làng Xuân Phả nay thuộc xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. TXP gồm có 5 điệu múa rất đặc biệt với tên gọi Hoa Lang, Tú Huần (Lục Hồn Nhung), Ai Lao, Ngô QuốcXiêm Thành (Chiêm Thành). Trò Xuân Phả thường diễn ra vào các ngày 10 đến 12 tháng 2 âm lịch hàng năm.

Nguồn gốc:

Nhiều nhà nghiên cứu khẳng định trò Xuân Phả tồn tại từ đời nhà Đinh, sau khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân và lên ngôi vua.

Truyền thuyết địa phương kể lại rằng, vào thời Vua Đinh, đất nước có nạn giặc ngoại xâm, nhà Vua sai sứ giả đi khắp nơi cầu bách linh, bách tính và hiền tài cùng nhau đứng lên đánh giặc cứu nước. Khi sứ giả đi đến bờ sông Chu thì gặp giông tố phải trú lại trong Nghè Xuân Phả. Đến đêm, thần Thành hoàng làng Xuân Phả báo mộng về cách phá giặc, sứ giả vội về bẩm cáo lại với nhà Vua. Vua thấy kế hay nên làm theo và quả nhiên thắng trận. Để tỏ lòng biết ơn Thành hoàng làng Xuân Phả, nhà Vua đã phong tặng tước vương gọi là Đại Hải Long Vương. Nhà vua còn ban thưởng cho dân Xuân Phả năm điệu múa trò để hàng năm dâng lên Thành hoàng trong ngày hội làng. Có thể khẳng định rằng TXP là vũ điệu dân gian giành riêng cho Đại Hải Long Vương thành hoàng làng Xuân Phả.

Thực tế quả đúng như lời truyền, ngoài những lần được vua chúa triệu vào cung đình biểu diễn thì TXP chỉ múa ở sân Nghè (đình làng) trong ngày hội làng hàng năm chứ không đi múa biểu diễn ở các địa phương khác. Chính vì điểm này mà việc nghiên cứu về TXP gặp rất nhiều khó khăn, thiếu tư liệu để đưa ra kết luận cuối cùng.

Ngũ trò Xuân Phả:

Trong 5 trò múa thì chỉ ba điệu Hoa Lang, Tú Huần và Xiêm Thành có mặt nạ. Đặc biệt trò Hoa Lang, Xiêm Thành người ta không đeo mà ngậm mặt nạ nửa mặt dưới bởi một nút gỗ vào miệng.

Trò Hoa Lang:

Trò Hoa Lang gồm có 1 ông Chúa, 1 bà Nàng ( vợ Chúa ), 1 người hầu, 10 quân (có hai người cưỡi ngựa ).

Đồ dùng làm trò: Mũ da bò 11 cái, có chạm rồng ở mũ Chúa, chạm mặt nguyệt ở mũ quân. Mặt nạ 11 cái, bằng da bò sơn trắng, mắt bằng lông công, vẽ mồm. Áo vải màu lam 11 cái, thêu hổ phù và rồng, mây vàng, dưới có sóng thủy ba. Bà nàng mặc áo đỏ, thắt lưng xanh, đi dép cong, đội nón quai thao ( Có thể trai giả gái ). Ông Chúa và quân tay đeo hoa giấy ngũ sắc, cầm khăn đỏ, đôi quạt, chân đi bít tất, bỏ quần dài. Ngựa hai con đan bằng nứa bịt giấy có thể lồng vào người múa. Mái chèo 10 cái.

Nhạc gồm 1 trống lớn, hai nạo bạt, 1mã la, 1mõ tre.

Cách múa: Chúa vào múa, dạo bước lên quỳ, bái, chờ hai ngựa lên dờn xong đều múa mà lui xuống, để rước đàn em lên. Múa, dạo, bái đủ bốn lần thì múa siêu đao. Siêu đao bằng gỗ, cán sơn đen, lưỡi sơn trắng, có đeo hoa giấy bên sống.

Múa cờ lệnh: Cờ lệnh bằng giấy trắng.

Múa mạn: Múa bằng tay, dìa góc chân đủ bốn góc chiếu.

Quân hai người lên ngựa đấu bằng roi tre dài một mét.

Tám người sau múa điệu ba cấp: Múa một tay, một tay chống hông. Múa một tay có khăn đỏ, một tay cầm quạt xếp. Múa hai tay có quạt mở.

Tất cả chúa và quân múa xong, dạo trống bắt đầu xắp mái chèo chèo đò. Lúc đó trống lớn đánh theo mấy nhịp, cùng mõ và mã la: rập thùng thùng, rập thùng thùng, rập rập thùng thùng thùng.

Bài hát:

Trò tôi ở bên Hoa Lang

Tôi nghe chính đức tôi sang chèo chầu

Khoan là khoan, thuyền đà tới bến, quan ta chèo

Các quan ta, ta gác mái lên, ta chèo cho đều

Đố ai bắt được thì theo mái này

Dô hụy dô, ta nghe tiếng hồ, ta đẩy thuyền lên

Chúc mừng tuổi vua vạn niên

Ngai rồng ngự trị dân yên thái hòa

Khoan là khoan, tay trên mở túi hồng nhan ăn trầu

Chúc mừng đại đức thánh minh

Lịch triều phong tặng tối linh đại từ

Xinh là xinh, hai tay nâng lấy chén quỳnh nâng lên

Chúc mừng quan viên xã ta

Ơn trên lại được vinh hoa quý quyền

Khoan là khoan, mừng người tiến chức thăng quan từ rầy

Chúc mừng quan lão xã ta

Phơ phơ tóc bạc buồng hoa trên đầu

Xinh là xinh, chúc mừng quan lão hiển vinh thọ trường

Chúc mừng văn võ hai hàng

Văn chiếm bảng vàng, võ chiếm quận công

Khoan là khoan, chúc mừng văn võ thăng quan từ rầy

Chúng tôi mừng cả bảy thôn

Mở tiệc khôi hài vui thật là vui

Hay là hay, mấy khi vui vẻ thế này chèo chơi

Chúng tôi hát chúc đã rồi

Nay xin đánh trống trò chơi huê tình

Xinh là xinh, mỗi năm một cuộc sân đình chèo chơi

Từ ngày anh chống thuyền vào

Mặt em hớn hở như đào trên cây

Từ ngày anh chống thuyền ra

Mặt em rười rượi như hoa gẫy cành

Dô hụy dô, ta nghe tiếng hồ ta đẩy thuyền ra.

Trò Tú Huần:

Trò Tú Huần, còn gọi là Lục Hồn Nhung, gồm 1 ông lão, 1 anh hầu, mẹ Tú Huần, 10 quân trò.

Đồ dùng: 1 buồng quây bằng vải, để mẹ con Tú Huần đứng khi chưa vào trò. 11 mũ tre như rế cài lóng, lạt tre làm tóc bạc, có quai đeo vào cằm, đội trên khăn vuông đỏ bịt đầu.12 mặt nạ gỗ sơn trắng, vẽ mắt mồm đen. Mặt ông cố già và mặt mẹ cũng già. 10 mặt con chia làm hai đôi một trẻ dần. Đôi nhất có một răng, đôi nhì hai răng, đôi ba ba răng, đôi bốn bốn răng, đôi năm mặt trẻ, trắng má hồng, năm răng. Người hầu không có mặt nạ. 13 áo dài năm thân màu lam. Áo ông lão và mẹ già có thêu bông tròn, trong hình hoa ở ngực và lưng. Áo ông cố dài tay thụng. Áo của quân cổ viền đỏ. 13 khăn buộc lưng đỏ có tua. Trống mõ, nạo bạt, 11 đôi xênh bằng tre già.

Cách múa:

Vào Nghênh môn đoàn trò vẫn đứng trong màn quây. Nghe hồi trống, màn quây mở đoàn trò lộ ra với hai hàng dọc. Cụ cố già cổ đeo túi trầu, người hầu bên cạnh cầm quạt, cụ lượn hai vòng quanh sân nghè, vái chào rồi vào buồng. Đoàn trò vào sân nghè, bà mẹ gõ xênh nhảy theo nhịp ba, gần ban thờ , quỳ vái, đứng dậy nhảy lùi xuống. Theo nhịp trống, quân lên nhịp ba, mẹ lên nhịp ba, quân lùi một nhịp, mẹ lùi hai nhịp, rồi quân lên một nhịp ngang đều nhau.

Mẹ hú, tất cả đều quỳ, vái đứng lên, rẽ sang hai bên, đi vòng xuống. Ngồi xổm, gõ xênh, nhảy lên vị trí cũ. Hú, quay tại chỗ hai lần. Hú nhảy sang ngang trở lại ngay (2 lần). Hú quỳ sát gối, ngang từng đôi một. Hú giao lưu từng đôi nhìn nhau, lại quay ra (2 lần). Hú đứng một chân, sát từng đôi, giao lưu quay vào quay ra (2 lần).

Hai hàng dọc, mẹ đứng đầu, cầm nhịp hát. Khi hát chân chèo kéo sệt sát đất.

Bài hát:

Tú Huần là Tú Huần ta

Sáng sớm rửa mặt đeo hoa ăn trầu

Tú Huần kia hỡi Tú Huần

Mẹ đi đánh trống lấy phần con ăn

Ăn rồi con lại giữ nhà

Mẹ đi đánh trống rước cha con về

Cha con đã về ở tê

Quần quần áo áo, rê rê cả đường

Huê tình kia hỡi huê tình

Yêu kẻ một mình ghét kẻ có đôi

Huê tình sặc sỡ mọi nơi

Gái đương huê nguyệt chẳng chơi cũng hèn

Huê tình chẳng huê tình không

Lại có huê nguyệt ở trong huê tình

Hỡi người cao cổ rỗ hoa

Vào đây đánh trống cùng ta thì vào

Vào đây đánh trống cùng ta

Được tiền ta sẽ chia ba cho mình

Ta chiềng hàng sứ xê ra

Nào người nhân ngãi đường xa thì vào

Ta ghét con mắt ấy thay

Yêu nhau nó rẩng lông mày nó lên.

Trò Ai Lao:

Trò Ai Lao gồm có 1 ông Chúa tế, 2 mái Mường ( hai cô gái ), 2 anh hầu có cáng, một đeo súng, 10 quân ( hai người sau cùng có gánh cỏ cho voi ).

Đồ dùng: mũ 10 cái bằng rễ cây si, cắm rúm vào cái mũ nhỏ. Mặt không đeo gì. Áo bằng vải phá của Mường hình chữ nhật, dài 2m, rộng 0,4m.0,4m đeo vào mình ngoài áo thường, xéo qua vai. Chân đi không, tay cũng cầm đôi xênh. 10 tấm vải phá, 10 đôi xênh. Voi bằng giấy bồi do hai người đội và 1 quản tượng vừa đi vừa đánh cồng. Hổ do 1 người đội lốt bằng vải nhảy nhót như hổ. Cáng chúa bằng tre dài có hai người khiêng, buộc dây làm võng.

Cách múa: Hổ -voi vào mua trước, quân lính đeo súng nhảy chéo chân, nâng súng lên, hạ xuống, chờ chúa vào. Chúa già yếu có người đấm lưng.

Cùng nhau kéo hàng vào gõ xênh, theo nhịp trống ba tiếng một mà đan cài nhau, theo tiếng xênh nói “hí hí hích”. Trống đánh giống điệu Tú Huần, nhưng khoan thai. Chỉ có Chúa ăn mặc khác quân, đầu mũ quan văn đen, không cánh chuồn, áo xanh chàm tay thụng có bối tử, bụng phệ , lưng gù, chân đi ủng. Vào bái một cách sợ hãi.

Trò Ngô Quốc:

Trò Ngô Quốc có 1 ông Chúa Tàu, 2 cô tiên,1 mệ Nàng, 1 thầy địa lý, 1 thầy lang, 1 anh bán kẹo và mười quân đầu đội nón lính, áo màu lam, tay cầm mái chèo. Đầu màn có xuất hiện nhân vật người bán thuốc, người bán kẹo và thầy địa lý múa một đoạn ngẫu hứng rồi nhường chỗ cho các nàng tiên cùng chúa và đoàn quân đi ra. Màn diễn gồm các điệu múa quạt, múa khăn rồi múa mái chèo.

Đồ dùng: Chúa áo thanh thiên màu nõn chuối, không thêu vẽ, có hổ phù trước ngực. Cô tiên đầu đội mũ hoa sen, áo xiêm dài, tay có hai mảnh vải đỏ làm cánh, chân đi bít tất trắng. 10 quân áo không thêu vẽ, màu thanh thiên, có hình lá sòi ở cổ, chân đi tất trắng đế đen. Mệ nàng mặc như trò Hoa Lang. Lang y mặc theo lối khách Tàu, đi giày Tàu , cầm dao cầu và đeo rương thuốc nhỏ. Thầy địa lý áo khách màu xanh, tay cầm la bàn, đeo khăn gói đỏ. Anh bán kẹo mặc áo khách xanh, có sàng đeo ở cổ, trong sàng bày bát đĩa, 4 con xúc sắc, mấy đồng tiền, mấy cái kẹo.

Cách múa: Chúa múa dạo lên lối bái tàu, múa siêu đao, phất cờ, múa tay cùng bà nàng đối diện. Quân múa sạp xòe, dâng cao chân theo tay. Múa xong ba cấp đến chèo đò.

Trống đánh: cắc thùng cắc, cắc thùng cắc, thùng thùng thùng thùng thùng thùng cắc. Cứ cắc thì dậm chân, dậm hai cái rồi bước theo. Trong khi múa và bái có hô tiếng “Xi lô” 10 mái chèo như múa Hoa Lang.

Bài hát:

Tu là đi tu

Lần này anh quyết đi tu

Ăn chay nằm mộng ở chùa hồ sen

Thấy cô mình má phấn răng đen

Nam mô di Phật, anh quên mất chùa

Ai mua tiên cảnh thì mua

Còn cái mõ mít treo chùa tam quan

Trống chùa này treo cửa tam quan

Đợi người quý khách hồng nhan vẫy vùng

Trống chùa nay ai gõ thùng thùng

Của chung ai khéo vẫy vùng nên riêng

Đầu năm ăn quả thanh yên

Cuối năm ăn bưởi cho nên đèo bồng

Ăn cam nhớ quít, ăn hồng cậy nhau

Trồng chuối, chuối lổ tiêu tàu

Thầy mẹ em chỉ tham giàu mà thôi

Đôi ta như đũa có đôi.

(Chuyển nhịp múa)

Đôi ta như cánh chim hồng

Đẹp duyên mà chẳng đẹp lòng mẹ cha

Bước xuống thuyền anh dậm nhịp ba

Anh dậm nhịp bảy nó ra nhịp mười

Anh chẳng dậm thời thuyền chẳng đi

Dậm ra nát ván thuyền thì long đanh

Ai lên sông Sủ lắm ghềnh

Lên thác đã vậy xuống ghềnh làm sao

Luống công anh đứng mũi chịu sào

Thầy mẹ yêu đến khi nào cũng ơn

Chốn tình cờ du thủy du sơn

Biết bao giờ gặp cho hơn bây giờ

Bạn kim loan kết ngãi tình cờ

Khi nãy gặp đó khi giờ gặp đây

Chốn tình cờ ta gặp nhau đây

Mượn cắt cái áo mượn may cái quần

Yêu nhau xé lụa may quần

Ghét nhau kể nợ kể nần cho nhau

Ai lên Đồng Tỉnh , Huê Cầu

Đồng Tỉnh bán thuốc, Huê Cầu nhuộm thâm

Ai về chợ huyện Thanh Lâm

Nhắn nhau ngãi cũ tri âm bạn đò

Gần thời chẳng hợp duyên cho

Xa xôi cách mấy lần đò cũng đi

Anh thương nàng như lá lài bi

Ngày thì dãi nắng đêm thì dầm sương

Khen ai khéo nẻo đưa đường

Khen ai mối lái cho nường gặp anh

Đồn đây có con chim xanh

Ăn no tắm mát tìm cành đậu chơi

Hòn đất bụt anh ném lên trời

Chim bay đi mất đất rơi vào chùa

Vào chùa lạy Phật trở ra

Lạy tòa Tam thế vua cha Ngọc hoàng

Túi anh đầy những bạc cùng vàng

Mượn thợ kéo nhẫn cho nàng đeo tay

Nào ai bấm nháy nàng bay

Thời nàng giữ lấy nhẫn này cho anh

Một đêm có năm trống canh

Têm trầu quấn thuốc cùng anh trong nhà

Năm trống canh anh ngủ có ba

Còn hai canh nữa anh ra trông trời

Gió tăm tắp buồm chạy ra khơi

Chàng về Bắc quốc,em thời An Nam

Mưa đâu chớp đấy cho cam

Mưa qua thành Lạng chớp ngàn mây xanh

Anh khuyên em bốn chữ rành rành

Có thân thời giữ cháy thành vạ lây

Đừng có trách quở anh đây.

Trò Xiêm Thành:

Trò Chiêm Thành, gồm 1 ông Chúa, 1 bà Nàng, 1 người hầu, 2 ông phỗng, 10-16 quân.

Đồ dùng: Áo chúa bằng đậu, áo quân bằng lụa, đều nhuộm đỏ hồng, không hoa văn. Áo phỗng là cổ sòi, cổ xiêm quấn xung quanh mình. Chúa và quân đều buộc khăn ngang lưng, chân đi bít tất giả, giày xanh lam. Anh hầu mang lọng giấy. Bà nàng cũng kiểu áo chung, không múa. 17 người Chúa và quân, quấn khăn vuông đỏ thành hai sừng thẳng đứng trên đầu, ngậm mặt nạ nửa mặt, hình béo mập, mắt bằng lông công.

Cách múa: Thoạt tiên phỗng Chiêm Thành dâng hương. Chúa nhảy lên múa bái, đương quỳ lại nhảy phắt lên múa, không phải ngồi dậy nữa. Quân mới vào, chống tay vào hông, giật mình theo trống, sau múa tay xập xóc, cứ ba cái theo nhịp, khi quay vào khi quay ra, gài nhau hai đôi một, đủ ba cấp đứng, vào ba cấp.

Trống đánh nhịp ba từ đầu đến cuối: rập rập thùng thùng thùng, rập rập thùng thùng thùng. Không hát.

Trò Xuân Phả được hình thành và phát triển qua hàng nghìn năm để trở thành một tổ hợp múa dân gian đặc sắc, độc nhất vô nhị ở Việt Nam,

http://www.baothanhhoa.vn/files/images/normal/57ed1e24_1475157540.jpg

http://www.baothanhhoa.vn/upload/lam/111_1.jpg
Hầu hết nhân vật trong các trò đều phải đeo mặt nạ, tạo cảm giác lạ, ngộ nghĩnh.

http://www.baothanhhoa.vn/upload/lam/7.jpg

Trò múa Hoa Lang với đội quân múa đấu ngựa.

http://www.baothanhhoa.vn/upload/lam/10.jpg
Múa quạt trong trò múa Hoa Lang

http://www.baothanhhoa.vn/upload/lam/9.jpg
Trò Tú Huần, mô phỏng đoàn sứ thần của dân tộc Lục Hồn sống ở miền núi phía Bắc

http://www.baothanhhoa.vn/upload/lam/2.jpg
Các nghệ sĩ mặc quần áo màu sắc dân tộc miền núi, đội tóc giả, tay cầm hai thanh gỗ gõ vào nhau làm phách theo nhịp trống.

 

http://www.baothanhhoa.vn/upload/lam/6.jpg
Điệu Ai Lao, đi đầu là voi cùng những người thợ săn.

http://www.baothanhhoa.vn/upload/lam/5.jpg

Vua Ai Lao tuổi già đi đường xa nên có người dìu và theo sau đấm lưng.

http://www.baothanhhoa.vn/upload/lam/4.jpg
Điệu múa Chiêm Thành

http://www.baothanhhoa.vn/upload/lam/8.jpg
Điệu múa Ngô Quốc

http://www.baothanhhoa.vn/upload/lam/12.jpg

Nhạc cụ dùng trong các trò Xuân Phả là những chiếc trống, thanh la, mõ hoặc xênh tre, kết hợp cùng những điệu hò  vui nhộn.

Trong 5 trò Xuân Phả, chỉ 3 trò có hát: trò Hoa Lang có điệu Chèo chầu, trò Tú Huần có điệu Tú huần, trò Ngô quốc có điệu Chèo bát (Chèo sâu) và Chèo cạn (Chèo cạy).

Các bài hát trong trò Xuân Phả được cấu trúc như một ca khúc hoàn chỉnh, mang đậm chất âm nhạc dân gian Thanh Hóa và phong cách diễn xướng cung đình. Ca từ tuy mộc mạc nhưng cũng rất hóm hỉnh, tình tứ…

Như trên đã nói, theo truyền thuyết trò Xuân Phả có từ thời vua Đinh Tiên Hoàng. Tinh thần của nhà Đinh còn đọng lại trong tiết mục Kéo hội, do hai giáp trong xã cử hai tốp thanh niên trai tráng bận áo đỏ và xanh, cầm cờ xúy hình đuôi nheo, lúc đầu dàn quân hình chữ Á (giống chữ thập) đi vào, sau đó chạy lồng vào nhau hình chữ ất ba vòng. Năm nay tốp trai được chọn toàn là đồng nam chừng 15 tuổi, nói lên cái khí thế cờ lau tập trận của Đinh Tiên Hoàng. Tuy nhiên trong bốn điệu múa của bốn quốc gia trên, thì Hà Lan có lẽ không thể đến Việt Nam vào thời Đinh, thế kỷ 10. Ông Phan Bảo cho rằng múa Ngũ quốc một do ông Trịnh Quý Thuật, con thứ chín của ông Trịnh Khả, một người tham gia khởi nghĩa Lam Sơn đem về Xuân Phả, còn ông Nguyễn Mộng Tuân, người cùng thời với Nguyễn Trãi đem về Đông Sơn. Như vậy ít nhất một hai trò trong múa Ngũ quốc xuất hiện trong thế kỷ 15, và nhất là đến thế kỷ 17 mới có các thương thuyền Hà Lan đến quan hệ với đàng Ngoài. Các điệu múa có thể hình thành dần trong quá trình hội lễ và lịch sử. Điệu múa Lục hồn Nhung và hai điệu Chiêm Thành, Ai Lao có lẽ cổ xưa nhất.

Một số nhà nghiên cứu cho rằng sở dĩ có điệu múa TXP cùng cách ăn mặc trang phục và những âm thanh phát ra theo vũ điệu là để nói lên tinh thần “Văn Lang” xuất phát từ 15 bộ lúc bấy giờ, với mục đích chứng tỏ tinh thần liên kết chặt chẽ xung quanh nhà vua…Cũng có nghiên cứu viết rằng TXP tả lại cảnh năm phương đến chúc mừng nhà vua Lê Thái Tổ sau khi khải hoàn, là dư vị anh hùng của các nền quân chủ phong kiến sau khi giành lại nền tự chủ, là lễ nhạc triều đình hoán vị và đơn giản hóa một thứ lễ nhạc làng xã, là đỉnh cao của nghệ thuật múa cung đình và dân gian Việt.

Nguyễn Trãi ngày xưa từng dựa theo TXP để sáng tác múa Chư Hầu Lai Triều cho vua Lê Thánh Tông. Chư Hầu Lai Triều là điệu múa cung đình có nhiều nét giống như TXP.

Ngày nay nhiều nhà biên đạo múa cũng dựa vào tinh hoa của TXP để sáng tạo nên các tiết mục múa. TXP cũng đã từng được chọn làm đại diện cho văn hóa dân gian xứ Thanh trình diễn ở các sự kiện lớn như Chào Thiên Niên Kỷ Mới, Festival Huế, 1000 năm Thăng Long – Hà Nội và được đông đảo khán giả hâm mộ.

4. CHÈO THỜ LÀNG MƯNG

Làng Mưng tên chữ là Côn Sơn (còn gọi là Côn Minh) nằm ở hữu ngạn sông Lãng Giang (xã Trung Thành, Nông Cống, Thanh Hóa). Ở đây, đền Mưng được coi là trung tâm của hệ thống tín ngưỡng đức thánh lưỡng ngũ vị.

Đức thánh lưỡng ngũ vị là năm cha con Lê Ngọc, tên thật là Lê Cốc, thuộc dòng họ Lê có gốc gác từ đời Tấn Vĩnh Gia (Trung Quốc) sang làm Thái thú quận Cửu Chân dưới thời nhà Tùy. Lê Ngọc lấy vợ người Đô Lương, tức Hoan Châu (Nghệ An), sinh được bốn người con, ba trai một gái và xưng là Mục Phong Hầu. Năm 618, nhà Đường nổi dậy lật đổ nhà Tùy, nhưng Lê Ngọc không chịu khuất phục và đã cùng các con dấy binh, đắp thành để chống lại nhà Đường. Cuối cùng cha con Lê Ngọc bị tiêu diệt, nhân dân ở đây lập đền thờ…

Lễ hội lớn nhất ở làng Mưng là lễ hội kỵ thánh hiệu là Tham Xung Tá Quốc. Ông là con thứ tư của Lê Ngọc, một người tài năng, chiến đấu dũng cảm, cuối cùng hy sinh tại bến bến Đá, sông làng Mưng.

Ở lễ hội này có một loại chèo chỉ để hát thờ trước sân đền. Xưa kia, hội chèo thờ làng Mưng cứ 3 năm mới được diễn ra một khóa, có 18 làng tham gia. Ngày nay, người dân phá lệ nên hàng năm vào ngày kỵ thánh đều có hội chèo thờ, nhưng chỉ còn 8 làng của 2 xã là Trung Thành và Trung Chính.

làng Mưng

Hội làng Mưng

Chính kỵ là ba ngày (từ mùng 5 đến mùng 8.3 âm lịch), nhưng lễ hội đền Mưng đã được chuẩn bị và bắt đầu từ tháng Giêng. Đó là những cuộc hát ghẹo được diễn ra ở hai bờ sông, kéo dài hết đêm này sang đêm khác. “Trên đền trò hát, dưới sông chèo thuyền” là câu nói về những trò diễn chính tiêu biểu của lễ hội đền Mưng.

Hát chèo thờ ở đây có hai loại là hát chèo cạn (diễn ra tại sân đền Mưng) và hát chèo dưới nước (diễn ra trên sông Lãng Giang), mỗi loại đều có cách trình diễn, lời ca, tiết tấu và giai điệu khác nhau.

Hát chèo cạn: Sáng mùng 5.3 âm lịch, sau cuộc đại tế, hát chèo cạn bắt đầu tại sân đền. Dân làng lúc này sẽ đặt một thuyền rồng khung bằng tre đan chính giữa sân, bọc vải đỏ, không có đáy, lấy hướng chính tẩm làm hướng cho đầu thuyền. Sẽ có 12 người phụ nữ mặc áo mớ ba, vấn khăn đỏ, tóc bỏ đuôi gà, yếm đào, váy lĩnh, thắt lưng xanh đứng vào lòng thuyền thành hai hàng dọc theo mạn thuyền, mỗi người cầm một mái chèo, miệng hát tay chèo theo nhịp trống:

 Hàng năm cứ đến tháng ba

Vui chung tế kỵ, dân ta chèo thuyền.

CHÈO CẠN

Hát chèo cạn làng Mưng

Hát chèo thuyền dưới nước: Trong khi đó, dưới bến Đá (sau đền Mưng), năm chiếc thuyền rồng lớn, trang trí nhiều màu sắc rực rỡ, lòng thuyền làm thành nhà có mái che, hai bên mạn thuyền mỗi bên có sáu cửa hoa, mỗi cửa hoa đặt một mái chèo sơn son, phía trong là ghế ngồi của quân bơi… đã đậu sẵn ở bến Đá, tất cả mũi thuyền đều quay về xuôi. Số lượng quân bơi ở mỗi thuyền là 12 cô gái thanh tân, ăn mặc hệt như 12 con hát đang chèo cạn trên sân đình. Thuyền chờ đợi đón thánh trẻ Tham Xung Tá Quốc rước về đền vua Bà (làng Bẩy, xã Tế Tân) thăm chị gái là Trịnh Liệt Tam Giang thần mẫu. Từ bến Đá xuôi theo dòng Lãng Giang đến ngã ba Tam Giang để lên đền vua Bà dài 7 km. Đi trước là hai thuyền khai lộ (mở đường), tiếp sau là một thuyền cụ soạn (thuyền hương án), tiếp đến là một thuyền chính ngự (thánh ngự) và sau cùng là một thuyền chở các thứ lặt vặt nhằm phục vụ “nhu yếu phẩm” cho bốn thuyền đi trước.

Khi nghe hiệu lệnh phát ra từ trên án thờ, các quân bơi bước xuống thuyền, treo nón lên vách, ngồi vào ghế, tay cầm mái chèo son.

chèo nước

Hát chèo thờ trên thuyền

Theo nhịp trống, nhịp sênh, quân bơi tay chèo, miệng hát khoan thai nhịp nhàng. Hát rằng:

Cầu Quan vui lắm ai ơi

Trên thì họp chợ dưới bơi thuyền rồng.

Đôi khi là hát đối đáp giữa quân bơi dưới thuyền với người trên bờ sông:

Thuyền rồng đã đến vực Si

Con gái làng Vặng làm chi ở nhà?

Gái làng Vặng đang xáo cỏ cà

Nghe tiếng thuyền trẩy em ra mừng thuyền.

Những bài hát chèo dưới nước thường rất dài. Các nghệ nhân trình diễn suốt từ lúc xuất phát (từ bến Đá) cho đến đền vua Bà và ngược trở lại.

Chèo thờ làng Mưng có bốn tấn (vở chèo) khá nổi tiếng: Tống Trân Cúc Hoa, Thục Vân, Tuấn Khanh, Lưu Quân Bình.

Nghệ nhân Lê Huy Dược (86 tuổi) cho biết: “Vở diễn như là kể chuyện bằng hành động, không chia màn cắt cảnh. Nhân vật chỉ cần nói một câu hoặc đi một vòng sân khấu là không gian đã chuyển từ nơi này sang nơi khác. Cũng như vậy, người học trò chỉ học vài phút trên sân khấu, qua một câu nói của ông thầy là đã qua ba năm học ở trường”.

Cụ Lê Thị Trản (94 tuổi), một trong những số ít nghệ nhân hát chèo cổ làng Mưng cho biết: “So với chèo nơi khác đệm bằng i để luyến láy cho óng mượt câu hát thì chèo làng Mưng lại dùng a ở mỗi đoạn, mỗi câu. Văn trong kịch sử dụng các thể thơ 6/8, thơ 8 chữ cùng những đoạn văn xuôi đối thoại, nhưng phần lớn là sử dụng thể thơ 4 chữ. Thứ nữa là, chèo làng Mưng mặc dù có sử dụng một số làn điệu chèo đồng bằng Bắc Bộ như nói lối, nói sử, hát cách, nhưng chủ yếu dùng các làn điệu mang sắc thái, âm điệu của dân ca Thanh Hóa như Vãn lên đường, Vãn tuyết sương, Vãn khổng, Hát chú tiếu, Hát than, Đào lý một cành, Đò đưa, Nói nhịp một, Hát lão say…”

5. HÁT KHÚC TĨNH GIA

Hát Khúc Tĩnh Gia là tên gọi của điệu hát ru độc đáo ở vùng biển Lạch Bạng huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa. Theo các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian thì hát khúc Tĩnh Gia có tới vài trăm bài.

Lời ru của Hát Khúc thường là lời kể lể tha thiết: than thân, trách phận hoặc mơ ước tình duyên lứa đôi hạnh phúc mà người ru muốn thông qua những lúc ru em hoặc ru con để gửi gắm lòng mình.

…Hay em muốn lấy anh?

Này vườn anh rộng

Trồng trúc, trúc tốt

Trồng chè, chè cao

Này anh đào ao

Trồng sen thả cá

Dưới anh lát đá

Trên anh xây tường…

(Sưu tầm ở xã Hải Bình)

Ra về én Bắc nhạn Nam

Đôi bên đôi ngả lệ hồng tuôn rơi

Lắng tai nghe tiếng bạn cười

Lòng còn bát ngát

Nghe tiếng bạn hát

Ngước mắt trông lên…

(Sưu tầm ở xã Hải Bình)

Ở nhà anh đã khiến sang

Nghe thầy mẹ nói dở dang nhiều điều

Đôi ta mến yêu

Những điều trung hiếu

Tình kia dan díu

Nhàn án bay qua

Vịt lội Ngân hà

Bây chừ dang dở

Thầy mẹ úp mở

Cho lỡ chiếu giường

Thầy mẹ không thương

Sao ban đầu không nói?

Anh sang anh hỏi,

Mẹ nói rằng: Ừ!

Đi sang cưới chừ

Trăm điều thách lại

Này yếm thêu hoa cả dải

Vòng xuyến dăm đôi

Này khăn nhiễu tàu

Mươi vuông cho đủ

Bỏ quả sơn son

Này rượu cho ngon

Năm bảy vò đầy ắp

Này mười gánh nếp

Thết đãi họ hàng

Nhà anh khó khăn

Lấy đâu đồ sính lễ

Mẹ cha chẳng nghĩ

Em cũng mặc tình

Bỏ lời nguyện ước ba sinh,

Tiếc con rồng vàng bỏ đám mây xanh, ngậm ngùi!

(Sưu tầm ở xã Hải Yến)

Những bài hát ru này, bài ngắn 20 câu, bài dài 43 câu, trung bình 30 câu, cho thấy hát ru Tĩnh Gia có bài bản và lề lối khác các nơi.

Tiết tấu của các bài hát ru ở Thanh Hóa ảnh hưởng bởi nhịp điệu lao động công việc và nhịp sống của người dân xứ Thanh. Trong điệu Hát khúc Tĩnh Gia, thường sử dụng loại tiết nhịp 3 phách tạo nên làn sóng đong đưa phù hợp với nhịp sóng nước vùng biển.

H-LIỆT KÊ THẮNG CẢNH, DI TÍCH, LÀNG NGHỀ, LỄ HỘI VÀ ẨM THỰC

Khu du lịch Sầm Sơn: Bãi biển Sầm Sơn • Lễ hội Sầm Sơn • Đền Độc Cước • Đền Cô Tiên • Hòn Trống Mái • Núi Trường Lệ

Các điểm du lịch biển khác: Bãi biển Hải Hòa • Bãi biển Hải Tiến • Khu du lịch sinh thái Quảng Cư •Cửa biển Thần Phù • Lạch Bạng • Khu du lịch Nghi Sơn • Hòn Mê

Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên: Vườn quốc gia Cúc Phương • Vườn quốc gia Bến En • Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu • Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông • Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên • Khu bảo tồn thiên nhiên rừng sến Tam Quy

Điểm du lịch sinh thái: Suối cá Cẩm Lương • Suối cá Cẩm Liên • Suối cá Văn Nho • Cửa Đặt • Am Tiên • Động Từ Thức • Động Kim Sơn • Động Long Quang • Động Tiên Sơn • Động Ngọc Hoàng • Hang Con Moong • Hang Co Luồng• Núi Nưa • Núi Hàm Rồng • Núi Nhồi • Núi Nấp • Bãi cò Tiến Nông • Rừng Thông Đông Sơn • Khu rừng bảo vệ cảnh quan Đền Bà Triệu • Đèo Tam Điệp

Di tích và di chỉ khảo cổ: Làng Đông Sơn • Núi Đọ • Cồn Chân Tiên • Khu di tích lò gốm Tam Thọ

Di tích lịch sử: Đền thờ Mai An Tiêm • Đền Bà Triệu • Đền thờ Lê Hoàn • Đền thờ Dương Đình Nghệ • Thành Tây Đô • La Thành Tây Đô • Đàn Nam Giao nhà Hồ • Đền Đồng Cổ • Đền thờ Lê Lai • Lam Kinh • Thái miếu nhà Hậu Lê • Phủ Trịnh và Nghè Vẹt • Khu lăng miếu Triệu Tường • Nhà Thờ Trạng Quỳnh • Đền Thờ Lê Văn Hưu • Chiến khu Ba Đình • Chiến khu Ngọc Trạo • Bến phà Ghép • Cụm di tích lịch sử Nam Ngạn • Cầu Hàm Rồng • Cầu Đò Lèn

Di tích tôn giáo, tín ngưỡng: Đền Sòng • Phủ Na • Phủ Sung • Chùa Vồm • Chùa Thanh Hà • Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh

Làng nghề: Làng Nhồi • Chiếu Nga Sơn • Làng đúc đồng Trà Đông • Làng mộc Đạt Tài

Lễ hội văn hóa: Lễ hội Sầm Sơn • Lễ hội Lam Kinh • Lễ hội Mường Xia • Lễ hội Pôồn Pôông • Lễ hội cầu ngư (Hậu Lộc) • Lễ hội đền Sòng • Trò Xuân Phả • Dân ca, dân vũ Đông Anh • Hò sông Mã

Ẩm thực: Nem chua Thanh Hóa • Bánh đa nem Cầu Bố • Bánh gai Tứ Trụ • Bánh răng bừa • Chè lam Phủ Quảng • Mía đen Kim Tân • Dừa Thanh Hóa • Bưởi Luận Văn • Quế Thanh • Rượu Nga Sơn • Gỏi nhệch Nga Sơn • Hến làng Giàng • Nước mắm Du Xuyên

TỔNG KẾT

Thanh Hóa – Địa Linh

Thanh Hóa là một vùng đất cổ có cuộc sống con người cách đây hàng vạn năm, một miền đất có được một thiên nhiên vừa mang những nét chung của Việt Nam – Đông Nam Á, vừa có những nét riêng “rất Thanh Hóa” mà nhiều người nhận xét “địa linh nhân kiệt” (Phan Huy Chú).

Đất thiêng tạo ra những cảnh đẹp như động Hồ Công, hang Từ Thức, Bàn A thập cảnh… còn lưu lại rừng nguyên sinh Cúc Phương và vườn quốc gia bến En; còn dấu vết của người tối cổ như Núi Đọ, hang Con Moong…Cảnh đẹp lại có bàn tay tôn tạo, xây dựng của con người nên đã để lại nhiều di tích lịch sử, di tích văn hóa mà ngày nay hấp dẫn mọi người chẳng những du khách, những nhà nghiên cứu trong nước mà cả khách nước ngoài nữa, ngày càng đông, ngày càng được phát hiện cái hay cái đẹp sâu sắc về thắng cảnh và di tích xứ Thanh. Nơi đây còn ghi lại khá nhiều bút tích của các nhà thơ từ xưa tới nay, như của Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Phùng Khắc Khoan, Ngô Thi Sĩ, Nguyễn Nghiễm, Trịnh Sâm… vẫn còn in trên vách đá, trên bị ký, trong sách vở.

Núi non trùng điệp, làng mạc tre trúc xanh um, cát trắng, sông sâu, thông rì rào, nhạc khúc triền miên không dứt… như hòa quyện lấy cả đất trời. Thiên nhiên đã tạo nên trên mãnh đất này, những tính cách khác thường. Con người khảng khái, vô tư, hiểm nguy không lùi bước, song cũng vì lẽ đó mà giàu lòng nhân hậu, thủy chung, và tất cả đều hòa tấu vào bản nhạc của cảnh vật thiên nhiên bất tận…

Trên lưng chừng Núi Đọ “Bàn Chân tiên” khổng lồ in trên đá như vẫn còn đậm trong truyền thuyết. Dưới phần núi một “Cồn Chân tiên” vẫn còn bao dấu vết… Huyền thoại và hiện thực cứ đan xen nhau như muốn đưa con người vào cõi mộng! Một “Ngã Ba Bông” nơi sông Mã chia hai nhánh để tỏa ra các huyện mộn về Hoằng Hóa để đổ ra Lạch Hới, một về Hà Trung để đổ ra Lạch Trường cũng tạo nên cảnh đẹp kỳ thú lạ lùng.

Ra đây anh hát với nàng

Hát lên năm huyện, mười làng cùng nghe.

Và còn biết bao đền đài, miếu mạo, lăng tẩm, thành quách uy nghi “Thành Tư Phố” có từ năm 111 trước Công Nguyên, vào thời triều đại Nguyễn Dĩnh thứ 6. Đời Hán vũ đế dã từng vang bóng một thời. Nhiều địa danh còn đó: “Vườn hoa”, “Cột cờ”, “Bãi Bia”, “Kênh Hồng Ngục”, “Vũng Tàu Voi” vẫn như nhắc về dĩ vãng. “Lam Kinh”, “Tấm bia chùa Linh Xứng”, vẫn còn đây di tích “Lam Kinh” đã mờ phai theo gió bụi thời gian, nhưng vẫn còn những lăng mộ, những con rồng và “Bia Vĩnh Lăng” trầm mặc, uy nghi, lặng lẽ…Một đôi rồng đá còn sót lại giữa đồng lúa mênh mông, nằm chầu hai bên đường… như một chứng tích cho sự kỳ vĩ của “thành đá nhà Hồ” thuở trước! “Hòn Vọng Phu” khắc khoải chờ mong! Núi Bàn A u hoài “Thập cảnh!” Sức tưởng tượng của con người đối với thiên nhiên kỳ thú đã tạo nên những vẻ đẹp mê hồn! Một nàng Tiên nữ giáng trần với “Động Tiên Từ Thúc” Một nàng Liễu hạnh Công chúa với “Phố Cát”, “Đền Sòng”, nổi tiếng linh thiêng vào bậc nhất xứ Thanh! Một câu chuyện về Hồ Công từ vạn dặm cũng hòa nhập vào con người xứ sở nơi đây để thành một động tiên mà “Chữ thần”, “Búa quỷ”, dựng lên muôn ngàn “dãy núi” (thơ Lê Thánh Tông).

Từ bắc đến địa đầu Thanh Hóa, ta lại gặp ngay đồi núi trập trùng, khiến du khách tới đây đã phải: Khen cho tạo hóa khéo “tạo cảnh cheo leo”: “Một đèo, một đèo, lại một đèo” (Hồ Xuân Hương) để rồi qua Đền Cô Chín thiêng liêng, nơi có chín giếng, nhiều dòng trôi xuôi lững lờ khe suối…Dặm trường gió bụi… ta lại gặp ngay một giáo phái chỉ riêng xứ Thanh mới có: “Nội đạo Tràng” mà dấu vết vẫn còn lại ở làng Yên Đông (Quảng Xương) với “phép Nội”, “phép Đông” phổ biến trong xứ trước kia. Và cả dấu vết của đạo tu tiên, luyện đan trường thọ vẫn còn lưu truyền ở nơi từng là các “Đao quán”, “Am tiên” trên các núi miền Nông Cống, Vĩnh Lộc…Men theo miền biển cả mênh mông, người dân ở đây đã tiếp nhận đạo Ki Tô Thiên Chúa giáo với những trung tâm giáo hội nổi bật cách đây hơn 400 năm về trước cố đạo Alexandre de Rhodes – Một trong những người sáng lập ra chữ quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam, đã dừng chân lập ra xứ đạo này. Và còn biết bao những di tích, những cảnh cũng có mặt nơi đây: Đền Độc Cước – thờ người dũng sĩ cứu nạn cho dân chài cùng các đền thờ các bà mẹ thiêng liêng, các thần linh dân đã biểu hiện một tâm linh hướng về nguồn gốc…Núi Chí Linh gió quyện, mây bay. Điện Lam Kinh rêu phong mờ phủ. Thành Nhà Hồ thấp thoáng ánh trăng. Ngã Ba Bông nước chảy xuôi dòng… Lòng người vẫn gửi gắm một nỗi niềm tâm sự vào kỳ vãng xa xưa,…

Thế sự vẫn xoay với biết bao vật đổi sao dời…, nhưng vẫn vang vọng đâu đây tiếng chuông chùa Sùng Nghiêm, Đại Khánh… tiếng chuông đổ hồi của các xứ “đạo ngân nga”…

Viết xong lần đầu tại Los Gatos ngày 26 tháng 11 năm 2012

Viết thêm Dân Ca Dân Vũ tại San Francisco ngày 6 tháng 3 năm 2018

tam

BÙI DUY TÂM

(Đọc và chép từ nhiều nguồn và nhiều tác giả)

Những chuyến về thăm… Quê Cha

Khoảng thời gian 1943-1944 khi tôi mới lên 9 lên 10, gia đình tôi có nhà ở phố Nam Định, Cổng Hậu TP. Thanh Hóa, nằm giữa khu quân đội Nhật chiếm đóng. Có một người lính Nhật gốc Nam Kỳ, tên là Kỳ, vẫn thường sang nhà tôi chơi. Một lần anh Kỳ có công vụ phải đi Bái Thượng gần Bái Đô, quê cha tôi. Mẹ tôi xin anh cho tôi đi theo vì anh em chúng tôi chưa ai được về thăm quê Nội. Thế là tôi hớn hở nhảy lên xe cam nhông nhà binh Nhật về Bái Đô Bái Thượng.

Hơn ½ thế kỷ sau, năm 1996 từ Mỹ trở về VN thăm gia đình, tôi đưa vợ các em Bình Minh, Duy Tuấn, Duy Tân bằng xe của tài xế Thọ đi Bái Đô thăm chị Nga, con gái cô Hai Sâm, chị ruột cha tôi

96th04

Rồi tiện đường di thăm đập Bái Thượng

96th03

Lam Kinh

06th08

96th10

96th09

Lăng vua Lê Thái Tổ

96th12

96th11

Bia Vĩnh Lăng

96th06

Cung điện nguy nga ngày xưa nay chỉ còn trơ “nền cũ lâu đài bóng tịch dương

96th07

Thành nhà Hồ với đôi rồng đá

98th23 98th25 98th24

Chiếc xe ô tô trắng của tài xế Thọ đã đưa chúng tôi đi khắp nẻo quê hương

98th26

Đền Bà Triệu

96th01

96th02

Cầu Hàm Rồng (bắc từ núi Ngọc sang núi Hàm Rồng qua sông Mã) nằm sau đền Bà Triệu. Hồi chiến tranh chống Mỹ, biết bao phi công và phi cơ Mỹ tan xác trong các cuộc không tập xuống cây cầu đã gẫy, đã sửa, lại gẫy, lại sửa… nhiều lần, tổn bao sinh mạng

Cầu Hàm Rồng nhỏ

Bãi Cổ Đông Sơn bên bờ sông Mã

98th22

Tượng đài Lê Lợi với Bảo Tàng Trống Đồng Đông Sơn, TP.Thanh Hóa

Tượng đài Lê Lợi nhỏ

tiống đòng nhỏ 01 trống đồng nhỏ 02

Động Bích Đào (huyện Nga Sơn) với tích Từ Thức-Giáng Hương

(hình mẹ con chúng tôi với tài xế Thọ)

96th17

96th19 96th20

Ngã ba Bông (sông Mã gặp sông Chu)

Ba Bông nhỏ

Hòn Vọng Phu trên núi Nhồi (thuộc làng Nhồi)

Vọng Phu 01 nhỏ

Vọng Phu nhỏ 02

Cầu Đò Lèn ( huyện Nga Sơn, bắc qua sông Lèn, chảy ra cửa Thần Phù), nơi xưa cha đã bị cọp đuổi trên đường từ Hà Nội về Sầm Sơn, Thanh Hóa thăm mẹ con chúng tôi

Cầu Đò Lèn nhỏ

Ra thăm lại Sầm Sơn, nơi mẹ con chúng tôi có rất nhiều kỷ niệm (1944-1945)

Sầm Sơn vui thú biết bao, Lòng ta khao khát ước ao

96th13

Từ đền Độc Cước nhìn xưống bãi biển Sầm Sơn

96th14

Hòn Trống Mái

96th15

Bãi biển Kho Vàng

96th16

Tết năm 1998 vợ chồng tôi về thăm mẹ và các em, luôn dịp đi qua đèo Tam Điệp thăm

ĐỀN SÒNG SƠN Đêh Sòng Sơn nhỏ

ĐỀN QUÁN CHÁO Đền Quán Cháo nhỏ 01

Đền Quán Cháo nhỏ 02

Năm 2003 vọ chồng tôi từ Mỹ về làm lễ mừng mẹ Cửu Tuần Đại Thọ và tìm cách thông công với cha tôi qua các nhà ngoại cảm

Cô Phương (cầu Hàm Rồng, Thanh Hóa) gọi tên trúng phóc

03th28

Cô Sánh (cầu Hàm Rồng, Thanh Hóa) nói tuổi mọi người đúng 100%

09th35(côSánh,cầuHàmRồng)

Cô Hoa (Nghi Sơn, Thanh Hóa) rút tờ giấy không chữ, đọc Thơ vần làu làu, khá đúng

09th34(coHoa,NghiSon)

Rồi trở lại Sầm Sơn đi thăm Rừng Thông

03th29

Rừng Thông nhỏ

Tiện đường mẹ con chúng tôi ghé thăm nhà thơ Hữu Loan (huyện lỵ Nga Sơn)

03th30

Hữu Loan 02 nhỏ Hữu Loan 01 nhỏ

Và thày Nguyễn Thế Kỷ, giáo viên lớp ba trường Alexandre de Rhodes cũng là Bày Trưởng sói con của tôi tại TP.Thanh Hóa (phố Nhà Chung Rue de Mission)

Thày Kỷ nhỏ

Năm 2006 nhà hải dương học Hoàng Xuân Nhuận dẫn anh em (Bình Minh, Duy Tuấn) bạn bè (Kiều Oanh, Lê Thanh,.) chúng tôi đi thăm cảng nước sâu Nghi Sơn, Thanh Hóa

Chuyến đi Cảng Nước sâu nghi Sơn 2006 nhỏ

06th31

06th32

06th33

Chuyến đi Cảng nước Sâu Nghi Sơn 2006 01 nhỏ

Năm 2010 sau lễ bế mạc “Ngàn Năm Thăng Long” tôi lên đường đi Thanh Hóa bằng xe ca giường mềm sáng ngày 11/10/2010. Chuyến đi này do GS. Đào Văn Long giới thiệu với Bí Thư Thành Ủy (anh Lợi). Giám Đốc Sở Văn Hóa Du Lịch và Thể Thao (anh Trung) chỉ đạo cho anh Điệp (người hướng dẫn) tổ chức một chuyến đi thật bài bản

Giường mềm Anh Lợi & anh Điệp OK

Bí Thư Tỉnh Ủy Thanh Hóa cấp xe ô tô và tài xế để đi luôn và Mục tiêu đầu tiên là nhà thờ Ba Làng (thuộc huyện Tĩnh Gia)

Nhà thờ Ba Làng (ngay trước mặt là bãi biển) là nơi LM Đắc Lộc Alexandre de Rhodes đã đến giảng đạo năm 1627

BA LÀNG 01

Ba Làng 03

Không một bóng người trong và ngoài nhà thờ khi tôi đến

Ba Làng 02

Ba Làng 04

Lạch Bạng

Lạch Bạng

Đền Lạch Bạng

Đền Lạch Bạng 03

Đền Lạch Bạng 02

Lạng Bạch 01

Học sinh Lạch Bạng phải mang ghế tới trường (vì trường mất nhiều ghế quá)

Chùa Tứ Nương

Chùa Tứ Nương

Chùa Đót Tiên Đền Quang Trung

Chùa Đót Tiên Đền Quang Trung

Tuy trời đã chạng vạng tối, HDV tranh thủ đưa tôi thăm thêm các địa danh quanh vùng

THÁI MIẾU NHÀ LÊ

Thái Miếu Nhà Lê nhỏ

Thái Miếu Nhà Lê 02 nhỏ

BẢO TỒN CỔ VẬT HOÀNG LONG

Bảo Tàng Cổ Vật Hoàng Long 01

Bảo Tàng Cổ Vật Hoàng Long 02

Sáng hôm sau 12/10/ 2010 tiếp tục đi thăm

Đền Thờ nhà sử học LÊ VĂN HƯU (xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa)

Đền Thờ nhà sử học Lê Văn Hưu A Lê Văn Hưu to

Nơi đây khôi phục công nghệ đúc trống đồng và thâu góp các thanh gỗ viên dá cổ để tái tạo các ngôi đền cổ

Công Nghệ Đuc Đồng Xây Đền Cổ nhỏ

ĐỀN ĐỒNG CỔ (đương có kế hoạch tái tạo)

Đền Đồng Cổ 02

Đền Đồng Cổ 03

Đền Đồng Cổ 04 nhỏ

HANG CON MOONG

Khai quật từ năm 1974, tìm thấy cốt động vật như tê giác, hươu, voi (khoảng 6 ngàn năm), không có hóa thạch (phải hàng trăm triệu năm). Các lớp đào được từ dưới lên trên: Văn Hóa Sơn Vi (Phú Thọ): Hậu Kỳ Đá Cũ, Văn Hóa Hòa Bình: Đá Mới, Văn Hóa Bắc Sơn:Hậu Kỳ Đá Mới. Trước Con Moong (con thú) là Đá Cũ ở Núi Đọ chỉ có công cụ, không tìm thấy cốt người. Khi biển thoái hóa lùi xuống thấp, dân cư rời hang động xuống đồng bằng, sinh ra: Văn Hóa Đa Bút (huyện Vĩnh Lộc) và Văn Hóa Đông Sơn (khai quật từ năm 1924).

Hang Con Moong 01

Hang Con Moong 02

Hang Con Moong 03

DI TÍCH ĐÀN TẾ NAM GIAO (cách thành nhà Hồ 2km5)

Di Tích đàn tế Nam Giao (thành nhà Hồ) 01

Di Tích đàn tế Nam Giao (thành nhà Hồ) 02

Mộ CỐNG SINH & Đền Thờ nàng BÌNH KHƯƠNG (cửa Đông thành nhà Hồ)

Cống Sinh Bình Khương 02

Cống Sinh Bình Khương 01

Ly Cung nhà Hồ (huyện Hà Trung, quốc lộ 1A)

thờ 3 vua, nơi cư trú phát tích nhà Hồ

Hồ 01

Hồ 02

Hồ 03

Làng Gia Miêu (huyện Hà Trung)

nơi phát tích 9 Chúa 13 Vua nhà Nguyễn

Gia Miêu nhỏ nhỏ

Đền Triệu Tường thờ Nguyễn Văn Lựu là cha Nguyễn Kim (Cam)

Triệu Tường

Phủ Chúa Trịnh (huyện Vĩnh Lộc)

Trịnh

Chúa Trịnh 01

Chúa  Trịnh 02

Chua Trịnh 03

Chúa Trịnh 04

Chúa Trịnh 05

Chúa Trịnh 06

Đền thờ Quốc Công Lê Thân

Đền Thờ Lê Thân nhỏ

Đền thờ Khai Quốc Công Thần Lê Lôi

Ngày 13/10/2010, tôi trở lại Lam Kinh thăm các công trình mới. Kế hoạch xây 9 tòa Thái Miếu bằng gạch vồ Bát Tràng dày 10 phân (lúc đó đã hoàn thành được 5 tòa).

Lam Kimh 01 nhỏ

Lam Kinh 02 nhỏ

Lam Kinh 03 nhỏ

Đền thờ vua Lê Hoàn tại làng Xuân Hợp, huyện Thọ Xuân là nơi phát tích nhà Tiền Lê

Lê Hoàn 01

Hai bên tượng vua Lê Đại Hành là tượng cha mẹ và bên cạnh là tượng Dương Vân Nga

Lê Hoàn 02 nhỏ

Lê Hoàn 03

Bà Triệu cùng anh là Triệu Quốc Đạt khởi binh chống Đông Ngô

trên dãy Ngàn Nưa

Am Tiên 01 nhỏ

Di tích đền Am Tiên trên đỉnh cao nhất của dãy Ngàn Nưa

Am Tiên 02

Đường Ông Huỳnh qua rừng chàm, rừng keo lên bãi tập của nghĩa quân Bà Triệu

Am Tiên 03 nhỏ

Bà Triệu mặc áo giáp vàng cỡi voi lâm trận nhiều phen làm quân Ngô khiếp đảm. Sau bị Lục Dận dùng vàng bạc mua chuộc các thủ lãnh địa phương gây chia rẽ. Thế yếu Bà phải rút về căn cứ núi Tùng và hy sinh cùng với 3 nghĩa sĩ anh em họ L‎ý‎. Lăng mộ của Bà trên đỉnh núi Tùng. Dưới chân núi, cách đỉnh 300 bậc có mộ 3 tướng quân anh em họ Lý

Bà Triệu Mộ trên núi Tùng

Đền Mẫu Liễu Hạnh (Phố Cát)

Đền Mẫu Liễu Hạnh nhỏ 01

Đên Mẫu 02 nhỏ

Vọng Ngư Lâu (suối cá thần)

Đền Mẫu 03 nhỏ

SUỐI CÁ LƯƠNG NGỌC (xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy)

Suối cá thần 01 nhỏ

Suối cá 02 nhỏ

Đền LÝ THƯỜNG KIỆT (Hà Ngọc, Hà Trung)

Đền LTK nhỏ

Chùa LINH XỨNG (sau đền Lý Thường Kiệt)

Chùa Linh Xứng nhỏ

Tháng 7 năm 2013 sau Lễ Vinh Danh tổ chức tại Dinh Độc Lập chúng tôi bay ra Hà Nội. Anh Hoàng Văn Chánh cho xe và người hướng dẫn chúng tôi đi chơi vùng Thanh Nghệ. Từ lâu nghe nói nhiều về Cửa Thần Phù:“Lênh đênh qua cửa Thần Phù, Khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm”nên háo hức đến xem cho biết, Xưa kia nơi đó luôn sóng to gió lớn rất nguy hiểm cho thuyền bè qua lại. Cũng vì thế đất bồi khá nhanh đến bây giờ biển xanh đã thành ruộng dâu. Cửa Thần Phù nay chỉ còn là một con lạch nhỏ (sông Hoạt) giữa các đảo cạn thành núi đồi với vách núi Thạch Bi có khắc chữ THẦN mỗi chiều 3 m, cách mặt đất 20 m, lác đác đó đây chùa Hàn Sơn, Chùa Tiên (với tích Từ Thức gặp Giáng Hương), đền An Tiêm (với tích quả dưa đỏ trên hoang đảo)

Cửa Thần Phù ngày nay

Cửa Thần Phù nhỏ

Đền An Tiêm

Đền An Tiêm nhỏ Tượng đài An Tiêm nhỏ

Chùa Hàn Sơn

Chùa Hàn Sơn nhỏ

Chùa Tiên

Chùa Tiên nhỏ

Tối hôm đó chúng tôi được bềnh bồng trên thuyền thưởng thức các món Gỏi Cá Nhệch và Dê Núi Ủ Trấu ăn với lá mơ lông

Dê Cá nhỏ

Ngày hôm sau chúng tôi tiếp tục tham quan núi Vồm với sự tích ông Vồm quảy núi, núi Đọ với di tích sơ kỳ Đồ Đá Cũ và kết thúc chuyến đi kỳ thú này bằng du thuyền trên hồ Vườn Quốc Gia Bến En

Núi Vồm

Ông Vồm nhỏ

Núi Đọ

Núi Đọ

Vườn Quốc Gia Bến En

Bến En nhỏ

Ẩm Thực là đệ nhất khoái nên tôi xin kể thêm vài đặc sản Thanh Hóa

để làm Happy End

Chim Mía & Nem (đặc sản của thị xã Thọ Xuân)

Ẩm Thực chim nhỏ

Thịt Trâu Lá Lồm

Ảm Thực Trâu nhỏ

Bánh Cuốn Sầm Sơn

Ẩm Thực Bánh cuốn

Mục lục

Xứ Thanh…cậy thế

A- Xứ Thanh cậy thế 1

B- Danh Hiệu qua lịch sử 2

C- Địa lý và Hành Chính 3

D- Thanh Hóa với nền Văn Minh Cổ Việt Nam 4

E-Thanh Hóa đất của Vua Chúa 22

I. Bà Triệu 22

II. Dương Đình Nghệ 24

III. Ngô Quyền 27

IV.Lê Hoàn 33

V. Hồ Qu‎ý Ly và nước Đại Ngu 43

VI. Lê Lợi và nhà Hậu Lê 54

VII. Nguyễn Kim 69

VIII.Trịnh Kiểm và sự nghiệp Chúa Trịnh 72

IX. Các Chúa Nguyễn 85

X. Mười ba Vua nhà Nguyễn 92

F- Con Người Thanh Hóa 118

G- Dân Ca Dân Vũ Thanh Hóa 134

H- Liệt kê các thắng cảnh, di tích, làng nghề, lễ hội, ẩm thực 173

Những chuyến về thăm…Quê Cha

1943 178

1996 178

1998 189

2003 190

2006 193

2010 195

2013 218

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *